1 Hà Nội- 2011 1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
Chƣơng 1 – TỔNG QUAN 9
1.1. Asen (As) 9
1.1.1. Nguyên tố asen và các dạng tồn tại của asen trong tự nhiên 9
1.1.2. Độc tính của asen và sự tích lũy trong cơ thể người 10
1.1.3. Ô nhiễm asen trong nước ngầm trên thế giới và Việt Nam 12
1.2. Các phƣơng pháp phân tích asen 17
1.2.1. Xác định asen bằng phương pháp bạc đietyl đithiocacbamat 17
1.2.2. Phương pháp khối phổ plasma cảm ứng cao tần (ICP-MS) 17
1.2.3. Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) 18
1.2.4. Phương pháp thuỷ ngân bromua 20
1.3. Mangan (Mn) 20
1.3.1. Dạng tồn tại của mangan trong tự nhiên 20
1.3.2. Một số tính chất cơ bản của mangan 21
1.3.3. Độc tính của mangan 25
1.3.4. Dạng phát thải của mangan vào môi trường 25
1.3.5. Vai trò của mangan 25
2.4.1. Nguyên tắc phân tích 44
2.4.2. Quy trình phân tích 44
2.4.3. Xây dựng đường chuẩn 45
2.5. Xác định mangan bằng phƣơng pháp trắc quang 47
2.5.1 Nguyên tắc phân tích 47
2.5.2. Quy trình phân tích 47
2.5.3. Xây dựng đường chuẩn 47
2.6. Nghiên cứu khả năng hấp phụ của các vật liệu đối với các ion As và
Mn trong dung dịch 49
2.6.1. Khảo sát khả năng hấp phụ asen của vật liệu 49
2.6.2. Khảo sát khả năng hấp phụ magan của vật liệu 49
2.6.3. Khảo sát thời gian đạt cân bằng hấp phụ 49
2.6.4. Xác định tải trọng hấp phụ cực đại của vật liệu hấp phụ 50
2.6.5. Khảo sát khả năng hấp phụ As, Mn bằng phương pháp hấp phụ
động trên cột 50
Chƣơng III - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 51
3.1. Thành phần cấu trúc xỉ pyrit ban đầu 51
3.2. Khảo sát đánh giá hàm lƣợng asen và mangan trong mẫu xỉ 51
3
3.3. Khảo sát đánh giá hàm lƣợng Mn, As trong nƣớc đọng và nƣớc chảy
ra từ bãi xỉ 53
3.4. Quy trình hoạt hoá 55
3.5. Nghiên cứu cấu trúc của vật liệu 58
3.5.1. Nghiên cứu cấu trúc bề mặt vật liệu (SEM) 58
3.5.2. Dạng thù hình của vật liệu 62
3.6. Nghiên cứu khả năng hấp phụ của vật liệu 63
3.6.1. Kiểm tra vật liệu còn chứa As và Mn không 63
3.6.2. Đánh giá sơ bộ khả năng hấp phụ As của các vật liệu 63
3.6.3. Khảo sát thời gian cân bằng hấp phụ asen của vật liệu 63
10
Bảng 1.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến chiều dài vùng chuyển khối và cách
làm hạn chế các hiệu ứng của chúng
33
Bảng 2.1. Đường chuẩn xác định asen ở vùng nồng độ thấp
42
Bảng 2.2: Đường chuẩn xác định asen ở vùng nồng độ cao
43
Bảng 2.3. Số liệu pha dãy dung dịch chuẩn Mn
2+
từ dung dịch chuẩn có
nồng độ 100mg/l
44
Bảng 2.4. Dữ liệu xây dựng đường chuẩn của mangan
45
Bảng 3.1. Hàm lượng Mn trong mẫu xỉ pyrit
48
Bảng 3.2. Hàm lượng As trong mẫu xỉ pyrit
49
Bảng 3.3. Kết quả phân tích asen tại nguồn phát thải
50
70 5
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Ảnh hưởng của pH đến dạng tồn tại của Asen
6
Hình 1.2. Đồ thị ảnh hưởng của pH/E
h
đến dạng tồn tại của asen
7
Hình 1.3. Bệnh ung thư da do asen gây ra
8
Hình 1.4. Bản đồ phân bố khu vực ô nhiễm asen trên thế giới
10
Hình 1.5. Ô nhiễm asen tại Việt Nam
Hình 2.1. Hình ảnh bãi xỉ pyrit
40
Hình 2.2. Sơ đồ bộ dụng cụ phân tích asen theo phương pháp HgBr
242
Hình 2.3. Đường chuẩn xác định asen từ 10-80 ppb
43
Hình 2.4. Đường chuẩn xác định asen từ 100-900 ppb
43
Hình 2.5. Đồ thị đường chuẩn phân tích Mn
2+45
Hình 2.6. Thiết bị hấp phụ
47
Hình 3.1. Dạng thù hình của vật liệu đầu
48
Hình 3.2. Biểu đồ biểu diễn hàm lượng mangan trong mẫu xỉ pyrit
49
Hình 3.3. Biểu đồ biểu diễn hàm lượng As trong mẫu xỉ pyrit
49
58
Hình 3.14. Hình ảnh bề mặt vật liệu của vật liệu M2
58
Hình 3.15. Dạng thù hình của vật liệu M1
59
Hình 3.16. Dạng thù hình của vật liệu M2
59
Hình 3.17. Sự phụ thuộc của nồng độ hấp phụ vào thời gian
61
Hình 3.18. Đồ thị hiệu suất hấp phụ asen theo thời gian
62
Hinh 3.19. Đồ thị hiệu suất asen theo thời gian
62
Hình 3.20. Đường cong hấp phụ asen của vật liệu M1
64
Hình 3.21. Đường xác định tải trọng asen của vật liệu M1
64
Hình 3.22. Sự phụ thuộc asen đầu ra vào thể tích dung dịch qua cột
66
Hình 3.23. Sự phụ thuộc của nồng độ As vào thời gian
7
MỞ ĐẦU
Trong những thập kỷ gần đây tình trạng ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn
đề nóng bỏng được nhiều người, nhiều tổ chức, nhiều quốc gia quan tâm. Chính vì
thế việc bảo vệ sự trong sạch của môi trường sống trên trái đất là nhiệm vụ đặt ra
hàng đầu đối với nhân loại.
Đối với mỗi quốc gia, việc phát triển kinh tế không được tách rời việc bảo vệ
môi trường sống. Nếu chỉ tập trung khai thác, sử dụng nguồn nguyên liệu tự nhiên
cho sự phát triển kinh tế và đời sống xã hội sẽ gây ra sự mất cân bằng sinh thái, cạn
kiệt tài nguyên, bệnh tật, lũ lụt, hạn hán, phá huỷ môi trường sống. Về lâu dài chi
phí để khắc phục hậu quả của ô nhiễm môi trường sẽ lớn hơn lợi ích kinh tế mà
chúng đem lại.
Sự phát triển kinh tế xã hội gắn liền với sự phát triển công nghiệp. Tuy
nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp cùng quá trình đô thị
hoá thì nguồn nước ngày càng bị nhiễm bẩn bởi các loại chất thải khác nhau. Nước
thải từ các nguồn sinh hoạt, dịch vụ, chế biến thực phẩm và công nghiệp có chứa
nhiều chất ô nhiễm, bao gồm các chất ô nhiễm dạng hữu cơ, vô cơ, vi sinh khi đi
vào nguồn nước sẽ gây ô nhiễm nước.
Kiểm soát các nguồn nước thải là công việc hết sức cần thiết nhằm giảm
thiểu ô nhiễm do nước thải. Đặc biệt là các kim loại nặng như asen và mangan cần
phải được kiểm soát chặt chẽ ở ngay tại nơi phát sinh nước thải hoặc trước khi thải
vào nguồn tiếp nhận. Hàm lượng vượt quá mức cho phép của các kim loại này trong
thành phần xỉ thải pyrit của nhà máy Supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao là một
tác nhân gây ô mhiễm môi trường nghiêm trọng. Do đó việc xử lý các kim loại nặng
asen và mangan trong nước thải là rất quan trọng.
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về asen và mangan và các
phương pháp xử lý chúng trong môi trường, như phương pháp kết tủa, phương pháp
thẩm thấu ngược hay phương pháp điện thẩm tách. Các phương pháp này thường là
khá tốn kém hoặc gây ra một lượng bùn thải lớn. Những năm gần đây, phương pháp
9
Chƣơng 1 – TỔNG QUAN
1.1. Asen (As)
1.1.1. Nguyên tố asen và các dạng tồn tại của asen trong tự nhiên
Asen (ký hiệu As) có số nguyên tử là 33, là nguyên tố phổ biến thứ 12 trong
vỏ trái đất chiếm 1.10
-4
% tổng số nguyên tử trong vỏ trái đất, khối lượng nguyên tử
của nó bằng 74,92; tồn tại chủ yếu ở dạng asen 3 và 5. Asen có trong các khoáng
vật sunfua: reanga (As
4
S
4
), oripimen (As
2
S
3
). Nguyên tố asen có một vài dạng thù
hình, dạng kim loại và dạng không kim loại. Dạng không kim loại của asen được
tạo nên khi làm ngưng tụ hơi của nó, khi đó asen có màu vàng, dạng kim loại của
asen có màu trắng bạc [1].
Tùy theo từng điều kiện môi trường mà asen có thể tồn tại ở nhiều trạng thái
oxi hóa khác nhau: -3, 0, +3,+5. Trong nước tự nhiên, asen tồn tại chủ yếu ở 2 dạng
hợp chất vô cơ là asenat [As(V)], asenit [As(III)]. As(V) là dạng tồn tại chủ yếu của
asen trong nước bề mặt và As(III) là dạng chủ yếu của asen trong nước ngầm. Dạng
As(V) hay các arsenate gồm AsO
4
3-
, HAsO
dạng hợp chất hữu cơ như: metylasonic, đimetylasinic. Các dạng tồn tại của asen
trong nước phụ thuộc vào pH và thế oxi hoá khử E
h
của môi trường. Ảnh hưởng của
pH như trên hình 1.1 và hình 1.2 [23]. Hình 1.1: Ảnh hưởng của pH đến dạng tồn tại của asen
Thế ôxi hóa khử và pH là các yếu tố quyết định đến dạng tồn tại của asen
trong môi trường. Ở điều kiện ôxi hóa, và pH thấp (nhỏ hơn 6,9) dạng H
2
AsO
4
-10
chiếm đa số, trong khi ở pH cao HAsO
4
2-
lại chiếm ưu thế (H
3
AsO
4
0
và AsO
4
3-
chỉ
có thể tồn tại trong môi trường axit mạnh hoặc bazơ mạnh). Dưới điều kiện khử và
): có tính chất tương tự như PO
4
3-
, nó sẽ
thực hiện phản ứng thay thế PO
4
3-
gây ức chế enzym ngăn cản tạo ra chất ATP
(Adenozin triphotohat) là chất sản sinh ra năng lượng cho cơ thể. Khi bị nhiễm
11
AsO
4
-
sẽ tham gia phản ứng thế PO
4
3-
, tạo ra sản phẩm không phải là ATP, nên
không sản sinh ra năng lượng cho cơ thể [4].
Tóm lại, tác dụng độc của asen là do nó làm đông tụ protein, tác dụng với
nhóm chức hoạt động –SH của enzym làm cho enzym bị thụ động hóa, mất hẳn khả
năng hoạt động sinh hóa của enzym, phá hủy quá trình photphat tạo ATP.
Asen được xem như là chất gây ung thư đối với con người nhưng khả năng
gây ung thư phụ thuộc vào các dạng hóa học của asen như trạng thái oxi hóa. Một tỷ
lệ nhỏ asen sau khi đi vào cơ thể sẽ được tích tụ trong các phần của cơ thể và sau đó
sẽ được bài tiết ra ngoài qua tóc, móng, da, phân và mồ hôi. Sự tích lũy asen trong
cơ thể sau 5 – 10 năm sẽ gây ra bệnh về asen [22]. Các bệnh thường gặp khi bị
nhiễm độc asen là ung thư da, bàng quang và ung thư phổi và gan Điều này
thường xảy ra ở vùng có sự phơi nhiễm asen hoặc những vùng có hàm lượng asen
cao trong nước uống [12,15].
sông, suối, ao, hồ đang ngày càng bị ô nhiễm nặng bởi nước thải sinh hoạt, nước
thải từ các nhà máy công nghiệp thì việc sử dụng nguồn nước ngầm như là một giải
pháp hữu hiệu cho việc cung cấp nước sạch. Nước ngầm ít chịu ảnh hưởng bởi các
tác động của con người. Chất lượng nước ngầm thường tốt hơn chất lượng nước bề
mặt. Trong nước ngầm, hầu như không có các hạt keo hay cặn lơ lửng, các chỉ tiêu
vi sinh trong nước ngầm cũng tốt hơn. Tuy nhiên, khi khai thác nguồn nước ngầm,
chúng ta phải đối mặt với một vấn đề rất đáng lo ngại, đó là việc nhiễm độc kim loại
nặng, đặc biệt là asen. Nguồn asen có trong nước ngầm chủ yếu do sự hoà tan các
hợp chất có chứa asen trong đất, đá do quá trình phong hoá, hoạt động núi lửa và
một phần do quá trình sản xuất công, nông nghiệp tạo ra.
13
1.1.3.1.Ô nhiễm asen trên thế giới
Hiện nay trên thế giới có hàng chục triệu người đã bị bệnh chân đen và rụng
móng chân, sừng hoá da, ung thư da… do sử dụng nguồn nước sinh hoạt có nồng độ
asen cao. Nhiều nước đã phát hiện hàm lượng asen rất cao trong nguồn nước sinh
hoạt như Canada, Alaska, Chile, Arhentina, Trung Quốc, India, Thái Lan,
Bangladesh Sự có mặt của asen ở các vùng khác nhau trên thế giới được tổng hợp
trong bảng 1.1 và hình 1.4 [20].
Bảng 1.1 Hàm lượng asen ở các vùng khác nhau trên thế giới Hình 1.4: Bản đồ phân bố khu vực ô nhiễm asen trên thế giới [20]
14
Ở Trung Quốc, trường hợp bệnh nhân nhiễm độc asen đầu tiên được phát
hiện từ năm 1953. Số liệu thống kê cho thấy 88% nhiễm qua thực phẩm, 5% từ
không khí và 7% từ nước uống. Đến năm 1993 mới có 1546 nạn nhân của căn bệnh
asenicosis (bệnh nhiễm độc asen) nhưng cho đến thời điểm này đã phát hiện 13500
bệnh nhân trong số 558000 người được kiểm tra ở 462 làng thuộc 47 vùng bị liệt
cộng đồng. Vùng nước bị nhiễm asen của nước ta khá rộng nên việc cảnh báo
nhiễm độc từ nước giếng khoan cho khoảng 10 triệu dân là rất cần thiết. Những
nghiên cứu gần đây cho thấy vùng châu thổ sông Hồng có nhiều giếng khoan có
hàm lượng asen cao vượt quá tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và vượt
quá tiêu chuẩn Bộ Y tế Việt Nam (0,01mg/l). Những vùng bị ô nhiễm nghiêm trọng
nhất là phía Nam Hà Nội, Hà Nam, Hà Tây, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái
Bình và Hải Dương.
16
Hình 1.6: Ô nhiễm asen tại đồng bằng châu thổ sông Hồng
Ở đồng bằng sông Cửu Long cũng phát hiện ra nhiều giếng khoan có hàm
lượng asen cao nằm ở Đồng Tháp và An Giang. Sự ô nhiễm asen ở miền Bắc hiện
phổ biến và cao hơn ở miền Nam. Qua điều tra cho thấy 1/4 số hộ gia đình sử dụng
trực tiếp nước ngầm không xử lý ở ngoại thành Hà Nội đã bị ô nhiễm asen, tập
trung nhiều ở phía Nam thành phố (20,6%), huyện Thanh Trì (41%) và Gia Lâm
(18.5%). Điều nguy hiểm là asen không gây mùi khó chịu khi có mặt trong nước
ngay cả khi ở hàm lượng gây chết người nên nếu không phân tích mẫu mà chỉ bằng
cảm quan thì không thể phát hiện được sự tồn tại của asen. Bởi vậy các nhà khoa
học còn gọi asen là “sát thủ vô hình’’. Hiện nay có khoảng 13,5% dân số Việt Nam
(10-15 triệu người đang sử dụng nước ăn từ giếng khoan nên rất dễ bị nhiễm asen).
Từ năm 1999, tổ chức UNICEF, một số cơ quan chính phủ Việt nam, các viện
nghiên cứu đã bắt đầu tập trung nghiên cứu một cách nghiêm túc về asen và tìm
hướng giảm nhẹ. Bộ tài nguyên và Môi trường yêu cầu đến cuối năm 2006 phải lập
được bản đồ ô nhiễm asen trong phạm vi cả nước.
17
chất dễ bay hơi: SbH
3
, PH
3
, GeH
3
, H
2
S. Những chất này sau đó cũng tác dụng với
AgDDC cho màu tương tự như asen. Do đó, để hạn chế ta phải cho bay hơi đi qua
ống làm sạch chứa bông thuỷ tinh chứa Pb(CH
3
COO)
2
. Để loại trừ ảnh hưởng của
một số nguyên tố và tăng hiệu quả của quá trình khử thì người ta khử trước dung
dịch bằng cách đưa SnCl
2
và KI vào (KI, SnCl
2
sẽ loại trừ ảnh hưởng của Pb, muối
Ni và làm tăng quá trình khử asen thành asin).
1.2.2. Phương pháp khối phổ plasma cảm ứng cao tần (ICP-MS)
Kỹ thuật phân tích ICP-MS là một trong những kỹ thuật hiện đại và có nhiều
ứng dụng trong thực tiễn, phương pháp này có khả năng phân tích đồng thời nhiều
nguyên tố trong cùng một mẫu. Ngày nay phương pháp này phát triển nhanh và
được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: nông nghiệp, công nghiệp, y
học, dược phẩm, hóa chất, luyện kim…
Phổ phát xạ ICP là phổ của các nguyên tố và ion được kích thích bởi nguồn
năng lượng ICP (Inductively Coupled Plasma) với nhiệt độ plasma đạt từ 6.000 –
1.2.3. Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS)
Phương pháp phân tích theo phổ hấp thụ nguyên tử được sử dụng nhiều trong
phân tích lượng các kim loại ở dạng vết trong các loại mẫu khác nhau của các chất
19
vô cơ và hữu cơ. Trong những năm gần đây, phương pháp AAS được sử dụng để
xác định các kim loại trong các mẫu quặng, đất, đá, nước và mẫu y học, sinh học,
các sản phẩm nông lâm… ở nhiều nước trên thế giới phương pháp phân tích phổ
hấp thụ nguyên tử đã trở thành một phương pháp tiêu chuẩn để định lượng nhiều
kim loại.
Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử dựa trên cơ sở đo phổ hấp thụ
nguyên tử của một nguyên tố. Nếu ta chiếu một chùm tia sáng đơn sắc có năng
lượng thích hợp và có độ dài song trùng với vạch phổ phát xạ đặc trưng của nguyên
tố phân tích thì chúng sẽ hấp thụ các tia sáng đó, sinh ra một loại phổ - gọi là phổ
hấp thụ nguyên tử [9].
A
o
+ n(h) A
*
Khi chùm sáng đơn sắc có cường độ I
o
, được chiếu vào môi trường hấp thụ
có bề dày L cm và chứa N
o
nguyên tử tự do của nguyên tố phân tích, theo Lamber-
Beer thì cường độ vạch phổ sẽ là:
D
= log(I/I
đo cường độ của nó. Cường độ đó chính là tín hiệu hấp thụ của vạch phổ hấp thụ
nguyên tử.
1.2.4. Phương pháp thuỷ ngân bromua
Chuyển hoàn toàn As(V) thành As(III) trong môi trường axit, dùng H mới
sinh để khử asen vô cơ thành asin và dẫn khí asin qua cột ống tác dụng với muối
HgBr
2
tẩm trên giấy lọc tạo thành hợp chất có màu biến đổi từ vàng đến nâu. So
sánh chiều cao cột màu trên giấy ta có thể biết nồng độ asen trong mẫu phân tích.
Trong quá trình khử, hợp chất asen thành asin đồng thời cũng tạo ra các hợp chất dễ
bay hơi: SbH
3
, PH
3
, GeH
3
, H
2
S. Do đó, để hạn chế ta phải cho hơi đi qua ống làm
sạch có chứa giấy tẩm Pb(CH
3
COO)
2
.
Cơ chế: AsO
4
3-
+ 2I
-
+ 2H
3
O
4
) chứa khoảng
72% Mn, priolusit (MnO
2
) chứa khoảng 63% Mn, braunit (Mn
2
O
3
) và manganit
(MnOOH). Mangan cũng được tìm thấy trong các mô động vật và thực vật.
Thành phần của mangan trong một số khoáng:
- Prihomelan: mMnOMnO
2
.nH
2
O có thành phần hoá học không cố định, tỷ
lệ MnO và MnO
2
thay đổi tuỳ theo quá trình oxi hoá, tỷ lệ MnO
2
là 6080%, MnO
là 825%, H
2
O là 460%.
- Manganit: MnO
2
.MnO(OH)
2
của cơ thể.
Tính chất hoá học
Trong không khí ở nhiệt độ thường magan phản ứng với oxi tạo thành một
lớp màng mỏng oxit phủ bề mặt kim loại. Khi đốt nóng, mangan cháy dễ dàng trong
không khí và tạo thành Mn
2
O
3
theo phương trình:
2Mn + 3O
2
2Mn
2
O
3
+ Q
Tính chất hoá học đặc trưng của mangan là tính khử, trong dãy điện hoá
mangan đứng trước hiđro nó dễ hoà tan trong axit loãng cho khí hyđro thoát ra và
tạo thành Mn
2+
Mn + H
2
SO
4
(loãng) MnSO
4
+ H
2
Trong dung dịch mangan có các trạng thái oxi hoá +2, +4, +5, +6, +7; nhưng
bền nhất là +2, +4, +7.
Mangan tạo thành 5 oxit đơn giản.
- MnO, Mn
2
O
3
, MnO
2
, Mn
2
O
7
và một oxít hỗn tạp Mn
3
O
4
hay
(MnO.Mn
2
O
3
)
- MnO, Mn
2
O
3
: có tính bazơ
- MnO: có tính lưỡng tính
- MnO
2
+ 2H
2
O 2Mn(OH)
4
Mn(OH)
2
là hợp chất lưỡng tính yếu chỉ tan trong kiềm mạnh khi đun nóng
Mn(OH)
2
+ 4OH
-
[Mn(OH)
6
]
-4
Khi tạo thành phức, Mn(II) có số phối chí đặc trưng là 6, nguyên tử mangan
ở trạng thái sp
3
d
2
tạo thành phức bát diện. Mn(OH)
2
còn tác dụng với SO
3
, H
2
SO
2+
+ 2H
2
O - 2e MnO
2
+ 4H
+
Mn
2+
bị oxi hoá bởi các chất oxi hoá mạnh như PbO
2
, NaBiO
3
, (NH
4
)
2
S
2
O
8
và KIO
4
tạo thành pemanganat trong môi trường axit H
2
SO
4
, HNO
SO
4
Fe
2
(SO
4
)
3
+ MnSO
4
+ 2H
2
O
MnO
2
là một oxit lưỡng tính yếu:
MnO
2
+ 4HCl MnCl
4
+ 2H
2
O
MnCl
4
không thể tồn tại dạng rắn trừ khi nồng độ HCl cao và dung dịch
được giữ lạnh
MnCl
4
MnCl
2
MnO
4
+ 2H
2
O
Cũng có thể điều chế bằng cách nung chảy MnO
2
và K
3
CO
3
và diêm tiêu
(KNO
3
) sẽ được hỗn hợp màu xanh lá cây trong nước.
MnO
2
+ K
2
CO
3
+ KNO
3
K
2
MnO
4
+ KNO
2
4
+ Cl
2
2KMnO
4
+ 2KCl
Ở nhiệt độ lớn hơn 250
0
C KMnO
4
bị phân huỷ theo phương trình
2KMnO
4
K
2
MnO
4
+ MnO
2
+ O
2
Cũng như tất cả các hợp chất Mn
7+
, KMnO
4
có tính oxi hoá mạnh, nó oxi
hoá nhiều chất hữu cơ, vô cơ chuyển hoá muối Fe
2+
thành Fe
4
HMnO
4
là một axit mạnh như axit pecloric HClO
4
người ta điều chế được
anhyđric-pemanganic bằng cách cho H
2
SO
4
đặc tác dụng với tinh thể KMnO
4
nhiệt
độ 20
0
C. Mn
2
O
7
là chất oxi hoá mạnh, lỏng như dầu, có màu vàng nâu không bền
khi đốt nóng và bị phân huỷ theo phản ứng:
Mn
2
O
7
2MnO
2
+ O
3