đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm gỗ việt nam sang thị trường liên bang nga trong giai đoạn 2009-2020 - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
CƠ SỞ II TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGỌAI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỖ VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG LIÊN BANG NGA TRONG
GIAI ĐOẠN 2009-2020
Sinh viên thực hiện: HUỲNH MAI NGỌC
Lớp: Nhật 1
Khóa: K44
Giáo viên hướng dẫn: Thạc sĩ NGUYỄN ĐỨC VINH
TP.Hồ Chí Minh, Tháng 5 Năm 2009
NHẬN XÉT CỦA GVHD Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA VIỆC XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỖ
VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG LIÊN BANG NGA 4
I. Tổng quan về thị trường sản phẩm gỗ Liên Bang Nga 4
1. Tình hình cung cầu sản phẩm gỗ của Liên Bang Nga 4
1.1 Tình hình cung 4
1.2 Tình hình cầu 6
2. Cơ hội và thách thức đối với việc xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam vào thị
trường Liên Bang Nga 7
2.1. Cơ hội 7
2.1.1. Điều kiện thu nhập của người dân Nga 7
2.1.2. Việc gia nhập WTO của Liên bang Nga 8
2.2. Thách thức 9

đoạn 2005-2009 32
1. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 32
2. Cơ cấu sản phẩm gỗ xuất khẩu 34
3. Tình hình giá xuất khẩu sản phẩm gỗ 36
4. Tình hình chất lượng sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam 37
5. Phương thức tổ chức giao nhận và vận tải xuất nhập khẩu sản phẩm gỗ 38
6. Tín dụng xuất khẩu và các biện pháp thanh toán 39
7. Tình hình tổ chức đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng xuất khẩu 41
8. Hoạt động xúc tiến thương mại 42
III. Nhận xét chung 44
1. Những kết quả đạt được 44
2. Những mặt còn hạn chế 46
2.1. Về nguồn nhân lực 46
2.2. Về nguồn nguyên liệu 47
2.3. Tình trạng vốn 49
2.4. Công nghệ chế biến 50
2.5. Khả năng cạnh tranh 50
2.6.Xây dựng thương hiệu 52
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM
GỖ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG LIÊN BANG NGA GIAI ĐOẠN
2009-2020 54
I. Một số dự báo về xu hướng tiêu dùng sản phẩm gỗ ở thị trường Liên bang Nga
trong giai đoạn tới 54
II. Quan điểm, mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị
trường Liên Bang Nga 55
1. Hệ thống các quan điểm
1.1Quan điểm của cơ quan quản lý nhà nước 55
1.2Quan điểm của các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ của Việt Nam 56
1.3Nhận xét chung 57
2. Mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường Liên

tốt hơn bê tông, tạo độ an toàn cao cho người sử dụng. Với những đặt tính ưu việt
như vậy, sản phẩm gỗ ngày nay đã trở thành sự lựa chọn số một của người tiêu
dùng trên thế giới, đặt biệt là những quốc gia châu Âu, những quốc gia rất yêu thiên
nhiên, thích cuộc sống gần gũi môi trường, trong đó có Liên Bang Nga. Tại Nga,
tầng lớp trung lưu ngày một nhiều, người dân làm việc trong các thành phố nhưng
thích sống ở ngoại ô. Họ rất chịu chi cho việc sắm sửa làm đẹp nhà cửa và chuộng
những sản phẩm chất lượng cao, kiểu dáng đẹp, phù hợp với không gian cũng như
phong cách Nga. Có thể nói, Nga là một thị trường đầy tiềm năng mà các doanh
nghiệp gỗ Việt Nam có thể xúc tiến đưa hàng hóa vào đây. Hiện, dân số Nga
khoảng 142 triệu dân, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 9.075USD/năm. Nga
được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ đô thị hóa và phát triển nhà
cửa cao trong khu vực các nước Đông Âu. Hàng năm mặt hàng đồ gỗ nhập khẩu
chiếm 43% trên tổng nhu cầu tiêu dùng của người dân Nga.
Thực tế cho thấy từ năm 2002 đến nay, sản phẩm gỗ Việt Nam đã có mặt ở 120
quốc gia và vùng lãnh thổ.Theo Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu gỗ tháng
11 năm 2008 đạt khỏang 2.56 tỉ USD, đứng thứ 5 trên thế giới và thứ 2 trong khu
vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, xuất khẩu gỗ đang gặp nhiều khó khăn về vốn,
nguyên liệu…Những khó khăn đó đòi hỏi sự hợp lực của nhà nước cùng với các
doanh nghiệp trong nước để tìm ra hướng giải quyết giúp cho ngành sản xuất gỗ
của nước ta ngày một phát triển.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “ĐẨY MẠNH
XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỖ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG LIÊN BANG
NGA GIAI ĐOẠN 2009-2020”
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là tình hình xuất khẩu các sản phẩm gỗ,
đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm gỗ của các doanh nghiệp
Việt Nam vào thị trường Liên bang Nga trong thời gian tới.
Phạm vi nghiên cứu là trên lãnh thổ Việt Nam, nghiên cứu thực trạng trong giai
đoạn 2005-2009 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2009-2020.
3. Mục đích nghiên cứu:

Vinh – Giảng viên trường Đại Học Ngoại Thương – Cơ Sở II TP.HCM đã nhiệt tình
hướng dẫn để tôi hoàn thành khóa luận này. Do nguồn tài liệu tham khảo có hạn và hạn
chế trong kinh nghiệm nên dù tác giả đã cố gắng hết sức song chắc chắn không tránh
khỏi những thiếu sót. Rất mong sự chỉ dẫn và góp ý tận tình của quý thầy cô để đề tài
được hoàn chỉnh hơn và có tính ứng dụng cao hơn trong thực tế.
CHƯƠNG 1: VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA VIỆC XUẤT KHẨU SẢN
PHẨM GỖ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG LIÊN BANG NGA
I. Tổng quan về thị trường sản phẩm gỗ Liên Bang Nga
1. Tình hình cung cầu sản phẩm gỗ của Liên Bang Nga hiện nay
1.1 Tình hình cung
Nước Nga có nguồn tài nguyên rừng khổng lồ với trữ lượng 82 tỉ m3 gỗ, trong
đó gỗ được phép khai thác chiếm 531 triệu m3. Hàng năm nguồn gỗ được bổ sung
thêm 920 triệu m3. Năm 2005, Nga xuất khẩu khoảng 58 460,8 ngàn tấn gỗ với tổng trị
giá khoảng 5 281,3 triệu USD, cụ thể phân bổ như sau:
Mã HS Mô tả hàng hóa
Tổng cộng
Các quốc gia
nước ngoài
Các nước CIS
(ngàn
tấn)
Triệu
USD
(ngàn
tấn)
Triệu
USD
(ngàn
tấn)
Triệu

triển nông thôn, Nga được xếp vào top 10 quốc gia có giá trị xuất khẩu gỗ lớn nhất thế
giới. Năm 2006, Liên Bang Nga xuất được 1416,697 triệu USD, và giá trị xuất khẩu
năm 2007 là 1894,142 triệu USD, tăng 33.7% so với năm 2006.
Tên các
nước
Năm 2006 (triệu
USD)
Năm 2007 (triệu
USD)
So sánh 07/06
Canada 4231,129 3120,741 -0,2624
Đức 1846,295 2291,664 0,2412
Trung
Quốc
1591,585 2120,772 0,3324
Nga 1416,697 1894,142 0,337
Mỹ 1615,993 1687,784 0,044
Áo 973,6495 1429,8 0,4684
Thuỵ Điển 1105,318 1397,112 0,2639
Malaysia 997,2879 1163,996 0,1671
Phần Lan 788,494 1014,961 0,2872
Pháp 733,4632 887,9412 0,2106
                      (Nguồn: GTIS)
Bảng 1.3: Giá trị xuất khẩu gỗ của 10 quốc gia lớn nhất năm 2007 so với
năm 2006
1.2 Tình hình cầu
So với các nước Tây Âu thì nhu cầu tiêu dùng đồ gỗ của người Nga còn thấp,
tổng mức tiêu dùng đồ gỗ của Nga chỉ có 0.61% trên tổng xuất lượng đồ gỗ thế giới.
Theo số liệu của cơ quan nghiên cứu về thị trường đồ gỗ cao cấp Nga, thực hiện năm
2008 thì mức tiêu dùng đồ gỗ trong 3 năm qua như sau:

điển và chất lượng cao sẽ có ưu thế khi thâm nhập phân khúc thị trường này.
2. Cơ hội và thách thức đối với việc xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam vào thị
trường Liên Bang Nga
2.1 Cơ hội
2.1.1 Điều kiện thu nhập của người dân Nga
Thu nhập của người Nga tăng lên đều đặn, cho phép nước này vượt qua những
quốc gia thường được gọi là giàu có hơn căn cứ vào mức thu nhập và GDP bình quân
đầu người. Trong tương lai gần, những chỉ số này của Nga sẽ ngang bằng các nước
Châu Âu, thậm chí có thể còn cao hơn. Sự gia tăng thu nhập được nhận thấy không chỉ
trong giới nhà giàu mà ở tất cả mọi tầng lớp dân Nga. Thu nhập của tầng lớp siêu giàu
ở Nga tăng lên cũng như tất cả mọi tầng lớp khác. Ngày nay, ở Nga có khoảng
119.000-250.000 gia đình có thu nhập hằng năm gần 1 triệu USD. Trong danh sách do
tạp chí Forbes đưa ra năm 2006, số nhà tỷ phú Nga đã tăng từ 50 lên 60 người, đứng
thứ hai trên thế giới cùng Đức. Mức thu nhập mong muốn, vốn phụ thuộc vào thu nhập
thực tế và dao động trong khoảng 12.000 – 50.000 rúp/tháng/thành viên trong gia đình,
đang bắt đầu giảm cách biệt với mức thu nhập thực tế của người Nga. Theo các nhà
khoa học, “số người đã đạt được thu nhập đảm bảo cuộc sống đầy đủ đang tăng lên và
hiện chiếm tỉ lệ 11% năm 2007 so với 9% năm 2006”.[23]
Theo số liệu của Rosstat – cơ quan thống kê của Nga – trong những năm 2000-
2006, mức tăng thu nhập thực tế của dân Nga khoảng 9%-12%/năm. Tháng 6-2007, thu
nhập của dân Nga đạt 12.200 rúp/người (trong vòng nửa năm tăng 11%), còn tiền
lương thực tế tăng 17,5%. Ngoài ra, GDP bình quân đầu người ở Nga, tính theo đồng
giá khả năng mua sắm, đạt 12.200 USD trong năm 2006, nhiều hơn Bulgaria
(10.700USD), Romania (9.100USD), Thổ Nhĩ Kỳ (9000USD). Chất lượng cuộc sống ở
Nga cũng tăng lên một cách thích hợp. Mức độ phồn vinh nước Nga đạt được là không
có giới hạn. Theo dự báo được đưa ra trong “Quan điểm phát triển kinh tế - xã hội Nga
đến năm 2020”, trước năm 2015, GDP bình quân đầu người ở Nga không dưới 21.000
USD; trước năm 2020 là 30.000 USD, gần bằng với mức độ phát triển hiện nay của các
nước khu vực đồng euro. Đồng thời, sự cách biệt trong mức thu nhập cá nhân so với
Mỹ gảm từ 3 lần xuống còn 2 lần.[23]

thấp nhất kể từ năm 1994 trở lại đây. Đặt biệt công nghiệp chế biến giảm tới 24,1%,
công nghiệp sản xuất ô tô và thiết bị giảm 45,9%, sản xuất các loại thiết bị điện giảm
47,1%, sản xuất phân bón giảm 41,7%, luyện kim giảm 39,8% Nhìn tổng thể, sản xuất
công nghiệp ở Nga bị giảm mạnh so với nhiều nước phát triển ở Châu Âu.[14]
Đối với việc xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt nam trong thời kỳ này cũng chịu
ảnh hưởng đáng kể. Do kinh tế suy thoái nên lượng đặt hàng của khách hàng không
còn giữ mức tăng 20% mỗi năm như trước mà chỉ còn khoảng 10%. Ngoài ra, lợi
nhuận của nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ giảm còn do hợp đồng đã ký trước đó với
giá thấp trong khi giá vốn hàng bán và chi phí liên tục leo thang: giá cả đầu vào biến
động tăng làm cho chi phí nguyên vật liệu và các chi phí khác tăng, ảnh hưởng lớn đến
giá thành sản phẩm.
2.2.2 Tình hình cạnh tranh trên thị trường
Hiện nay trên thị trường đồ gỗ Liên Bang Nga đang diễn ra cuộc cạnh tranh gay
gắt giữa các doanh nghiệp sản xuất trong nước cũng như các doanh nghiệp nhập khẩu
vào thị trường này. Đặt biệt là khi gia nhập vào WTO, Liên Bang Nga sẽ mở rộng thị
trường cho hàng nhập khẩu bao gồm cả mặt hàng đồ gỗ. Lúc đó, bên cạnh đồ gỗ cao
cấp từ Ý, Đức, Tây Ban Nha thì đồ gỗ từ phân khúc trung bình từ Trung Quốc,
Malaysia cũng sẽ đẩy mạnh hơn việc xuất khẩu vào thị trường này, tạo nên một sự
cạnh tranh rất quyết liệt. Đây là một thách thức rất lớn, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt
Nam phải nâng cao năng lực, chất lượng sản phẩm cũng như tăng cường nhiều biện
pháp xúc tiến thương mại nếu muốn tồn tại lâu dài, bền vững trên thị trường rộng lớn
này.
Ngoài ra, việc Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO đồng nghĩa với việc phải
thực hiện những cam kết cắt giảm trợ cấp cho hàng hóa xuất khẩu trong đó có mặt
hàng đồ gỗ. Khi là thành viên chính thức của WTO, thì tất cả các biện pháp trợ cấp,
trực tiếp trợ giá, trợ cấp, bảo hộ sản xuất trong nước không còn nữa và chúng ta sẽ phải
đối mặt với những thách thức to lớn, áp lực cạnh tranh nặng nề. Các doanh nghiệp
không thể dựa vào sự trợ cấp từ phía Chính phủ mà phải tự mình nâng cao khả năng
cạnh tranh của hàng hóa.
2.2.3 Quy định về người nước ngoài kinh doanh bán lẻ trên thị trường Liên

Nhóm nước có quan hệ tối huệ quốc với Nga chịu mức thuế suất theo quy định
được công bố và mức thuế này chính là cơ sở để áp dụng đối với các nước khác nên
thường gọi là “thuế suất cơ sở công bố”.
Nhóm nước không có quan hệ tối huệ quốc với Nga chịu mức thuế suất bằng 2
lần thuế suất cơ sở công bố.
Nhóm nước đang phát triển( trong đó có Việt Nam ) chịu mức thuế suất bằng 75
% thuế suất cơ sở công bố.
Nhóm nước kém phát triển và các nước SNG được miễn thuế hoàn toàn đối với
hàng hóa khi xuất khẩu vào Nga.
Một số hàng hóa không khuyến khích nhập khẩu còn phải chịu thêm thuế nhập
khẩu đặc biệt với mức thuế suất rất cao như xăng, xe con, rựu…
Hàng hóa nhập khẩu vào Nga sau khi chịu thuế nhập khẩu và thuế nhập khẩu
đặt biệt nếu có còn phải chịu thuế giá trị gia tăng.
Hàng hóa của Việt Nam khi xuất khẩu vào Nga muốn được hưởng mức thuế
suất bằng 75% mức thuế cơ sở công bố phải thỏa mãn về xuất xứ được quy định trong
“hệ thống ưu đãi phổ cập” GSP của Nga. Trong đó có quy định về hàng hóa có xuất xứ
toàn bộ tại một nước là hàng hóa được sản xuất toàn bộ tại một nước (có danh mục quy
định các loại hàng cụ thể). Quy định hàng hóa được gia công đầy đủ là hàng hóa trong
quá trình sản xuất có hai hoặc nhiều nước tham gia (có quy định tiêu chuẩn gia công
đầy đủ. Khi hàng hóa nhập khẩu vào Nga, để được hải quan xác định đủ tiêu chuẩn
GSP thì doanh nghiệp phải chứng minh sự phù hợp về xuất xứ. Hải quan Nga quy định
rất chặt chẽ về giấy chứng nhận xuất xứ và có thể tiến hành điều tra xác minh khi có
dấu hiệu nghi ngờ.[8]
Về sản phẩm đồ gỗ nhập khẩu, hiện tại Nga tính thuế dựa trên lượng hàng, thuế
nhập khẩu 1.300 EU/tấn, thuế VAT 18% tính trên giá trị tối thiểu 5.000 USD/tấn. Kiểu
thu thuế của Nga là đồ gỗ chứa trong container vào cảng chạy qua bàn cân ( giống như
các trạm cân trên quốc lộ của Việt Nam) rồi tính khối lượng để tính thuế, nên hàng đồ
gỗ càng nặng, càng pha trộn nhiều kim loại thì càng bị đánh thuế cao.
Hàng nhập khẩu muốn được lưu thông hợp pháp trên thị trường Liên Bang Nga
phải hoàn chỉnh các thủ tục hải quan sau khi đã nộp xong thuế nhập khẩu, thuế VAT,

lượng cho tất cả các sản phẩm nhập khẩu đang được bày bán trong cửa hiệu của họ,
nếu vi phạm sẽ bị phạt một khoản tiền có thể lên tới 10.000 USD. [16]
Yêu cầu chung đối với tất cả các loại hàng hóa: Các hàng hóa được nhập khẩu
và lưu thông trên lãnh thổ Liên Bang Nga cần phải tuân thủ các điều luật của “Luật bảo
vệ người tiêu dùng và giải quyết các quan hệ giữa người mua và người bán trong khi
bán các hàng thực phẩm và phi thực phẩm”. Theo đó người bán hàng cần phải kịp thời
thông báo cho người mua báo cho người mua mọi thông tin chính xác và cần thiết về
hàng hóa và người sản xuất, đảm bảo cho việc lựa chọn hàng chính xác. [10]
Các thông tin bắt buộc về hàng hóa bao gồm: tên hàng, nhãn hiệu hàng hóa, nơi
sản xuất, tên người chịu trách nhiệm đối với hàng hóa ( khi có khiếu kiện, sửa chữa,
bảo hành), nêu rõ tiêu chuẩn mà hàng hóa đó phải đạt được, các thông tin về tính chất
tiêu dùng chung chủ yếu của hàng hóa, các quy định và điều kiện cần thiết để sử dụng
hàng hóa có hiệu quả và an toàn, thời gian và điều kiện bảo hành nếu hàng hóa được
đảm bảo, thời hạn sử dụng cũng như các khuyến cáo về các hậu quả xảy ra nếu hết các
thời hạn trên đối với các hàng hóa mà hết thời hạn sử dụng có thể gây ra các hậu quả
nghiêm trọng với cuộc sống, sức khỏe và tài sản của người mua hàng, hoặc không phù
hợp với ý nghĩa sử dụng của hàng hóa đó, giá cả và cách sử dụng hàng hóa. Các thông
tin trên được thể hiện dưới dạng mác hàng hóa và các giấy chứng nhận phù hợp với
tiêu chuẩn cho phép, bản sao giấy chứng nhận có chứng thực của người cấp, trong các
giấy tờ đi theo hàng hóa thì phải kèm vào mỗi hàng hóa xác nhận hàng hóa đó phù hợp
với các yêu cầu đặt ra ( số các giấy chứng nhận, thời hạn lưu hành, cơ quan cấp giấy
chứng nhận hoặc số đăng ký tờ khai phù hợp với tiêu chuẩn cho phép, thời hạn giấy
phép có hiệu lực). [10]
Các thông tin bắt buộc trên về hàng hóa phải thể hiện trên hàng hóa dưới dạng
bao bì hàng hóa, bao bì thương phẩm, giấy hướng dẫn sử dụng hàng hóa, yêu cầu với
mỗi loại hàng hóa đều được người nhập khẩu nêu rõ đối với nhà xuất khẩu. [10]
Về mặt hàng gỗ nhập khẩu vào Liên Bang Nga, yêu cầu về nhãn mác bao bì
phải theo tiêu chuẩn GOST R 51121-97, cần các kết luận vệ sinh phòng dịch theo các
tiêu chuẩn bảo vệ môi trường : GN2.1.6.1338-03; GH 2.1.6.1339-03; GH 2.3.3.972-00;
SP 2.6.1758-99. Giấy chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn GOST R 19917-93 [10]

Châu Á - Thái Bình Dương vẫn là một khu vực phát triển năng động, trong đó
Trung Quốc có vai trò ngày càng lớn. Sau khủng hoảng tài chính – kinh tế, nhiều nước
Asean và Đông Á đang khôi phục đà phát triển với khả năng cạnh tranh mới. Tình hình
đó tạo thuận lợi cho chúng ta trong hợp tác phát triển kinh tế, đồng thời cũng gia tăng
sức ép cả trong và ngoài khu vực. [31]
Năm 2008 vừa qua là năm thị trường gỗ thế giới biến động tương đối phức tạp.
Trong những tháng đầu năm giá gỗ biến động phức tạp tăng giảm không theo quy luật.
Tuy nhiên, trong 6 tháng cuối năm, cũng như các mặt hàng khác do chịu ảnh hưởng
của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, giá gỗ lại giảm mạnh xuống mức thấp nhất
kể từ năm 1991. Cuộc khủng hoảng đã khiến cho nhu cầu đi xuống với giá bất động
sản tại Mỹ sụp đổ và suy thoái kinh tế. [15]
1.2 Chiến lược phát triển xuất khẩu của Việt Nam
Chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2009 được quốc hội đề ra là 13%. Theo đó,
kim ngạch xuất khẩu năm 2009 là 70,85 tỷ USD với mục tiêu năm 2009 ổn định sản
xuất kinh doanh và xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế cạnh tranh. Một chiến lược
phát triển tổng thể các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của cả nước trong giai đoạn đầu
Việt Nam gia nhập WTO từ nay đến năm 2020 đã được xác lập, trong đó riêng ngành
chế biến gỗ phải đạt kim ngạch 5,5 tỷ USD. Theo các chuyên gia, với mục tiêu này khi
Việt Nam gia nhập vao WTO điều đó có thể thực hiện được, với điều kiện ngành phải
có những nỗ lực rất lớn, đồng thời phải khắc phục ngay những nhược điểm mà trước
tiên đó là sự tăng trưởng thiếu bền vững và mất cân đối giữa các thành phần doanh
nghiệp
2. Vai trò của việc xuất khẩu sản phẩm gỗ
Ngành chế biến xuất khẩu gỗ đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược
khuyến khích xuất khẩu của Việt nam giai đoạn 2001-2020. Trong những năm gần đây,
sản phẩm gỗ đã trở thành một trong năm mặt hàng xuất khẩu lớn của Việt Nam. Kim
ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam liên tục tăng cao từ năm 2000 đến nay. Năm
2007, đồ gỗ đứng thứ 5 trong số các mặt hàng xuất khẩu lớn nhất. Liên tục trong 6 năm
qua, đồ gỗ là một trong những nhóm hàng có tốc độ tăng trưởng nóng, với mức tăng
bình quân từ 28%-40%/năm. Giá trị xuất khẩu đồ gỗ tăng gấp 10 lần, đã đưa mặt hàng

1. Điều kiện và tiềm năng sản xuất gỗ của Việt Nam
1.1 Vị trí địa lý
Việt Nam nằm ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, khu vực đang có những
dòng giao lưu kinh tế sôi động nhất thế giới và cũng là trung tâm trung chuyển của các
tuyến giao thông quan trọng. Vì thế, Việt Nam có rất nhiều lợi thế trong giao thương
quốc tế. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có tiềm năng mạnh về giao thông với bờ biển dài
3444 km, cùng nhiều cảng biển trải dài từ Bắc đền Nam là những cửa ngõ giao lưu
kinh tế thuận lợi. Đồng thời do điều kiện vị trí địa lý , Việt Nam dễ dàng tiếp cận được
nguồn nguyên liệu dồi dào các quốc gia tiếp giáp như Trung Quốc, Lào, Campuchia,
và nằm gần những quốc gia cung cấp nguồn nguyên liệu gỗ hàng đầu thế giới như
Indonesia, Malaysia.
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới và một phần ôn đới ở
khu vực núi cao. Đất nước lại chạy dài theo nhiều vĩ độ, hình thành nên nhiều vùng
sinh thái khác nhau. Đặc điểm khí hậu này tạo sự đa dạng, phong phú cho rừng Việt
Nam nói chung và về các chủng loại gỗ nói riêng, đồng thời cho phép tổ chức các hoạt
động khai thác, chế biến quanh năm.
Những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý của Việt Nam đã tạo cho nước ta một
môi trường kinh tế năng động, linh hoạt, giảm được chi phí vận chuyển, mở rộng được
thị trường xuất khẩu hàng hóa và các hoạt động dịch vụ khác.
1.2 Nguồn nguyên liệu
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, diện tích rừng Việt
Nam hiện có là 10,916 triệu ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 9,44 triệu ha, diện
tích rừng trồng lá 1,47 triệu ha, trữ lượng là 720,9 triệu m3 gỗ, độ che phủ là 33,2%.
Để bảo vệ rừng và giới hạn khai thác gỗ từ những rừng tự nhiên tại địa phương chỉ
khoảng 300.000m3 mỗi năm trong giai đoạn 2000 đến 2010, chủ yếu để phục vụ cho
nhu cầu xây dựng, sản xuất đồ gỗ trong nước (250.000 m3) và sản xuất hàng thủ công
mỹ nghệ xuất khẩu (50.000 m3). Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đang
triển khai chương trình trồng mới khoảng 5 triệu ha rừng và cho đến năm 2010 Việt
Nam sẽ có thêm 2 triệu ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và 3 triệu ha rừng sản xuất.
Mặc dù trữ lượng gỗ Việt Nam đã bị giảm đi rất nhiều vì những lý do như tình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status