giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển thông tin di động của công ty viễn thông quân đội Viettel tại Thừa Thiên Huế - Pdf 24

PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Viễn thông là một ngành kinh tế thuộc kết cấu hạ tầng kỹ thuật của nền
kinh tế quốc dân, đồng thời là một công cụ phục vụ sự chỉ đạo của Đảng và
Nhà nước. Mặc khác, Viễn thông còn có nhiệm vụ phục vụ quảng đại quần
chúng nhân dân khắp mọi nơi, vào mọi lúc theo yêu cầu cơ bản là: nhanh
chóng, chính xác, an toàn, thuận tiện và thỏa mãn nhu cầu về dịch vụ.
Giai đoạn phát triển xã hội hiện nay là giai đoạn bùng nổ thông tin.
Trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật phát triển, mối quan hệ giữa các
đối tác không ngừng được mở rộng, lượng thông tin đòi hỏi phải xử lý tăng
với tốc độ cao hơn nhiều so với tốc độ tăng quy mô sản xuất kinh doanh. Lúc
này thông tin trở thành một nguồn lực quan trọng của mỗi quốc gia, được chú
ý quan tâm như một nguồn tài nguyên đất nước. Thông tin được xem như một
nguồn lực không bao giờ cạn kiệt và nó ngày càng tăng lên về mặt số lượng
và hoàn thiện về mặt chất lượng.
Thừa Thiên Huế là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của
miền Trung, có thành phố Huế được Chính phủ công nhận là đô thị loại I, là
thành phố đang phấn đấu trở thành thành phố Festival của cả nước, có quần
thể di tích được công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Do đó, việc cung cấp
thông tin di động với chất lượng cao, hiệu quả và ngày càng phát triển là một
trong những điều kiện cơ bản để góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước ta nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng.
Có lẽ chưa bao giờ thị trường thông tin di động lại phát triển mạnh mẽ
như một vài năm trở lại đây và cũng trong sự phát triển đó cho thấy mức độ
cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ trên thị trường như MobiFone,
1
VinaPhone, Viettel, Sfone, HT Mobile ngày càng trở nên khốc liệt. Mỗi nhà
cung cấp đều đưa ra những chiến lược, chiến thuật kinh doanh để giành giật
cũng như bảo vệ thị phần của mình trên thị trường.
Chính thức tham gia vào thị trường di động tháng 10/2004, với tư cách

thực tế thông qua việc điều tra phân tích 200 người sử dụng điện thoại di động
tại huyện Phú Lộc, Hương Thủy, Phong Điền và thành phố Huế.
Từ các chỉ tiêu thu thập này tiến hành phân tích, tìm ra các nhân tố ảnh
hưởng và đề xuất các biện pháp giải quyết chủ yếu nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh và phát triển công ty Viễn thông Quân đội tại Thừa Thiên Huế.
Phạm vi về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu năng lực cạnh
tranh và phát triển của công ty Viễn thông Quân đội ở huyện Phú Lộc, Hương
Thuỷ, Phong Điền, thành phố Huế.
Phạm vi về thời gian: các tài liệu phục vụ đánh giá hiện trạng được thu
thập trong khoảng thời gian từ 10/2004 đến năm 2006, các cơ chế, chính sách,
định hướng giải pháp xây dựng, đề xuất cho các năm đến 2010 và định hướng
đến năm 2020.
3
PHẦN II
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ
CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA THÔNG TIN DI ĐỘNG
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, phát triển
1.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh (competition)
Trong kinh tế, cạnh tranh là đấu tranh để giành lấy thị trường tiêu thụ
sản phẩm (hàng hoá, dịch vụ) bằng các phương pháp và biện pháp khác nhau
như kỹ thuật, kinh tế, chính trị, quân sự, tâm lý xã hội. Biện pháp kỹ thuật là
áp dụng công nghệ hiện đại, máy móc thiết bị tiên tiến, công nhân có trình độ
cao; biện pháp kinh tế như trợ cấp tài chính, bảo hộ, cho vay ưu đãi, bán phá
giá, vv ; biện pháp chính trị - kinh tế là dùng áp lực chính trị để buộc đối
phương phải nhượng bộ một hoặc một số điều kiện thương mại nào đó có lợi
cho mình; biện pháp quân sự như gây chiến tranh cục bộ, hoặc chiến tranh thế
giới để gây ảnh hưởng và chiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm. [17]

- Quảng cáo cạnh tranh (competitive advertising): Thuyết phục người
tiêu dùng mua hàng hoá hay dịch vụ của mình hơn là mua của người khác.[3]
1.1.1.3. Năng lực cạnh tranh (competitive)
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo
ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn
đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển
bền vững.[17]
5
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp người ta dựa vào
nhiều tiêu chí: thị phần, doanh thu, lợi nhuận và tỉ suất lợi nhuận, thu nhập
bình quân, phương pháp quản lý, bảo vệ môi trường, uy tín của doanh nghiệp
đối với xã hội, tài sản của doanh nghiệp nhất là tài sản vô hình, tỉ lệ công
nhân lành nghề, tỉ lệ đội ngũ quản lý giỏi, nghiên cứu và sáng tạo v.v
Những yếu tố đó tạo cho doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh, tức là tạo cho
doanh nghiệp có khả năng triển khai các hoạt động với hiệu suất cao hơn các
đối thủ cạnh tranh, tạo ra giá trị cho khách hàng dựa trên sự khác biệt hoá
trong các yếu tố của chất lượng hoặc chi phí thấp hoặc cả hai”.[17]
Theo ThS. Phạm Đức Trường: “Năng lực của công ty là tất cả những gì
mà công ty có thể sử dụng để cạnh tranh trong việc thực hiện mục tiêu đáp
ứng nhu cầu thị trường và mục tiêu của Doanh nghiệp”.
Năng lực của công ty không những là các yếu tố hữu hình mà khách hàng
có thể nhìn thấy được như công nghệ sử dụng trong cung cấp dịch vụ, dây chuyền
sản xuất, đội ngũ cán bộ công nhân viên… mà còn có cả những yếu tố vô hình
nữa. Các yếu tố vô hình này như dịch vụ khách hàng, thái độ của đội ngũ bán
hàng, khách hàng cảm nhận về công ty sau mỗi lần giao dịch…
- Có sức cạnh tranh (competitive): Có giá rẻ hơn và có chất lượng tốt
hơn so với những sản phẩm khác thuộc cùng một loại; có khả năng hấp dẫn
khách hàng, làm cho khách hàng bỏ rơi những mặt hàng cùng loại của các đối
thủ cạnh tranh trên thị trường.[3]
- Sức cạnh tranh (competitive power): Khả năng giành được trên thị

tiên mua của khách hàng.[3]
- Phân tích đối thủ cạnh tranh (competitive analysis): Việc các nhà
sản xuất và các nhà bán buôn tiến hành khảo soát một cách cẩn trọng những
7
sản phẩm-hàng hóa đang cạnh tranh với những sản phẩm-hàng hóa của chính
bản thân mình trên thị trường và tìm ra những phương cách để thay đổi hay
hoàn thiện hơn những sản phẩm-hàng hóa của mình sao cho chúng chiếm
được một tỷ phần lớn hơn của thị trường. Việc này là một bộ phận trong công
cuộc nghiên cứu thị trường.[3]
- Người thách thức thị trường (market challengers): Những người
bán một mặt hàng, mà được xếp hạng thứ hai, thứ ba theo tỷ phần thị trường
và đang ở thế thách thức những người bán đang cần đến thị trường. Trong
trường hợp này, họ có thể chọn phương án không tấn công những người đó để
tăng tỷ phần thị trường của mình lên mà chỉ tìm cách duy trì vị trí của họ hiện
có trên thị trường bằng cách thụ động đi theo các chiến lược của những người
dẫn đầu thị trường về mặt hàng, giá cả và xúc tiến thương mại. Như vậy, họ
được gọi là những người đi theo thị trường (market follower).[3]
1.1.1.5. Phát triển (development)
- Phát triển: Việc ứng dụng những kết quả của công cuộc nghiên cứu
để sản xuất những sản phẩm mới và hoàn thiện hơn.[3]
- Các chi phí phát triển (development costs): các chi phí để phát triển
kiến thức khoa học, kỹ thuật sao cho nó được dùng để sản xuất những sản
phẩm, những phương pháp, những hệ thống, những dịch vụ mới về chất hay
được cải tiến ở một mức độ quan trọng. Những chi phí này phát sinh trước khi
bắt đầu sản xuất thương mại loại mặt hàng ấy.[3]
1.1.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh bưu chính viễn thông
- Tính vô hình của sản phẩm dịch vụ Bưu chính Viễn thông
- Quá trình sản xuất kinh doanh Bưu chính Viễn thông mang tính dây chuyền
- Quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ sản phẩm
- Tải trọng không đồng đều theo thời gian, không gian

T
- chất lượng tổ chức của doanh nghiệp (điểm số).
m
i
- hệ số quan trọng của tiêu chí phụ thứ i.
q
i
- điểm số của tiêu chí phụ thứ i.
9
1.1.3.2. Trình độ của đội ngũ lãnh đạo
Trong tiêu chí này có các tiêu chí phụ như sau:
a. Trình độ tư tưởng, chính trị, đạo đức (5 bậc trình độ theo trọng số).
b. Trình độ học vấn (phân bậc như a.)
c. Trình độ văn hoá (phân bậc như a.)
d. Trình độ quản trị doanh nghiệp (hiệu lực, hiệu quả các quyết định) –
phân bậc như a.).
Nếu doanh nghiệp nào có tỷ lệ cán bộ lãnh đạo tốt cao hơn sẽ có năng
lực cạnh tranh (về tiêu chí này) cao hơn. Như vậy, trình độ lãnh đạo có thể
xác định theo công thức: T
L
= m
L
/ M
L
Trong đó: T
L
- tỷ lệ cán bộ lãnh đạo có trình độ tốt (%), bao gồm khá,
tốt và giỏi.
m
L

cấp năng lượng, hệ thống nước, công nghệ sản xuất và quản lý, mạng thông
tin. Ở đây người ta muốn đánh giá chất lượng của các yếu tố đó. Chất lượng
mỗi nhóm (tiêu chí phụ) này chia thành 5 cấp: tiêu chí phụ “công nghệ quản
lý” là quan trọng nhất, tiêu chí phụ “mạng công nghệ quản lý” là quan trọng
thứ hai, v.v Có thể sử dụng công thức sau để tính:
1
k
c i i
i
Q m q
=
= ×

Trong đó: Q
c
- chất lượng cơ sở vật chất, kỹ thuật của doanh nghiệp (điểm).
m
i
- hệ số quan trọng của từng yếu tố.
q
i
- chất lượng của từng yếu tố (điểm)
1.1.3.6. Năng lực tài chính doanh nghiệp
Năng lực tài chính là yếu tố rất quan trọng để xem xét tiềm lực của
doanh nghiệp mạnh, yếu như thế nào. Trong tiêu chí này có 4 nhóm chỉ tiêu
chủ yếu.
1.1.3.6.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn của
doanh nghiệp: nhóm này có 3 hệ số, mỗi hệ số có thể chia ra 5 bậc.
1. Hệ số khả năng thanh toán hiện hành (Current Ratio) = Tổng tài sản
lưu động / Tổng nợ ngắn hạn

Cho biết cơ cấu vốn của doanh nghiệp có hợp lý không và có phù hợp
với đặc điểm kinh doanh của mình không.
1.1.3.6.3. Nhóm các chỉ tiêu về năng lực hoạt động hay hiệu suất sử dụng
vốn: mỗi chỉ tiêu thành phần (1,2,3,4) chia ra 5 bậc.
1. Vòng quay hàng tồn kho (Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho) =
Doanh thu thuần / Hàng tồn kho.
Đây là chỉ tiêu quan trọng bởi vì dự trữ hàng hoá, vật tư là để sản xuất
kinh doanh và sản xuất ra sản phẩm là để tiêu thụ nhằm đạt được lợi nhuận
cao, nếu dự trữ quá mức hàng tồn kho chậm dẫn đến số vòng quay hàng tồn
kho chậm (thấp) nên sinh lợi kém. Tuy nhiên, do luôn cần lượng dự trữ nhất
định hàng tồn kho để đảm bảo kinh doanh bình thường nên tỉ số này không
phải càng cao càng tốt mà cần ở mức tối ưu.
2. Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản thu / Doanh thu bình quân một
ngày
Chỉ tiêu này đo lường khả năng thu hồi vốn trong kinh doanh. Kỳ thu
tiền bình quân thấp thì vốn của doanh nghiệp ít bị đọng trong thanh toán. Tuy
nhiên cần xem xét với chính sách tín dụng thương mại nhằm mục tiêu mở
rộng thị trường của doanh nghiệp. Để tránh bị ứ đọng vốn, doanh nghiệp cần
đôn đốc khách hàng trả nợ kịp thời và tìm khách hàng làm ăn có uy tín.
3. Số vòng quay vốn cố định (Hiệu quả sử dụng vốn cố định) = Doanh
thu thuần / Giá trị tài sản cố định
Chỉ tiêu này đo lường hiệu suất sử dụng tài sản cố định xem một đồng
vốn cố định tạo ra được mấy đồng doanh thu. Tỷ số này càng cao càng tốt.
13
4. Hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản = Doanh thu thuần / Tổng tài sản
hay Tổng vốn đầu tư.
1.1.3.6.4. Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả: là nhóm chỉ tiêu quan trọng
đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ, là căn cứ để đưa ra các quyết
định trong tương lai. Mỗi chỉ tiêu thành phần chia 5 bậc.
1. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = Lợi nhuận / Doanh thu x 100(%)

- chỉ tiêu tổ hợp của một sản phẩm, đơn vị đo là điểm số.
m
i
- hệ số quan trọng của chỉ tiêu thứ i
q
i
- chỉ tiêu thứ i, quy ra điểm.
k - lượng các chỉ tiêu cần đưa vào xem xét.
So sánh Q
a
của các sản phẩm cùng loại cả các doanh nghiệp với nhau ta
sẽ chọn ra được sản phẩm của doanh nghiệp nào đạt tốt nhất. Doanh nghiệp
nào có nhiều sản phẩm đạt chất lượng tốt nhất, doanh nghiệp đó sẽ có năng
lực cạnh tranh cao nhất theo tiêu chí trên.
1.1.3.8. Thị phần của doanh nghiệp
Thị phần là phần thị trường mà doanh nghiệp bán được sản phẩm của
mình một cách thường xuyên và có xu hướng phát triển. Thị phần càng lớn
chứng tỏ sản phẩm của doanh nghiệp được khách hàng, người tiêu dùng ưa
chuộng, NLCTS cao. Để phát triển thị phần, ngoài chất lượng, giá cả, doanh
nghiệp còn phải tiến hành công tác xúc tiến thương mại, tổ hiệu và uy tín của
doanh nghiệp nữa. Như vậy, chúng ta thấy rằng “thị phần” là một tiêu chí
quan trọng đánh giá NLCTDN. Tiêu chí này cũng có thể chia ra 5 bậc và
được tính theo công thức:


=
(%)100/ xDDT
iDNP
T
p

tính toàn cầu. Thế giới đánh giá cao tiêu chí này đối với các doanh nghiệp. Để
có NLCT cao, sản phẩm làm ra không được gây ô nhiễm môi trường (trong
phạm vi và ngoài phạm vi doanh nghiệp) bao gồm ô nhiễm không khí, ô
nhiễm nguồn nước và ô nhiễm sự yên tĩnh. Các sản phẩm của doanh nghiệp
phải có nhãn sinh thái, doanh nghiệp phải có chứng chỉ an toàn môi trường
theo ISO.14000, hoặc theo tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn Việt Nam.
Việc đánh giá tiêu chí này phức tạp vì nó bao hàm nhiều chỉ tiêu mà phạm vi
ảnh hưởng của nó đôi khi khó xác định. Tuy vậy, phần lớn các chỉ tiêu hoá,
lý, sinh, đều lượng hoá được bằng các dụng cụ đo chính xác.
1.1.3.11. Giá trị vô hình của doanh nghiệp
16
Giá trị vô hình là tiêu chí mang tính tổng hợp. Giá trị này có được là do
quá trình phấn đấu bền bỉ theo định hướng và chiến lược phát triển đúng đắn,
hợp đạo, hợp lý của doanh nghiệp, được xã hội và cộng đồng doanh nghiệp
trong và ngoài nước biết đến.
Giá trị vô hình của doanh nghiệp gồm hai bộ phận. Thứ nhất là uy tín,
danh tiếng của doanh nghiệp, được phản ánh chủ yếu ở “văn hoá doanh
nghiệp”, bao gồm trang phục, văn hoá ứng xử, hoàn thành nghĩa vụ đối với
Nhà nước, hoạt động từ thiện, kinh doanh minh bạch, v.v Thứ hai là giá trị
của tài sản nhãn hiệu. Những nhãn hiệu lâu đời, có uy tín cao thì giá trị càng
cao. Muốn có được giá trị thương hiệu cao doanh nghiệp phải thường xuyên
đổi mới, tạo sự khác biệt về chất lượng và phong cách cung cấp sản phẩm
Sau khi đã xem xét và đánh giá doanh nghiệp qua các tiêu chí chúng ta
sẽ có điểm số của từng tiêu chí. Cộng các điểm đó lại chúng ta có điểm đánh
giá chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. So sánh tổng điểm của
từng doanh nghiệp với nhau chúng ta sẽ có được kết luận về năng lực cạnh
tranh của từng doanh nghiệp.
Theo Thạc sỹ Nguyễn Tất Thịnh: Chín tiêu chí về năng lực phát
triển của doanh nghiệp là:
1. Năng lực ban lãnh đạo

lẻ trên địa bàn.
5. Cạnh tranh về sản phẩm: sự đa dạng gói cước dịch vụ, chất lượng
cuộc gọi
6. Thị phần doanh nghiệp
7. Kinh nghiệm kinh doanh: Tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận.
Từ những đánh giá trên, phân tích ma trận SWOT.
18
1.1.4. Kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.4.1 Doanh thu
Doanh thu của doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông gồm các loại:
a. Doanh thu từ hoạt động kinh doanh và phục vụ: doanh thu về cung
cấp dịch vụ bưu chính viễn thông, tiền bán sản phẩm, hàng hoá, cung ứng,
hoạt động của Công ty tài chính Bưu điện, của các đơn vị sự nghiệp có thu và
cung cấp các dịch vụ khác sau khi trừ (-) các khoản hoàn cước, giảm giá hàng
bán, hàng bán bị trả lại; thu từ trợ cấp, trợ giá của Nhà nước khi thực hiện các
nhiệm vụ cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước và phụ thu
do Nhà nước quy định
b. Doanh thu từ các hoạt động khác bao gồm: các khoản thu từ hoạt
động đầu tư tài chính và các hoạt động bất thường.
- Doanh thu từ các hoạt động đầu tư tài chính bao gồm các khoản thu:
+ Từ các hoạt động liên doanh liên kết; góp vốn cổ phần; lãi tiền gửi,
tiền cho vay (trừ tiền lãi phát sinh từ nguồn vốn vay đầu tư xây dựng cơ bản);
tiền lãi trả chậm của việc bán hàng trả góp; tiền hổ trợ lãi suất tiền vay của
Nhà nước trong kinh doanh (nếu có); thu từ hoạt động mua bán chứng khoán
(trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu)
+ Từ hoạt động nhượng bán ngoại tệ hoặc thu nhập về chênh lệch tỷ
giá nghiệp vụ ngoại lệ theo quy định của Bộ Tài chính;
+ Hoàn nhập số dư dự phòng giảm giá chứng khoán;
+ Tiền cho thuê tài sản đối với đơn vị thuê tài sản không phải là hoạt
động kinh doanh thường xuyên.

BCVT có tạo được lợi nhuận hay không? Vị thế lợi nhuận BCVT được coi là
đòn bẩy kinh tế quan trọng đảm bảo tình hình tài chính của doanh nghiệp
BCVT được vững chắc.
Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp nói lên kết quả của toàn bộ
hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu doanh nghiệp BCVT phấn đấu cải tiến hoạt
động sản xuất kinh doanh làm giảm giá thành sản phẩm thì lợi nhận sẽ tăng lên
một cách trực tiếp. Ngược lại nếu chi phí cao, giá thành sản phẩm tăng thì lợi
nhuận sẽ trực tiếp giảm bớt. Vì vậy, lợi nhuận là một chỉ tiêu quan trọng nhất để
đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh BCVT.
20
Lợi nhuận còn là nguồn tích luỹ cơ bản để mở rộng tái sản xuất xã hội,
sự tham gia đóng góp của các doanh nghiệp BCVT vào ngân sách Nhà nước;
phản ánh ở số thuế thu nhập mà doanh nghiệp BCVT đã nộp.
Như vậy, lợi nhuận BCVT là nguồn để tái sản xuất mở rộng và là kết quả
của hoạt động sản xuất kinh doanh BCVT, tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng không
thể coi lợi nhuận BCVT là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá chất lượng hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp BCVT khác nhau.
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
Ngày nay, ngành viễn thông của mỗi đất nước đang trên đường tiếp tục
đổi mới trong các lĩnh vực hoạt động dịch vụ và công nghệ để đáp ứng với xu
hướng phát triển của thế giới. Các công ty Viễn thông ngày nay càng trở nên
lớn mạnh và đang bắt đầu vượt qua các biên giới quốc gia theo những cách
mà trước đây chúng ta chưa bao giờ nghĩ tới. Ngày nay, người ta có thể nhận
thấy các hoạt động tư nhân hoá và hiện đại hoá các công ty Viễn thông trên
toàn thế giới như hội nhập, thôn tính và sự hợp tác của các công ty Viễn thông
từ một cực này của thế giới đến một cực khác.
Các công ty Viễn thông trên toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng.
Chính phủ Mỹ đã xem xét lại quy định độc quyền của mình và thực hiện phi
điều tiết đối với ngành Viễn thông và điều này cũng đang xảy ra tại nhiều
quốc gia trên thế giới. Ngày càng có nhiều Chính phủ nhận thấy rằng một thị

nhanh, tiềm năng sử dụng các dịch vụ và thiết bị di động của Việt Nam khá
lớn. Đó là nhận định chung của các chuyên gia Viễn thông, các công ty quốc
tế tham dự Hội thảo Mobile Vietnam 2004, lần đầu tiên được tổ chức tại Hà
Nội trong hai ngày 7 và 8/7.
22
GS Đỗ Trung Tá, Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông dự kiến: Đến
năm 2010, Việt Nam sẽ đạt 20 triệu thuê bao di động 2,5G (thế hệ 2,5) và
khoảng một triệu thuê bao 3 G (thế hệ thứ ba).
Tốc độ này ở Việt Nam chỉ đứng sau tốc độ tại Trung Quốc, Ấn Độ,
Indonesia trong khu vực Châu Á.
Trong bối cảnh có đa dạng lựa chọn và nhiều cạnh tranh như vậy, chắc
chắn các nhà cung cấp sẽ không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm dịch
vụ, cải tiến công nghệ và đãi ngộ khách hàng. Và do đó, chắc chắn sự lựa
chọn của người dùng di động Việt Nam cũng sẽ tiếp tục tăng lên so với hiện
tại và một năm trước đây. Người tiêu dùng sẽ thoải mái lựa chọn loại dịch vụ
và giá thành phù hợp với nhu cầu của mình.
Năm 2005, Viettel xuất hiện và tăng trưởng rất nhanh, chỉ trong vòng
hơn một năm đã đạt hai triệu thuê bao. “Đây là năm đầy thách thức đối với
hai mạng thông tin di động của chúng tôi. Viettel đã tăng trưởng quá nhanh”,
ông Trần Mạnh Hùng, Phó tổng giám đốc VNPT thừa nhận.
Viettel đã tạo ra cuộc đua giành thị phần qua hình thức khuyến mãi và
giảm cước liên tục trong năm qua, như: Miễn phí cuộc gọi nội mạng đầu tiên
kéo dài hơn một tháng, hạ giá sim xuống gần như biếu không; gọi nội mạng
miễn phí 24 giờ. Điều này đã khiến hai “đại gia” VinaPhone và MobiFone
chịu tính cước theo block 6 giây. MobiFone phải giảm đến 90% cước cuộc
gọi vào giờ thấp điểm; VinaPhone cũng phải miễn phí 449 block 6 giây cho
khách hàng hoà mạng mới.
Hiện thị trường có 3 nhà cung cấp sử dụng công nghệ GSM
(VinaPhone, MobiFone, Viettel) và 3 nhà cung cấp sử dụng CDMA (S-Fone,
Hanoi Telecom, EVN Telecom). Năm 2006 là bùng nổ giá cước cũng như

lớn của hai vùng kinh tế phát triển nhất nước ta - Thừa Thiên Huế là nơi giao
thoa về cả điều kiện tự nhiên - kinh tế và xã hội của cả hai miền Nam - Bắc.
Thừa Thiên Huế nằm trên trục giao thông quan trọng Bắc - Nam, trục hành
lang Đông - Tây, nối Thái Lan - Lào - Việt Nam theo đuờng bộ qua 2 cửa khẩu
A Đớt và Hồng Vân. Thành phố Huế là điểm dừng chính của đường sắt Bắc
Nam, có sân bay dân dụng Phú Bài. Sự thuận lợi trong việc giao lưu với các
vùng khác, đặc biệt là các vùng kế cận như thành phố Vinh (Nghệ An), thành
phố Đà Nẵng, nước bạn Lào,… là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội của Thừa Thiên - Huế.
25

Trích đoạn ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU Hiện trạng kinh tế tỉnh PHÂN TÍCH THỊ PHẦN CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP PHÂN TÍCH MA TRẬN SWOT Quan điểm [6], [15]
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status