Bộ giáo dục và đào tạo - Bộ QuốC PHòNG
HọC VIệN QUÂN Y
BùI NGọC DũNG
KHảO SáT TìNH HìNH TàN TậT Và đề xuất
biện pháp ĐIềU TRị PHụC HồI TRÊN BệNH NHÂN PHONG
Bệnh phong là một bệnh nhiễm khuẩn mạn tính do trực khuẩn
Mycobacterium leprae (còn gọi trực khuẩn Hansen) gây nên. Là một bệnh
lây, nhưng bệnh lây ít và rất khó lây. Bệnh phong ít gây tử vong, nhưng nếu
không được phát hiện và điều trị kịp thời người bệnh sẽ bị tàn tật. Sự khiếp
sợ đối với bệnh phong bắt nguồn từ những tàn tật, những dị hình của bệnh
nhân như: bộ mặt sù sì quái dị, bàn tay, bàn chân cò rụt, co quắp. Đó cũng là
nguồn gốc của những nhận thức sai lầm về bệnh phong, ảnh hưởng nặng nề
đến đời sống tinh thần của người bệnh. Vì thế phát hiện, điều trị sớm, phòng
ngừa tàn tật chiếm ưu tiên cao trong công tác quản lý bệnh phong.
Hiện nay, trên thế giới, ở các nước phát triển bệnh phong không còn là
vấn đề của y tế công cộng. Nhưng các nước đang và kém phát triển (các nước
thuộc Châu Phi, Châu Mỹ La tinh, Châu Á trong đó có Việt Nam) bệnh phong
vẫn là mối quan tâm của cộng đồng [48], đặc biệt là vấn đề tàn tật.
Năm 1982, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa đa hóa trị liệu (ĐHTL)
vào điều trị cho bệnh nhân phong thay thế trị liệu bằng DDS đơn thuần. Sau
hơn 20 năm áp dụng ĐHTL, nhiều nước trên thế giới đã hoàn thành chương
trình “Loại trừ bệnh phong” theo tiêu chuẩn của WHO [22], [45]. Việt Nam là
một nước có tỉ lệ bệnh phong tương đối cao, nhưng với nhiều nổ lực trong
công tác phòng chống bệnh phong, Việt Nam đã tiến hành thành công chương
trình “Loại trừ bệnh phong” vào năm 2000. Tỉ lệ lưu hành bệnh phong trên
phạm vi toàn quốc đã giảm từ 6,78/10.000 (1983) xuống 0,23/10.000 (2000)
và 0,1/10.000 (2006) [14], [15].
Tỉ lệ tàn tật của bệnh nhân phong ở Việt Nam còn rất cao so với thế giới,
số bệnh nhân bị tàn tật phân bố ở khắp các tỉnh thành trong cả nước. Theo ước
tính của Viện Da Liễu Quốc gia, cả nước có khoảng 18.000BN phong bị tàn
tật. Vấn đề phòng chống tàn tật và phục hồi chức năng cho bệnh nhân phong
- 2 -
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Căn nguyên và cách lây truyền bệnh phong
1.1.1. Căn nguyên gây bệnh
Bệnh phong gây ra do một loại trực khuẩn có tên là Mycobacterium
leprae, do nhà bác học người Na Uy tìm ra năm 1873 có đặc điểm [2], [3],
[5], [25]:
- Trực khuẩn gram dương, hình que chiều dài từ 1 - 8µm, rộng 0,2 - 0,5µm,
chu kỳ sinh sản từ 12 - 13 ngày.
- Đây là loại trực khuẩn kháng cồn kháng toan, nhuộm Ziehl - Neelsen bắt
màu đỏ, trực khuẩn ký sinh bắt buộc nội tế bào, chúng có ái tính đặc biệt với
tế bào schwann ở dây thần kinh, tế bào liên võng nội mô (có nhiều ở da).
1.1.2. Nguồn lây bệnh
Bệnh nhân phong, đặc biệt là những bệnh nhân thuộc nhóm nhiều vi
khuẩn (MB) chưa được điều trị.
1.1.3. Cách lây truyền
Trực tiếp từ người bệnh sang người lành.
- Đường bài xuất: bệnh nhân phong bài xuất vi khuẩn chủ yếu qua niêm mạc
mũi họng và qua các thương tổn loét, nứt ở da những bệnh nhân có nhiều vi
khuẩn (các thể BB, BL, LL) [41].
- Đường xâm nhập của trực khuẩn: trực khuẩn phong vào cơ thể chủ yếu qua
da và niêm mạc bị xây sát, lở loét. Ngoài ra có thể qua đường niêm mạc
mũi họng (đường hô hấp) [8].
1.1.4. Một số đặc điểm liên quan tới dịch tễ bệnh phong
- Giới: các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ bệnh ở nam cao hơn nữ [22].
- Tuổi: tuổi càng trẻ càng dễ mắc bệnh.
- Mức độ tiếp xúc với nguồn lây nhiễm tăng làm tăng nguy cơ mắc bệnh [67].
- 5 -
- Nhóm ít vi trùng - PB: bao gồm các bệnh nhân có từ 1 - 5 thương tổn da,
không hoặc chỉ có 1 dây thần kinh bị tổn thương, không tìm thấy trực khuẩn
phong ở các thương tổn (BI=0). Nhóm này bao gồm các thể I, TT và một ít
thể BT theo phân loại của Ridley và Jopling.
- Nhóm nhiều vi trùng - MB: bao gồm các bệnh nhân có trên 5 thương tổn da,
có trên 1 dây thần kinh bị tổn thương, tìm thấy trực khuẩn phong tại thương
tổn (BI+). Nhóm này bao gồm các thể BB, BL, LL và một ít thể BT theo phân
loại của Ridley và Jopling.
1.3. Tàn tật trong bệnh phong
1.3.1. Nguyên nhân gây ra tàn tật trong bệnh phong
Tổn thương thần kinh
Tổn thương TK vận động TK cảm giác TK thực vật
Tiên phát (loại ( giao cảm và phó giao cảm)
thương tổn do
bệnh gây nên) Cò ngón tay, Mất cảm giác Khô da, giảm tiết mồ
ngón chân, hở mi, hôi, rụng lông, teo mạch
méo miệng ngoại vi
Tổn thương Di lệch, chấn Bỏng và sang Rối loạn
Thứ phát (loại thương, vết thương chấn khác dinh dưỡng
thương tổn do
bệnh nhân
không được Nhiễm trùng
giáo dục y tế)
Cụt rụt ngón tay, ngón chân, bàn tay,
bàn chân, loét giác mạc, giảm thị lực, mù lòa
Độ 0: không tổn thương, thị lực không bị ảnh hưởng.
Độ I: có tổn thương nhưng thị lực ảnh hưởng không nghiêm trọng (có
thể đếm được ngón tay ở khoảng cách 6 mét).
- 7 -
Độ II: thị lực bị ảnh hưởng nghiêm trọng, không đếm được ngón tay ở
khoảng cách 6 mét, có mắt hở mi hay thường gọi “mắt thỏ”, đục giác
mạc, viêm mống mắt thể mi.
1.3.2.2. Các loại hình tàn tật
Các loại hình tàn tật ở bệnh nhân phong xảy ra chủ yếu ở 3 vùng của cơ
thể: vùng mặt (tập trung ở mắt, mũi), chi trên (tập trung ở bàn tay) và chi dưới
(tập trung ở cẳng, bàn chân) [25], [26], [47].
- Vùng mặt
+ Sụp cầu mũi.
+ Chứng hở mi (mắt thỏ).
+ Méo miệng do liệt thần kinh VII ngoại biên.
+ Mù lòa.
- Chi trên
+ Cò cứng.
+ Cò mềm.
+ Teo cơ liên cốt.
+ Cụt, rụt ngón/bàn.
- Chi dưới
+ Chân cất cần (bàn chân rủ).
+ Teo cơ liên cốt.
+ Loét lỗ đáo.
+ Bàn chân lật.
+ Cụt, rụt ngón/bàn.
1.3.3. Viêm dây thần kinh trong bệnh phong và những hậu quả của nó
+ Các chức năng thần kinh không thể hồi phục mặc dù được điều trị.
Các dây thần kinh ngoại biên hay bị tổn thương trong bệnh phong là dây
thần kinh: trụ, giữa, quay, mác chung, chày sau, dây VII, dây V. - 9 -
1.3.3.2. Hậu quả của viêm dây thần kinh
Khi dây thần kinh bị tổn thương ở một vị trí nào đó, đường dây liên lạc
này bị cắt đứt sẽ gây nên các hậu quả [42], [52]:
- Rối loạn cảm giác hoặc mất cảm giác.
- Khô da, dinh dưỡng kém.
- Yếu cơ hoặc liệt cơ, biến dạng khớp.
- Mắt hở mi, mất cảm giác giác mạc.
phụ thuộc vào công tác tuyên truyền giáo dục y tế cho bệnh nhân, trình độ văn
hóa, nhận thức của bệnh nhân phong đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp thu
một số kiến thức cơ bản về bệnh phong. Nó ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức
của họ về bệnh phong, dẫn đến họ thường đến cơ sở y tế muộn và sẽ bị tàn tật.
Tuy nhiên, nhờ tiến bộ của y học và các hoạt động của chương trình
phòng chống bệnh phong, nhận thức của cộng đồng đã được cải thiện rất
nhiều về tình trạng mặc cảm với người mắc bệnh phong [9], [38].
1.4.2.2. Theo thể bệnh
Bệnh nhân thuộc nhóm nhiều vi khuẩn (MB) nguy cơ xảy ra tàn tật cao
hơn bệnh nhân nhóm ít vi khuẩn (PB).
- 11 -
1.4.2.3. Tuổi, giới và nghề nghiệp
Tuổi càng cao tỉ lệ xảy ra tàn tật càng nhiều, nam giới bị tàn tật nhiều
hơn nữ giới, những người làm nghề nặng nhọc, các nghề lao động chân tay
càng dễ xảy ra tàn tật [38].
1.4.3. Các hoạt động phòng chống bệnh phong ảnh hưởng đến tàn tật trong
bệnh phong
1.4.3.1. Công tác khám phát hiện
Chúng ta nên áp dụng các phương pháp khám phát hiện bệnh nhân
phong mới cho phù hợp như ở tỉnh Gia Lai có thể thay phương pháp 5 bước
cải tiến bằng thực hiện các dự án hành động đặc biệt, phương pháp khám sàng
lọc qua hình ảnh, khám người tiếp xúc, nhằm đạt hiệu quả cao là “phát hiện
bệnh sớm”. Nhằm giảm thiểu tối đa tàn tật xảy ra trước điều trị [9].
1.4.3.2. Công tác giáo dục y tế tuyên truyền về bệnh phong
Đi đôi với các hình thức khám phát hiện, chúng ta cần đẩy mạnh công
tác tuyên truyền giáo dục y tế toàn dân bằng nhiều hình thức như: truyền
thanh, truyền hình, các loại hình truyền thông khác như pano - tờ rơi - áp
phích và thông tin qua cộng đồng, để nâng cao tầm nhận thức của cộng
Bảng 1.1. Phân bố bệnh phong trên thế giới năm 2006 (WHO - 2007)
Châu lục/Vùng
Bệnh nhân
điều trị
Tỉ lệ
lưu hành
Bệnh nhân
mới
Tỉ lệ
phát hiện
Châu Phi
29.548
0,55
27.902
5,15
Châu Mỹ
64.715
0,76
47.612
5,58
Đông Địa Trung Hải
3.986
0,09
3.261
0,71
Đông Nam Châu Á
116.663
0,70
174.118
10,51
22,7
Madagasca
2.094
1,1
2.709
14,6
Mozambic
4.889
2,5
5.371
27,1
Brazil
27.313
1,5
38.410
20,6
Tanzania
4.190
1,1
4.237
11,1
Congo
9.785
1,7
10.737
18,7
- Tình hình tàn tật bệnh phong trên thế giới:
Trên thế giới, ước tính hiện nay có khoảng 2 - 3 triệu bệnh nhân phong
sau khi được điều trị khỏi còn để lại di chứng tàn tật nặng (theo hiệp hội
Tính đến cuối năm 2006 có 64/64 tỉnh/thành đã đạt được tiêu chuẩn loại
trừ bệnh phong của WHO (TLLH < 1/10.000 dân), 31/64 tỉnh/thành đã đạt
được 4 tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong của Việt Nam. Vẫn còn một số tỉnh có
TLLH và TLPH còn cao như: Kon Tum, Gia Lai, Ninh Thuận, Tây Ninh [15].
- Tình hình tàn tật trên bệnh phong ở Việt Nam: tỉ lệ tàn tật trên bệnh nhân phong
ở Việt Nam vẫn còn cao so với các nước trên thế giới cũng như trong khu vực
nhưng đã giảm nhiều so với trước năm 1990 [24]. Theo số liệu của Viện Da liễu
Quốc gia, hiện nay có khoảng 18.000BN phong bị tàn tật (khoảng 3.772 người tại
các khu điều trị, 2.000 người sống tại các làng phong, số còn lại sống tại cộng
đồng) [13], [14]. Tỉ lệ tàn tật trong các bệnh nhân sống tại các khu điều trị phong
là 91,36%, còn ở các làng phong Tây Nguyên tỉ lệ này là 90 - 95%. Tỉ lệ tàn tật
của bệnh nhân phong đang sống tại cộng đồng thấp hơn, khoảng 63,97% [44].
Trung bình hàng năm phát hiện được 1000 - 1500BN phong mới, khoảng 17%
bệnh nhân bị tàn tật độ II [16], tỉ lệ tàn tật độ II trong bệnh nhân phong mới cũng
giảm từ 30,07% (1995) xuống 20,92% (2000) và 17,27% (2006) [14], [15].
- 15 -
1.5.3. Tình hình bệnh phong, tàn tật trong bệnh phong ở Gia Lai
- Vài nét khái quát về tỉnh Gia Lai [40]:
Gia Lai là một tỉnh nằm ở phía Đông Bắc của Tây Nguyên có diện tích
tự nhiên 15495.7 km
2
.
Toàn tỉnh có 14 huyện - Thị xã, 1 thành phố; 205 xã/phường/thị trấn,
1818 làng. Dân số 1.123.770 người, mật độ dân cư năm 2006 - 78 người/km
2
phân bố không đều. Có 34 dân tộc anh em đến đây sinh sống từ 51 tỉnh thành
trong cả nước. Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ 43,3%, trong đó dân tộc
Năm
Biểu đồ 1.1. Tỉ lệ phát hiện bệnh phong Gia Lai 1995 - 2006
Tỉ lệ lưu hành
1
/
10.000
Năm
Biểu đồ 1.2. Tỉ lệ lưu hành bệnh phong Gia Lai 1995 - 2006 3,9
2006
Tỉ lệ phát hiện
0,26
0,44
0,73
0,53
0,58
0,58
0,6
0,87
0,91
1,99
3,65
6,46
0
1
2
3
4
5
6
7
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tỉ lệ lưu hành
- 17 -
- Tình hình tàn tật trên bệnh phong ở Gia Lai [40]
Tỉ lệ tàn tật
o
Độ I
Độ II
BN đang điều trị
27
1
4
32
15,6
BN ngừng điều trị còn giám sát
182
2
66
250
27,2
BN ngừng giám sát còn săn sóc
tàn tật
0
22
516
538
100
Cộng
209
25
586
820
74,5
12,5
16
Quản
lý
BN
điều
trị
TLLH
BN
săn sóc
tàn tật
Tổng
số
TLPH
TT
độII
%
AyunPa
97.988
7
7,1
0
72
6
0,61
41
Chư Sê
143.241
10
1.6.2. Xử lý, phục hồi chức năng bệnh nhân phong tàn tật
1.6.2.1. Phục hồi thể chất
Phục hồi cơ thể cho một cá nhân để có thể có chức năng tốt nhất là điều
cốt yếu trước tiên và thường dễ đạt được hơn so với các mặt khác của phục
hồi [25], [61], [64].
- Phục hồi chức năng bằng vật lý trị liệu:
Các chỉ định điều trị phục hồi bằng VLTL
+ Mất cảm giác bàn tay, bàn chân chưa có biểu hiện cò cứng, cụt rụt ngón.
+ Ngón tay cò mềm chưa quá 6 tháng.
+ Chân cất cần chưa quá 6 tháng hoặc cất cần nhưng bệnh nhân còn tự gấp
được bàn chân.
+ Có biểu hiện mắt thỏ hoặc liệt mặt nhưng cơ vòng mi chưa bị liệt hoàn toàn.
- Phục hồi chức năng bằng phẫu thuật:
Các chỉ định chung điều trị phục hồi bằng phẫu thuật.
+ Trừ phẫu thuật giải áp thần kinh, phẫu thuật cho bệnh nhân phong chỉ áp
dụng với bệnh nhân đã bất hoạt lâm sàng, hoặc ít nhất đã hoàn thành đa hóa
trị liệu.
+ Tàn tật đã xảy ra 1 năm và không phục hồi được sau vật lý trị liệu.
+ Hợp tác tốt, trí tuệ bình thường.
+ Không có bệnh toàn thân trầm trọng: suy tim, cao huyết áp, suy thận, viêm
gan, đái đường, lao hoặc nếu có phải điều trị đạt đến giới hạn an toàn.
+ Không có ổ nhiễm khuẩn khu vực phẫu thuật.
+ Tuổi từ 15 - 60 (ưu tiên tuổi trẻ).
Các phương pháp phẫu thuật có thể gồm phẫu thuật chức năng và thẩm mỹ:
* Vùng mặt
- Chứng hở mi: có hai phương pháp thường dùng cho tật hở mi.
+ Khâu sụn mi hoặc đóng một phần khe hở mi: phẫu thuật này có thể làm ở
bên, ở giữa hoặc cả hai. Khâu sụn mi là phẫu thuật đơn giản nhất và công hiệu
- 21 -
+ Với bàn tay cò cứng thì cần thiết đến lý liệu pháp trước phẫu thuật. Dùng
gân gấp nông của ngón tay giữa hoặc ngón nhẫn. Gân được chẻ ra thành 4 cái
đuôi, đem gài vào các chẽ mu.
- Đối với liệt thần kinh giữa: có hậu quả là mất đối úp của ngón cái thì đem quặt gân
gấp nông của ngón nhẫn vào ngón cái. Phương pháp này khôi phục lại sự đối úp.
- Tổn hại nghiêm trọng cho cả 3 dây thần kinh trụ, giữa và quay hiếm xảy ra.
Cổ tay rủ có thể khắc phục bằng 3 loại chuyển.
+ Chuyển gân quay sấp tròn và dài vào gân ngắn và dài duỗi xương cổ tay quay.
+ Chuyển gân gấp xuống cổ tay quay vào gân chung duỗi ngón.
+ Chuyển gân gan tay vào gân dài gấp ngón cái.
* Bàn chân
- Đối với bàn chân rủ: đây là tàn tật thông thường nhất của bàn chân cần đến
phẫu thuật tái tạo. Phương pháp tiêu chuẩn là chuyển gân của cơ chày sau tới
chỗ bám của mu bàn chân.
- Phá hủy xương cổ chân: việc điều trị sẽ ít kết quả nếu không theo một thủ
thuật thận trọng. Khớp được cố định trong thạch cao đi được. Thạch cao
được bỏ đi để đi thử một cách thận trọng. Việc đi bộ tăng dần lên, có băng
đàn hồi đỡ và những thời gian nghỉ ngơi, cho đến khi các dấu hiệu viêm
nhiễm không quay trở lại.
- Ngón chân cò rụt: đối với ngón cái thì gỡ cơ dài duỗi ngón cái khỏi đốt đầu xa
và buộc nó vào đầu xương bàn chân thứ nhất và làm cứng khớp các khớp giữa
đốt. Đối với các ngón chân khác thì gân gấp dài được chuyển tới các chẽ duỗi.
- Cắt cụt: khi không còn cách nào để tạo vòm khỏe về cơ học, như sau sự hủy
hoại toàn bộ xương gót hoặc ngón chân thì chỉ còn cách cắt cụt. Cắt cụt cũng
được chỉ định khi có thêm nhiễm khuẩn nặng. Mỏm cụt càng dài càng tốt để
cho mỏm được phủ tốt bằng một lớp của cơ hoặc mô da dưới. Cắt cụt thường
làm ở 1/3 dưới hoặc giữa của cẳng chân. Chỉ cắt cao hơn khi có viêm tủy
- 23 -
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi gồm 293BN phong đang quản lý (có
179BN tàn tật) và những hồ sơ, bệnh án của bệnh nhân tại 02 huyện: AyunPa,
Chư Sê tỉnh Gia Lai năm 2006.
- Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:
Bệnh nhân phong tàn tật trong diện đang quản lý.
- Tiêu chuẩn loại trừ khỏi nghiên cứu những bệnh nhân sau
+ Bệnh nhân phong tàn tật không do bệnh phong (chấn thương, dị tật bẩm sinh…)
+ Bệnh nhân từ chối hợp tác, hoặc chuyển đi nơi khác.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
- Huyện AyunPa, Chư Sê tỉnh Gia Lai.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 03 năm 2007 đến hết tháng 07 năm 2007.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
- Theo phương pháp mô tả cắt ngang [20].
2.2.2. Nội dung nghiên cứu và các bước tiến hành
2.2.2.1. Nội dung nghiên cứu
- Xác định tình hình tàn tật và các loại hình tàn tật trên bệnh nhân phong.
- Đề xuất các biện pháp điều trị phục hồi trên bệnh nhân phong tàn tật.
1.2.2.2. Các bước tiến hành nghiên cứu
Teo khẩu độ ngón cái < 35
0
.
Liệt dạng đối ngón cái.
Teo mặt lưng ô mô cái (teo trái chanh).