1
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN .
I. LÝ LUẬN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG .
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động , nó được tính
bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng
thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm . [2, trang 65]
Năng suất lao động là chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động sống, đặc trưng
bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) và một chỉ tiêu
đầu vào (lao động làm việc). Đây là một chỉ tiêu khá tổng hợp nói lên năng lực
sản xuất của một đơn vị hay cả nền kinh tế - xã hội.
[ , 11/10/2007]
Năng suất lao động xã hội càng tăng , thời gian cần thiết để sản xuất ra
hàng hoá càng giảm , lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít . Ngược lại
năng suất lao động xã hội càng giảm , thời gian cần thiết để sản xuất ra hàng hóa
càng tăng và lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng nhiều .
Có 3 loại năng suất lao động : năng suất cá nhân , năng suất quy trình và
năng suất mô hình . Các doanh nghiệp thường chỉ chú ý đến năng suất cá nhân .
[ , 12/11/2007 , 10:12]
Hiện nay, ở Việt Nam, do sự nghiệp giáo dục phát triển, kiến thức về văn
hoá của người lao động nói chung tương đối khá, truyền thống lao động cần cù,
nên các vấn đề kĩ thuật, công nghệ mới, tổ chức sản xuất, quản lí đổi mới mang ý
nghĩa nổi bật trong quá trình tăng NSLĐ.
[]
2
II. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG .
Năng suất lao động tùy thuộc vào nhiều nhân tố :
• Trình độ khéo léo của người lao động .
•
•
Sự phát triển khoa học kỹ thuật và trình độ ứng dụng tiến bộ khoa học .
Sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất : Trình độ quản lý và phân công lao
cụ, phương tiện dùng để biến các nguồn lực thành sản phẩm. Công nghệ là tổng
thể nói chung các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính
chất, hình dáng nguyên vật liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản
xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh.
Khoa học công nghệ tập trung vào đáp ứng yêu cầu nâng cao năng suất,
chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh, bảo vệ môi
trường và bảo đảm an ninh quốc phòng; coi trọng phát triển và ứng dụng công
nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động
hóa.
Khoa học công nghệ là nguồn lực quan trọng để tăng trưởng và phát triển
kinh tế . Khoa học công nghệ được coi là “ chiếc đũa thần màu nhiệm ” để tăng
năng suất lao động , phát triển lực lượng sản xuất .
Sau cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, rất nhiều thành tựu mới ra đời.
Đặc biệt, việc đưa máy móc vào sản xuất hàng hoá là một bước ngoặt lớn. Rồi
công cụ lao động bằng tay dần dần được thay thế bằng máy móc. Máy móc dần
4
được tự động hoá, các tư liệu lao động cũng thay đổi ngày càng tiên tiến theo
hướng giảm chi phí sản xuất nhưng chất lượng thì ngày càng tốt hơn. Việc cập
nhập và áp dụng khoa học kỹ thuật tiến bộ vào hoạt động sản xuất như việc trang
bị máy móc thiết bị hiện đại phù hợp với lực lượng sản xuất sẽ làm cho năng suất
ngày càng tăng cao.
3. Sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất : Trình độ quản lý và phân công
lao động xã hội .
Một đội ngũ cán bộ biết cách quản lý và tổ chức theo cơ chế thích hợp
như: cách thức kết hợp các bộ phận sản xuất với người lao động, người lao động
với công cụ lao động, sử dụng thời gian lao động phù hợp, tổ chức quá trình
công nghệ, quá trình sản xuất, cách tổ chức và phục vụ tại nơi làm việc Khi
những nhân tố đó hợp lý sẽ làm cho người lao động thoải mái và đồng nghĩa với
đó là năng suất lao động sẽ tăng. Ngược lại, khi người quản lý chưa được rèn
luyện tư duy khoa học một cách nghiêm túc, không có sự hiểu biết rộng rãi về
động , cải thiện nền kinh tế .
5. Các nhân tố khác : Tâm lý , điều kiện tự nhiên…
Trong quá trình làm việc, mục đích của người lao động là sản xuất ra các
sản phẩm để nuôi sống mình và gia đình. Khi người lao động có động lực thúc
đẩy thì công việc họ làm sẽ hiệu quả hơn rất nhiều. Ngoài ra, khi người lao động
6
được tạo cơ hội làm việc mình yêu thích họ sẽ làm hết sức mình. Các nhà quản
lý cần phải nâng cao tinh thần trách nhiệm của người lao động với công việc,
đánh giá đúng mức đóng góp của họ. Bên cạnh đó, các nhà sản xuất nên cho
người lao động tham gia đóng góp ý kiến trong quá trình sản xuất, giúp đỡ họ để
họ phát huy năng lực của mình một cách tối đa. Như vậy người lao động sẽ thấy
được vai trò của mình trong công ty, họ thấy được sự đóng góp của mình, thành
công của công ty.
Ngày nay, môi trường làm việc cũng ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất
của người lao động. Đặc biệt là môi trường làm việc. Khi môi trường xung
quanh an toàn, không bị ô nhiễm thì người lao động có thể an tâm làm việc. Họ
có thể tập trung để sản xuất. Ngoài ra còn một số yếu tố như âm thanh, quần áo
cũng ảnh hưởng tới năng suất của người lao động. Khi họ gặp được những điều
kiện thuận lợi thì họ sẽ làm việc hiệu quả hơn. Năng suất lao động sẽ tăng lên.
Ngựơc lại, trong những điều kiện bất lợi, những vấn đề làm cho người lao động
bị căng thẳng, áp lực sẽ làm giảm đáng kể hiệu quả làm việc của họ.
III. TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG .
Nâng cao NSLĐ là tiết kiệm lao động sống và lao động vật hoá, là giảm tỉ
lệ lao động vật hoá sao cho tổng hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất
một đơn vị sản phẩm giảm xuống. Tăng NSLĐ là một quy luật của mọi hình thái
kinh tế - xã hội. Theo Mác, “năng suất lao động là nhân tố quyết định sự thắng
lợi của chế độ xã hội”. [ ]
Tăng năng suất lao động sẽ làm cho chi phí vào một đơn vị sản phẩm giảm
xuống , do đó tạo ra những điều kiện không những để hạ giá thành sản phẩm mà
7
lao động toàn nền kinh tế của Việt Nam năm 2005 đạt 1.237 USD.
So sánh mức năng suất lao động tính theo USD và tốc độ tăng năng suất
lao động tính bằng % năm 2005 của Việt Nam với một số nước trên thế giới, ta
có kết quả như sau:
9
Tên nước và lãnh thổ
Mức năng suất lao động
Mức NSLĐ (USD) Thứ tự
Tốc độ tăng NSLĐ
Tốc độ (%) Thứ tự
Mỹ
Nhật
Ireland
Hồng Kông
Pháp
Phần Lan
Singapore
Anh
Đức
Canada
Australia
Đài Loan
Hàn Quốc
Malaysia
Thái Lan
Philippin
Trung Quốc
Indonesia
Ấn Độ
Việt Nam
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
1,8
1,9
1,0
5,0
1,4
0,1
1,9
0,9
0,9
1,6
-1,0
2,7
2,6
3,0
3,0
-0,8
7,1
4,4
6,6
5,51
Thái Lan = 28,73%, so với Philippin = 44,07% và so với Indonesia = 63,37%.
Tuy nhiên, xét về tốc độ tăng năng suất lao động thì trong số những nước này
Việt Nam có tốc độ tăng cao (5,51%, đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Ấn Độ)
trong khi đó 4 nước còn lại chỉ tăng từ 1,9% đến 4,4%. Riêng Philippin , năng
suất lao động năm 2005 giảm -0,8% và Australia giảm -1,0%.
Nếu tính theo phương pháp sức mua tương đương (PPP), năng suất lao
động của Việt Nam năm 2005 đạt trên 5.000 USD. Tuy nhiên, vẫn ở vị trí cuối
cùng của 20 nước kể trên.
Như vậy, có thể nói, năng suất lao động của Việt Nam còn quá thấp so với
năng suất lao động của các nước khác. Điều đó có thể giải thích về trình độ kỹ
thuật, công nghệ của ta còn thấp, cơ sở vật chất còn nghèo, công tác quản lý còn
một số hạn chế, sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, đặc biệt là sản
xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, nếu xét theo xu thế biến động từ năm 2001 - 2005
thì năng suất lao động chung của Việt Nam liên tục tăng lên và có mức tăng khá
(từ 4,25% đến 5,51%). Bình quân 5 năm là 4,81%. Những năm gần đây, Việt
Nam đã chú ý đầu tư vốn và kỹ thuật để phát triển sản xuất, thực hiện chuyển
11
dịch cơ cấu kinh tế là những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất
lao động. [ , 11/10/2007]
II. THỰC TRẠNG NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NĂNG
SUẤT LAO ĐỘNG Ở NƯỚC TA .
Ta chỉ xét đến những nhân tố chính , tác động trực tiếp đến năng suất lao
động .
1. Nguồn nhân lực .
Chưa lúc nào vấn đề phát triển con người và nguồn nhân lực trở thành vấn
đề thời sự nóng bỏng ở nước ta như giai đoạn hiện nay. Đất nước đang bước vào
một thời kỳ phát triển mới, những cơ hội và thách thức chưa từng có. Nhưng
thực trạng nguồn nhân lực hiện nay khó cho phép tận dụng tốt nhất những cơ hội
đang đến, thậm chí, có nguy cơ khó vượt qua những thách thức, kéo dài sự tụt
hậu
quy mô nền kinh tế. “So với thế giới thì nước ta có tỷ lệ giữa thầy và thợ cao hơn
nhiều lần, tuy nhiên nguồn nhân lực cấp cao lại ở mức khan hiếm. Chúng ta đang
trong tình trạng lao động dư về lượng và yếu về chất”, Tiến sỹ Hồ Đức Hùng,
Giám đốc Viện Nghiên cứu phát triển ĐH Kinh tế TPHCM, nhận định.
13
Theo điều tra của Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2005: Nguồn nhân lực Việt Nam
về chất lượng được xếp hạng 53 trên 59 quốc gia được khảo sát, song mất cân
đối nghiêm trọng:
- Ở Việt Nam cứ 1 cán bộ tốt nghiệp đại học có 1,16 cán bộ tốt nghiệp trung cấp
và 0,92 công nhân kỹ thuật, trong khi đó tỷ lệ này của thế giới là 4 và 10;
- Ở Việt Nam cứ 1 vạn dân có 181 sinh viên đại học, trong khi đó của thế giới là
100, của Trung Quốc là 140 mặc dù mức thu nhập quốc dân tính theo đầu người
của TQ khoảng gấp đôi của nước ta…
Kết quả chung là: Nhìn nhận theo góc độ đánh giá nguồn nhân lực, chất lượng
con người Việt Nam thấp về nhiều mặt so với các nước ASEAN6 và Trung
Quốc, có nhiều ưu thế không được nuôi dưỡng và phát huy đúng hướng. Có phải
như thế không? – xin được xem xét.
Những nguyên nhân chính:
1. Không quan tâm và không kế thừa, phát huy những thành tựu giáo dục của
nước ta đã tích lũy được trước đổi mới cũng như những thành tựu của thế giới,
không khai thác lợi thế nước đi sau, thậm chí ít nhiều hoang tưởng, duy ý chí
hoặc nhân danh phát huy sáng tạo đi tìm một con đường riêng, nhưng thực tế là
lạc lõng (ví dụ: định thay bản chữ cái ABC, abc bằng bảng E,e; tình trạng bất cập
của chương trình chuẩn, giáo án chuẩn; kế hoạch đào tạo 20.000 tiến sỹ; một số
chương trình nghiên cứu Kx; sáng tác ra học vị phó giáo sư; việc ồ ạt xây dựng
trường đại học tại nhiều tỉnh - trong khi đó bằng đại học của nước ta không được
quốc tế công nhận…)
14
2. Tiêu cực và chủ nghĩa cơ hội đã bóp méo những ý tưởng, những mong muốn
tốt đẹp dành cho phát triển con người và nguồn nhân lực; làm sai lệch hướng vận
theo chế độ biên chế và 31,1% làm việc theo chế độ hợp đồng. Tuy nhiên, tháp
nhân lực khoa học và công nghệ này của nước ta còn rất hẹp, nếu so sánh với
một nước công nghiệp phát triển như Cộng hòa Liên bang Đức với 82 triệu dân
và 1,6 triệu tiến sỹ.
Năm 2006, tổng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ
đã tăng lên gần 5.890 tỉ đồng, đạt 2% chi ngân sách nhà nước. Do môi trường
kinh doanh có tính cạnh tranh chưa cao nên các hoạt động khoa học và công
nghệ chưa trở thành một công cụ và động lực thúc đẩy sản xuất của các doanh
nghiệp ở Việt Nam. Nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm đến 60% tổng
đầu tư của xã hội cho khoa học và công nghệ, trong đó 2/3 dành cho sự nghiệp
khoa học và 1/3 dành cho xây dựng cơ bản. ở các nước, số đầu tư của doanh
nghiệp cho khoa học và công nghệ chiếm trên 60%, còn đầu tư của nhà nước chỉ
chiếm 30%.
Về đầu tư của các doanh nghiệp, kinh phí đầu tư cho khoa học và công
nghệ tại 28 tổng công ty 90 - 91, từ nguồn vốn tự có của doanh nghiệp này chiếm
tỷ lệ 60% tổng số vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp
toàn quốc. Tỷ lệ đầu tư nghiên cứu phát triển/đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ
16
là 6%/94%. Tỷ lệ chi cho nghiên cứu phát triển của các tổng công ty dao động
trong khoảng từ 0,05% - 0,1% trên tổng doanh thu (các nước là 5 - 6%). Như
vậy, tỷ lệ này còn rất thấp để các tổng công ty 90 - 91 có thể cạnh tranh trên thị
trường trong nước và quốc tế.
Tình hình phát triển công nghệ ở Việt Nam có thể đánh giá thông qua giá
trị nhập khẩu máy móc, trang thiết bị công nghệ trong thời gian gần đây. Trong 5
năm giai đoạn 2001 - 2005, nước ta đã nhập khẩu 35.997 triệu USD máy móc,
thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch nhập khẩu. Năm
2006, con số này là 9.597 triệu USD, chiếm 21,8 % tổng kim ngạch nhập khẩu
của Việt Nam.
Chính vì tốc độ nhập khẩu công nghệ còn chậm nên hiện nay mặt bằng
công nghệ trong các ngành sản xuất kinh doanh của nước ta còn ở mức thấp do
định hướng xuất khẩu, khắc phục sự mất cân đối giữa sử dụng bằng sáng chế
công nghệ nước ngoài của các doanh nghiệp trong nước với tiếp nhận công nghệ
qua các doanh nghiệp FDI và khắc phục sự liên kết yếu kém giữa đào tạo, nghiên
cứu và sản xuất.
Hiện nay, mặc dù vốn đầu tư của Nhà nước đang chiếm tỷ lệ rất cao,
nhưng các ngành công nghiệp nước ta còn chưa tập trung thích đáng vào việc
nhanh chóng phát triển và làm chủ các công nghệ nguồn, công nghệ chế tạo định
hướng xuất khẩu, có xu hướng để các nhà đầu tư nước ngoài "phát triển giúp"
các ngành công nghiệp nói trên. Điều này dẫn đến nguy cơ "công nghiệp hóa mà
18
không nắm giữ được những bí quyết công nghệ chiến lược và mũi nhọn" như
tình trạng của nhiều nước Đông - Nam Á hiện nay. Tỷ lệ nhập khẩu máy móc,
thiết bị sản xuất công nghiệp trên tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nền kinh tế
nước ta cũng chỉ đạt mức thấp so với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong giai đoạn trình độ công nghiệp hóa tương tự, tỷ lệ này của Nhật Bản và
Hàn Quốc vào khoảng 40%. [ , 13/04/2007 , 15:53]
19
CHƯƠNG 3 : NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT
LAO ĐỘNG Ở NƯỚC TA .
I. PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC .
Phát triển nguồn nhân lực về thực chất là ngày càng phải làm tốt hơn việc
giải phóng con người. Đòi hỏi này đặt ra hai yêu cầu cùng một lúc: Phải tập
trung trí tuệ và nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực, mặt khác phải đồng
thời thường xuyên cải thiện và đổi mới môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội, gìn giữ môi trường tự nhiên của quốc gia.
Vấn đề lớn nhất đặt ra cho nước ta không phải là cái nghèo, mà là ý chí
phấn đấu với tất cả trí tuệ và nguồn lực có trong tay – điều này bao gồm cả ý chí
xây dựng một thế chế chính trị và đời sống kinh tế - xã hội – văn hóa hướng vào
phát huy những giá trị chân chính của con người, trước hết là tự do và nghị lực
sáng tạo của nó; kế thừa những thành tựu của văn minh nhân loại.
giá trị gia tăng lớn.
Sự tiến bộ công nghệ của nền kinh tế đất nước được thực hiện bằng cách
kết hợp đẩy mạnh nhập khẩu công nghệ ở nước ngoài và tự phát triển, sáng tạo
21
công nghệ tiên tiến trên nền tảng các công nghệ nhập khẩu. Trong thời kỳ đầu
của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với một nước đang trong quá
trình phát triển như Việt Nam thì nhập khẩu công nghệ tiên tiến ở nước ngoài là
phương pháp vừa tiết kiệm thời gian, vừa tiết kiệm chi phí nếu lựa chọn hiệu quả
được những công nghệ có mức độ tiên tiến thích hợp với giá thành hạ trong quá
trình nhập khẩu. Điều này được gọi là lợi thế đi sau của các nước đang phát triển
do không bắt buộc phải trải qua hành trình tiến bộ công nghệ như các nước phát
triển.
Vấn đề nhập công nghệ tiên tiến đòi hỏi chi phí đầu tư lớn trong khi khả
năng nguồn vốn của nền kinh tế còn hạn hẹp. Vì vậy, quá trình nhập khẩu và
nâng cao trình độ công nghệ chỉ có thể được đẩy mạnh bằng chiến lược phát
triển thị trường vốn trong nước và khai thông, kết nối với thị trường vốn quốc tế,
đặc biệt là thị trường chứng khoán. Đây cũng chính là bí quyết công nghiệp hóa,
hiện đại hóa rút ngắn của Hàn Quốc, Đài Loan trước kia và của Trung Quốc hiện
nay. Đồng thời với quá trình trên, chúng ta phải nhanh chóng thúc đẩy việc tiếp
thu và phát triển khả năng tự chế tạo, tiến tới sáng tạo công nghệ. Khả năng sáng
tạo công nghệ là con đường duy nhất để Việt Nam cũng như các nước đang phát
triển đuổi kịp và vượt trình độ của các nước công nghiệp phát triển, nhờ vậy mới
có thể giảm bớt những khoản chi phí tốn kém cho việc nhập khẩu những công
nghệ tiên tiến. Khả năng sáng tạo công nghệ dựa trên cơ sở óc sáng tạo và trình
độ quản lý hoạt động nghiên cứu và trình độ nghiên cứu khoa học tự nhiên và
công nghệ ứng dụng. Nó phụ thuộc vào tiềm năng trí tuệ của dân tộc và đòi hỏi
một chính sách đầu tư lâu dài liên tục và đúng phương hướng vào khoa học và
công nghệ của đất nước.
22
Như tất cả các nước đang phát triển có nguồn lực còn hạn chế, nước ta
của nền sản xuất trong nước, tạo thành quá trình "xuất khẩu tịnh tiến" liên tục
với các sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng khoa học và công nghệ ngày càng cao
hơn. Vì vậy, việc lựa chọn đầu tư ngành mũi nhọn và phát triển khoa học và
công nghệ phù hợp có ý nghĩa chiến lược trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và tạo điều kiện cho quá trình tăng trưởng cao liên tục của nền kinh tế đất
nước. [ , 13/04/2007 , 15:53]
Dưới tác động của khoa học và công nghệ, hơn 20 năm qua kinh tế tri thức
hình thành và phát triển mạnh mẽ ở các nước công nghiệp phát triển và đang lan
toả nhanh chóng đến các nước đang phát triển. Cả nhân loại đang chuyển từ nền
kinh tế công nông nghiệp sang nền kinh tế trí tuệ. Sự phân công lao động xã hội
từ chủ yếu dựa vào sự phát triển của công nghiệp cơ khí sang sự phát triển của tri
thức. Thực tế, nền kinh tế tri thức phát triển đến đâu thì lao động trí tuệ thay thế
dần lao động cơ bắp đến đó. Xu thế toàn bộ nguồn nhân lực, đặc biệt công nhân
trí thức hoá đang tác động mạnh mẽ đến mọi quá trình phát triển. Kinh tế tri thức
mới hình thành và phát triển đã làm thay đổi định hướng phát triển kinh tế từ chỉ
vì lợi nhuận chuyển sang định hướng phát triển đồng thuận giữa kinh tế - xã hội -
môi trường. Tác động về mặt xã hội thể hiện sự xoá bỏ dần khoảng cách giữa lao
động chân tay và lao động trí óc, xoá bỏ dần lao động sản xuất trực tiếp với lao
động lãnh đạo quản lý đội ngũ công nhân đang vươn lên trở thành giai cấp vô
24
sản trí thức hay công nhân trí thức hoá, làm mất dần sự khác biệt giữa thành thị
và nông thôn. []
III. TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC .
Nhà nước đóng vai trò then chốt trong việc đưa ra những chính sách hợp
lý để phát triển sản xuất. Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cải tạo quan hệ sản
xuất cho phù hợp với lực lượng sản xuất. Việc đó đòi hỏi tới việc giải quyết
đúng đắn vấn đề sở hữu, tổ chức quản lý sản xuất và phân phối sản phẩm sao cho
phù hợp. Trong điều kiện cuợc cách mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ hiện
đại, trí tuệ đang thể hiện là nguồn lực lớn nhất tạo ra của cải hàng hoá. Chúng ta
cần thay đổi cách nghĩ, cách làm, cần phải tả lương xứng đáng cho những người