ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là một hệ sinh thái có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của
con người cũng như môi trường: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa, tạo ra oxy,
điều hòa nước, là nơi cư trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý
hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho sự sống,
bảo vệ sức khỏe của con người…Quan hệ của rừng và cuộc sống đã trở thành
một mối quan hệ hữu cơ. Ở Việt Nam, trong số 16,2 triệu ha đất quy hoạch
cho lâm nghiệp, rừng đặc dụng chiếm 2,2 triệu ha. Tuy nhiên, diện tích rừng
đặc dụng hiện đang bị xâm hại đến mức báo động đỏ. Nạn chặt phá, khai thác
bừa bãi, chuyển đổi mục đích sử dụng tại nhiều khu rừng đặc dụng đã làm
nhiều loại gỗ quý hiếm bị cạn kiệt [3].
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên. Một trong những
nguyên nhân là giá trị của rừng cũng như các hàng hóa môi trường chưa được
nhận thức đầy đủ (đúng với giá trị thực: tổng giá trị kinh tế). Phần giá trị phi
sử dụng thường bị hạ thấp hay bị bỏ qua hoàn toàn. Chúng thường không
được đo lường, lượng giá hoặc chỉ mang tính định tính. Vì thế, tài nguyên
rừng đã bị khai thác sử dụng một cách không hiệu quả.
Năm 2003, Chính phủ đã quyết định thành lập Vườn Quốc gia Nam Cát
Tiên với tổng diện tích trên 70.000 ha nằm trên ba tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng
và Bình Phước. Với chức năng, nhiệm vụ: i) Bảo tồn các hệ sinh thái rừng,
các vùng đất ngập nước quan trọng trong vườn; ii) Bảo tồn nguồn gien động
thực vật rừng quý hiếm, bảo tồn quần thể tê giác một sừng, quần thể voi và
các loài động thực vật quý hiếm khác; iii) Bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, thực
hiện nghiên cứu khoa học, tuyên truyền giáo dục phục vụ công tác bảo tồn,
Vườn được Unesco công nhận là khu dự trữ sinh quyển thứ 411 của thế giới
[6].
1
Để góp phần làm sáng tỏ và nâng cao nhận thức của các chủ thể trong
xã hội về giá trị của rừng đối với đời sống kinh tế xã hội, đồng thời lượng hóa
được một phần giá trị sử dụng của Vườn Quốc gia Cát Tiên, qua đó đề xuất
một số giải pháp phù hợp trong việc tổ chức quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát
3
đặt của bàn tay con người như: các dạng địa hình, đất nước, cây cỏ, chim
muông, các hiện tượng thời tiết. Những yếu tố tác động luôn bao gồm yếu tố
thiên nhiên và yếu tố con người
Với tư cách là sự kết hợp của toàn bộ những yếu tố hữu hình, bất kỳ
một hoạt động nào tại khu, tuyến điểm du lịch cũng có thể làm ảnh hưởng đến
chất lượng môi trường, bao gồm cả hoạt động du lịch và các hoạt động kinh
tế, dân sinh khác, đặc biệt là hoạt động xây dựng. Thậm chí trong một số
trường hợp, chính những hoạt động nhằm tạo cảnh quan nhân tạo lại làm mất
đi vẻ đẹp của cảnh quan tự nhiên và làm suy giảm tính hấp dẫn của khu, tuyến
hoặc điểm du lịch [4].
1.1.1.2. Giá trị kinh tế của chất lượng môi trường: Tổng giá trị kinh tế
Trong quá trình phát triển của con người, các phương thức trao đổi
hàng hóa được coi như những mốc đánh dấu cho từng giai đoạn phát triển.
Nếu như ban đầu con người trao đổi đơn giản bằng phương thức hàng – hàng
(tức là hàng hóa, dịch vụ được trao đổi với nhau theo phương pháp đổi chác)
thì dần dàn tiền tệ đã trở thành vật ngang giá cho mọi trao đổi hàng – tiền
hàng. Tuy nhiên phương thức trao đổi hàng hóa thông qua tiền tệ vẫn được
xác định chủ yếu thông qua giá trị của hàng hóa dịch vụ.
William Petty (1623-1687), Adam Smith (1723-1790) và David
Ricardo (1772-1823) đều thống nhất phân biệt giá thị trường và giá tự nhiên.
Giá tự nhiên là giá trị nội sinh của hàng hóa. Giá thị trường dao động nhưng
có khuynh hướng trở về với giá tự nhiên. Trên quan điểm này, việc quy định
giá cả thị trường sẽ dần phải hướng theo giá trị thực của hàng hóa dịch vụ. Có
thể chứng minh quan điểm này theo quá trình hình thành khái niệm về tổng
giá trị kinh tế của rừng.
Trước đây, khái niệm về tổng giá trị kinh tế của rừng (Total Economic
Value – TEV) được xem xét rất hạn hẹp. Các nhà kinh tế thường có xu hướng
4
xem xét giá trị của rừng thông qua lượng sản phẩm hữu hình mà rừng đã tạo
- NUV (Nonuse values) là giá trị không sử dụng.
- BV (Bequest values) là giá trị tuỳ thuộc hay giá trị để lại.
- EXV (Existence values) là giá trị tồn tại.
Sự phân biệt đầu tiên và quan trọng nhất đó là giữa giá trị sử dụng và
giá trị không sử dụng.
* Giá trị sử dụng là những lợi ích thu được từ việc sử dụng nguồn tài
nguyên rừng. Đôi khi cũng có thể hiểu giá trị sử dụng là giá trị các cá nhân
gắn với việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các dịch vụ do nguồn
tài nguyên cung cấp. Ví dụ, đối với một vườn quốc gia hay một khu rừng, con
người có thể thu lợi ích từ gỗ làm nhà, củi đốt; dùng cây cỏ làm thuốc, đi dạo
trong rừng, ngắm nhìn các loài động thực vật hoặc chiêm ngưỡng cảnh đẹp.
Giá trị sử dụng hình thành từ việc thực sự sử dụng tài sản môi trường, trên
thực tế nó bao gồm:
- Giá trị sử dụng trực tiếp là các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trực tiếp
cung cấp mà chúng ta có thể tính được giá cả và khối lượng trên thị trường.
Cũng có quan điểm khác cho rằng giá trị sử dụng trực tiếp là các lợi ích nhận
được từ việc sử dụng trực tiếp tài sản và có thể được chia thành hai loại là sử
dụng tiêu hao và không tiêu hao. Chẳng hạn, giá trị sử dụng trực tiếp của rừng
gồm giá trị sử dụng tiêu hao như sản xuất gỗ, thực phẩm và các lâm sản ngoài
gỗ khác; giá trị sử dụng không tiêu hao bao gồm các hoạt động giải trí, các
hình thái du lịch, thậm chí là giá dịch vụ môi trường của rừng.
- Giá dịch vụ môi trường hay giá trị sử dụng gián tiếp là những giá trị
chủ yếu dựa trên chức năng của hệ sinh thái, có ý nghĩa về mặt sinh thái và
môi trường. Nói cách khác đây là các chức năng cơ bản của môi trường, gián
tiếp hỗ trợ cho hoạt động kinh tế của con người. Chẳng hạn, khả năng chống
gió bão, khả năng hấp thụ các bon là giá dịch vụ môi trường của rừng.
6
- Giá trị tùy chọn là lượng mà mỗi cá nhân sẵn sàng chi trả để bảo toàn
nguồn lực hoặc một phần nguồn lực để sử dụng cho tương lai. Đây là giá trị
có được từ nhận thức, lựa chọn của con người đặt ra trong hệ sinh thái. Giá trị
giữ nước của rừng đầu nguồn hồ Tùng Hoa – Côn Minh (Trung Quốc) cho
thấy diện tích rừng đầu nguồn 60.000 ha, với độ tán che 30% hàng năm giữ
được khoảng 8,3 triệu m
3
nước.
Nghiên cứu về đầu nguồn ở lưu vực sông Vân Nam – Trung Quốc liên
quan đến khả năng giữ đất, nước và phân bón của rừng cho thấy giá trị này là
chiếm khoảng 4.450,5 NDT (khoảng 10.236.150 VND, tỷ giá 1NDT= 2.300
VND) chiếm 87, 9% trong khi đó giá trị trực tiếp (than củi, gỗ) là 528,5 NDT
(khoảng 1.215.550 VND) chiếm khoảng 12,1%
FAO (1995) cũng cho rằng rừng có tác dụng rất quan trọng trong việc
điều tiết dòng chảy, giảm lưu lượng nước mặt, góp phần làm giảm lũ lụt. Tuy
nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng, lũ lụt là một hiện tượng tự nhiên mà trong đó
những dòng sông xả nước thừa sau những trận mưa lớn [14].
Đối với những lưu vực nhỏ, người ta thấy rõ rằng độ che phủ của rừng
có thể làm giảm thiểu lượng nước lũ chảy xuống hạ lưu. Đối với những trận
lũ có sức tàn phá lớn thì dường như chưa có cơ sở để xem xét sự liên quan
của chúng đến mất rừng – trong những điều kiện khí hậu đó, đặc biệt là tổng
lượng mưa năm và tần suất xuất hiện của những trận bão lớn là những nhân tố
rất quan trọng.
Giá trị của rừng trong hạn chế xói mòn là rất đáng kể. Xói mòn đất ở
nơi phá rừng để canh tác nương dẫy cao hơn gấp 10 lần so với những khu vực
có rừng tự nhiên. Song song với quá trình xói mòn là sự tích tụ chất lắng đọng
8
tại các vùng lòng chảo gây ra thiệt hại cho các công trình thủy lợi, ước tính
khoảng 4USD/ha/năm (Cruz et al, 1988) và các hồ nhân tạo ước tính lên tới 6
tỷ USD/ năm (Mahmood, 1987). Trong khi đó nếu được rừng bảo vệ, lợi ích
về chống xói mòn, rửa trôi, kiểm soát dòng chảy có thể lên tới 80
USD/ha/năm.
Ở một số khu vực đặc trưng chẳng hạn như ở những vùng cát bay, rừng
trong đó rừng nguyên sinh là 4.000 – 4.400 USD/ha/năm, rừng thứ sinh là
1.000 – 3.000 USD/ha/năm và rừng thưa là từ 600 – 1.000 USD/ha/năm.[11]
9
Ngoài các giá trị nêu trên, giá trị cảnh quan, giải trí của rừng cũng rất
lớn. Tính toán giá trị du lịch, giải trí hàng năm ở Trung Quốc cho thấy giá trị
này là khoảng 220,9 – 10.564,4 NDT/ha (tương đương 27,6 – 1.320 USD/ha).
Trong năm 1996, người Bristish Clumbia chi tiêu khoảng 1,9 tỷ USD cho các
hoạt động du lịch sinh thái, đóng góp cho ngành thuế của địa phương là 116
triệu USD (Canada Environment, 1996). Cơ chế chi trả cho dịch vụ giải trí và
du lịch ở Châu Âu và Bắc Mỹ được xác định theo mức “Bằng lòng chi trả –
WTP (Willingness to pay) với mức giá từ 1 – 3 USD/người/lần (David W.
Pearce và Corin G T Pearce,2001). Liên quan đến giá trị này Elsser (1999)
cho rằng giá trị du lịch giải trí của rừng ở Đức được xác định là khoảng 2,2 tỷ
USD/năm.[13]
Như vậy có thể thấy giá trị của rừng là rất lớn, đặc biệt là giá trị môi
trường và dịch vụ môi trường của rừng. Giá trị môi trường và dịch vụ môi
trường của rừng ngày càng được thừa nhận một cách rõ ràng hơn. Cơ cấu giá
trị môi trường của rừng là: Hấp thụ các bon chiếm 27%; Bảo tồn ĐDSH
chiếm 25%; Bảo vệ đầu nguồn chiếm 21%; Vẻ đẹp cảnh quan chiếm 17% và
giá trị khác chiếm 10% (Natasa Land – Mill, 2002). Các nhà khoa học đã ước
lượng giá trị dịch vụ do hệ sinh thái rừng mang lại trên toàn trái đất là khoảng
33.000 tỷ USD/năm [25]
Với các giá trị to lớn của rừng về dịch vụ môi trường, nhiều quốc gia
đã tiến hành nghiên cứu và tiến hành xây dựng cơ chế chi trả cho dịch vụ môi
trường (Payment for Environment Services – PES) nhằm quản lý bền vững
các dịch vụ môi trường rừng. Trong những năm gần đây, nhận thức về vai trò
của rừng trong việc bảo vệ môi trường đã có thay đổi đáng kể. Các sự cố môi
trường như lũ lụt, hạn hán, ấm lên của trái đất, …. Có xu hướng gia tăng và
được xem là hậu quả của việc chặt phá rừng. Nhằm đảm bảo dịch vụ môi
trường do rừng đem lại, tổ chức Nông lâm quốc tế (ICRAF) đã hình thành
nhiễm trả tiền” tức là qua định giá môi trường chúng ta sẽ xác định được đối
tượng gây ô nhiễm và họ sẽ “phải trả bao nhiêu”.
Thứ tư, khi cả giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng được lượng hoá,
thì sẽ có tính thuyết phục cao trong việc giáo dục nâng cao nhận thức của
người dân nói chung cũng như có thể chỉ dẫn quá trình thực hiện về mặt kinh
tế đúng đắn hơn.
Thứ năm, nếu tiến hành lượng hoá một cách cẩn thận thì sẽ tạo ra được
một nền tảng cơ sở chính sách an toàn và hợp lý, qua đó có phương cách sử
dụng môi trường cẩn thận hơn.
Như vậy, có thể kết luận việc định giá môi trường là hoàn toàn cần thiết
và đúng đắn.
1.1.2.2. Phương pháp định giá môi trường rừng
Những thống kê về giá trị của rừng ở phần trên cho thấy rừng có khả
năng cung cấp những sản phẩm rất đặc biệt. Vì vậy việc định giá rừng không
thể dựa vào các cách định giá tài sản thông thường. Các phương pháp ước
lượng giá trị phi gỗ và phi thị trường của rừng được phát triển rất đa dạng, cả
về lý thuyết và mức độ chấp nhận của các nhà kinh tế, cả về yêu cầu số liệu
đầu vào cũng như việc thuận tiện sử dụng chúng trong thực tiễn (Munasinghe
và Lutz 1993) [7] Sau đây là một số nhóm phương pháp được áp dụng khá
phổ biến:
(1). Phương pháp giá thị trường (Market price valuation), bao gồm
phương pháp ước lượng giá trị sản xuất hàng hóa tự cung tự cấp và hàng tiêu
dùng.
12
Phương pháp giá thị trường sử dụng số liệu và thông tin điều tra từ
người sản xuất và tiêu dùng sau khi đã điều chỉnh theo mùa, giá trị gia tăng và
các ảnh hưởng của chính sách công.
Đây là phương pháp định giá đơn giản nhất. Rất nhiều hàng hóa dịch vụ
xuất phát từ rừng nhiệt đới được kinh doanh bao gồm sản phẩm từ gỗ (gỗ, bột
giấy và nhiên liệu), sản phẩm phi gỗ (thức ăn, cây thuốc, đồ dùng), sản phẩm
thị trường đất đai hoặc thị trường lao động. Ứng dụng phương pháp định giá
Hedonic để xác định giá trị tài sản là dựa trên quan sát một cách hệ thống về
giá trị tài sản ở các vị trí khác nhau và tính chất tách dời của chúng đối với
những ảnh hưởng của chất lượng môi trường. Phương pháp định giá Hedonic
yêu cầu rất nhiều loại số liệu để tính toán nhằm loại bỏ tất cả các yếu tố có
ảnh hưởng đến giá cả thị trường. Phương pháp này giả thuyết rằng thị trường
đất đai bị cạnh tranh, đồng thời cả người mua và người bán đều có thông tin
đầy đủ về môi trường, cả mặt tốt và mặt xấu.
Phương pháp hàng hóa thay thế : Sử dụng giá thị truongf của hàng
hóa thay thế để do lường lợi ích /chi phí phi thị trường.
Phương pháp hàng hóa thay thế áp dụng đối với loại tài nguyên rừng
không được kinh doanh trên thị trường hoặc do người khai thác sử dụng trực
tiếp (ví dụ như củi), giá trị của nó có thể được xác định theo giá thị trường của
những hàng hóa tương tự (ví dụ như củi được bán ở vùng khác) hoặc giá cả
của những mặt hàng thay thế tốt nhất (ví dụ như than hầm). Mức độ của
những mặt hàng được kinh doanh trên thị trường phản ánh giá trị của những
mặt hàng không được kinh doanh trên thị trường phụ thuộc vào mức độ tương
đồng của loại mặt hàng thay thế.
14
Như vậy, nếu có hai loại mặt hàng có thể thay thế rất tốt cho nhau thì có
nghĩa là giá trị kinh tế của chúng là tương đương. Nếu mức độ và khả năng
thay thế giảm thì liệu giá trị của mặt hàng được kinh doanh có thể lấy làm chỉ
tiêu định giá của mặt hàng không được kinh doanh trên thị trường hay không?
Phương pháp tiếp cận thay thế được sử dụng để định giá lợi ích của rừng tại
các nước đang phát triển và trọng tâm là định giá lâm sản ngoài gỗ. Adger và
cộng sự (1995); Gnatilake và cộng sự (1993) sử dụng kỹ thuật bổ sung số liệu
giá cả thị trường để đánh giá lâm sản ngoài gỗ tại Mexico và Sri Lanka.
Chopra (1993) sử dụng phương pháp này để phân tích chi phí lao động và
định giá gỗ củi trong nghiên cứu điểm tại Ấn Độ. Ngoài ra không tìm thấy ví
dụ về việc sử dụng phương pháp hàng hóa thay thế để ước tính giá trị rừng
cận này, thông tin về giá trị lợi ích môi trường được thu thập thông qua việc
đưa ra những câu hỏi trực tiếp cho người tiêu dùng về thiện chí chi trả hoặc
thiện chí chấp nhận đền bù bằng tiền mặt do sự suy giảm giá trị lợi ích. Một
trong những kỹ thuật xác định sở thích được phát triển và sử dụng rộng rãi là
phưng pháp định giá ngẫu nhiên (CV hoặc CVM). Một phương pháp nữa
cũng được sử dụng nhưng ít phổ biến hơn, đó là chọn thực nghiệm và phương
pháp cùng tham gia hoặc sự tiếp cận theo “nhóm trọng tâm” để suy ra những
sử thích chung.
Định giá ngẫu nhiên (CV) luận ra sự biểu thị giá trị tăng lên hoặc giảm
đi mang tính cá nhân từ những người hưởng ứng về số lượng và chất lượng
của hàng hóa phi thị trường. Phần lớn các CV sử dụng số liệu thu thập được
thông qua phỏng vấn hoặc khảo sát thông qua bưu điện (Mitchell và Carson,
1989). Định giá bằng phương pháp CVM là ngẫu nhiên vì giá trị ước tính
16
được rút ra từ những hoàn cảnh mang tính giả thuyết và do nhà nghiên cứu
thực hiện.
Người đề xuất CVM (Carson, 1991) biện luận rằng cơ sở lý luận của nó
chặt chẽ hơn so với các phương pháp khác, vì nó tính toán trực tiếp sự thịnh
vượng dựa trên mức sẵn lòng chi trả (WTP) hoặc sẵn lòng chấp nhận (WTA)
đích thực. Hơn nữa, CV là phương pháp chỉ được chấp nhận để ước tính
những giá trị không sử dụng mà nó không được kinh doanh trên thị trường và
cũng không có hàng hóa nào để thay thế hoặc bổ sung được cho chúng.
(5). Phương pháp dùng chi phí (Cost – based approaches) bao gồm chi
phí thay thế và những chi phí bảo quản.
Phương pháp dùng chi phí: dử dụng chi phí cung cấp hay thay thế met
hàng hóa/ dịch vụ như là thước đo gần đúng lợi ích của nó.
Để bổ sung vào phương pháp ước tính WTP và WTA cho lợi ích phi thị
trường của rừng được miêu tả bên trên, một số phương pháp tiếp cận khác
dựa vào chi phí có thể cũng được sử dụng và tỏ ra hiệu quả trên khía cạnh duy
trì những lợi ích phi thị trường của rừng, hoặc lập mối cân bằng với giá trị thị
chơi. Tiếng Pháp, từ du lịch bắt nguồn từ Le Tour có nghĩa là cuộc dạo chơi,
dã ngoại, … Theo nhà sử học Trần Quốc Vượng, Du lịch được hiểu như sau:
Du có nghĩa là đi chơi, Lịch là lịch lãm, từng trải, hiểu biết, như vây du lịch
được hiểu là việc đi chơi nhằm tăng thêm kiến thức.
Như vậy, có nhiều khái niệm Du lịch nhưng tổng hợp lại ta thấy du lịch
hàm chứa các yếu tố cơ bản sau:
- Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội.
- Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên
của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của họ.
18
- Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng
nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác
của cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ.
- Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều
đồng thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hoà bình.
Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại Hội nghị Liên hợp quốc về du
lịch họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: Du
lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt
nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài
nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ
đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.
Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn Từ điển Bách Khoa
toàn thư Việt Nam (1966) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai
phần riêng biệt.
Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): Du lịch là
một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú
với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử,
công trình văn hoá, nghệ thuật, …
Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh
doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên
tế ở Canada và Tuyên bố chung Quebec về Du lịch sinh thái. Một phần tuyên
bố gồm các nguyên tắc chính sau đây:
“Du lịch sinh thái bao gồm các nguyên tắc của du lịch bền vững, liên
quan đến các tác động kinh tế, xã hội và môi trường của du lịch. Nó cũng bao
gồm các nguyên tắc cụ thể sau đây giúp phân biệt du lịch sinh thái với khái
niệm rộng lớn hơn là du lịch bền vững:
Đóng góp tích cực vào việc bảo tồn các di sản thiên nhiên và văn hóa.
Các cộng đồng địa phương và bản xứ tham gia vào lập kế hoạch, phát
triển, vận hành và góp phần bảo vệ sức khỏe cho mình.
Diễn giải ý nghĩa của di sản thiên nhiên và văn hóa của điểm đến cho
du khách.
Thích hợp hơn với những người đi du lịch độc lập cũng như các nhóm
nhỏ đi theo tour có tổ chức. [28]
Tổ chức Du lịch Thế Giới của Liên hiệp quốc cũng nhấn mạnh vai trò
quan trọng của ngành du lịch trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học hiện
nay: “Là nguồn tạo thu nhập và việc làm chính, du lịch đóng góp vào sự tăng
trưởng kinh tế, đặc biệt ở các nước phát triển nơi tập trung tỷ lệ đa dạng sinh
học lớn nhất toàn cầu. Kết quả là, ngành du lịch đưa ra các cơ chế khuyến
khích công tác bảo vệ đa dạng sinh học, tạo thu nhập lớn để phục vụ cho công
tác bảo tồn và phát triển cộng đồng, và giúp nâng cao nhận thức về các vấn đề
đa dạng sinh học”.[29]
Theo quy chế quản lý các hoạt động DLST tại các VQG, khu BTTN:
Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn
21
hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm
phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến
khả năng đáp ứng nhu cầu du lịch trong tương lai.[2]
Theo bách khoa toàn thư Wikipedia: Du lịch sinh thái là loại hình du
lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có
đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực
số người dân Việt Nam đi nghỉ mát tăng từ 11% trong tổng số dân năm 1999
lên 24% vào năm 2004. Các nhân tố chính của sự tăng trưởng du lịch nội địa
là thu nhập tăng lên, sự phát triển của tầng lớp trung lưu và các mô hình hành
vi xã hội đang thay đổi. Đa số các chuyến du lịch trong nước thường là ngắn
ngày, từ 1 đến 3 ngày, và mùa cao điểm là Tết nguyên đán, các ngày nghỉ lễ
và hè. Du lịch biển và du lịch các kỳ festival rất phổ biến với người Việt
Nam. Các chuyến du lịch do công ty đài thọ cũng như du lịch kết hợp với hội
nghị cũng đang phát triển. Ngành du lịch cũng tạo ra một lượng lớn doanh thu
cho Việt Nam. Dự kiến ngành du lịch sẽ đóng góp trực tiếp xấp xỉ 4 tỷ đô la
Mỹ hoặc 3,8 % Tổng thu nhập quốc nội năm 2009. Đóng góp vào tổng thu
nhập quốc nội dự kiến sẽ tăng gần 8 tỷ đô la Mỹ vào năm 2019. [19]
Nhìn chung, ngành du lịch ở Việt Nam dự kiến sẽ tăng trường 6,5%
mỗi năm từ năm 2010 đến năm 2019. Xuất khẩu chiếm một thị phần rất quan
trọng trong ngành du lịch ở Việt Nam. Trong tổng số kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam, ngành du lịch tạo ra gần 12% doanh thu, tương đương với 9 tỷ
đô la Mỹ. Kim ngạch xuất khẩu dự kiến sẽ tăng hơn 22 tỷ đô la Mỹ vào năm
2019. Đầu tư vốn trong ngành du lịch ước tính gần 3,5 tỷ đô la Mỹ, tương
đương với 8,3% trong tổng đầu tư năm 2009. Dự kiến đầu tư vốn sẽ tăng gần
6 tỷ đô la Mỹ vào năm 2019. Các chi tiêu của chính phủ cho ngành du lịch
23
ước tính là 89 triệu đô la Mỹ, tương đương 1,4% trong tổng chi tiêu của chính
phủ năm 2009. [19]
Ngành du lịch đã tạo ra trên 1,3 triệu việc làm trực tiếp, tương đương
với 3% trong tổng số việc làm. Dự báo cho thấy gần 1,5 triệu việc làm trực
tiếp trong ngành du lịch sẽ được tạo ra vào năm 2019. Ước tính ngành du lịch
cũng tạo ra khoảng 4,8 triệu việc làm gián tiếp vào năm 2009, chiếm khoảng
10,4 % trong tổng số việc làm ở Việt Nam, nghĩa là trong số 9,6 công việc thì
có 1 việc làm do ngành du lịch tạo ra. Dự kiến vào năm 2019, ngành du lịch
sẽ tạo ra trên 5,6 triệu việc làm gián tiếp. [19]
1.2.2. Một số kết quả trong việc định giá giá trị giải trí du lịch của rừng
Environmental Services – RUPES) RUPES được khởi xướng vào tháng
1/2002. Mục tiêu của RUPES là thử nghiệm các phương pháp về chi trả cho
dịch vụ môi trường và hình thành thể chế và cơ chế cho việc hỗ trợ. Hiện nay
Philippine và Indonesia đã bắt đầu các hoạt động về RUPES ở các “điểm
nghiên cứu hành động”.[17]
1.2.2.2. Tại Việt Nam
Ở Việt Nam bước đầu có một số nghiên cứu ứng dụng các phương pháp
định giá tài nguyên môi trường trong việc định giá giá trị du lịch nghỉ dưỡng
của các cảnh quan môi trường như: Đánh giá giá trị du lịch tại Vườn Quốc gia
Cúc Phương, Xác định giá trị cảnh quan của Vườn Quốc gia Ba Bể và Khu du
lịch Hồ Thác Bà; Xác định giá trị giải trí của Vịnh Nha Trang, Phân tích giá
trị giải trí của Cụm đảo san hô Hòn Mun – Tỉnh Khánh Hòa…đã góp phần
làm thay đổi đáng kể nhận thức của các chủ thể có liên quan về giá trị của các
cảnh quan và đặc biệt là rừng.
25