614 Thanh toán không dùng tiền mặt tại các Ngân hàng thương Mại - Pdf 24

LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đã và đang chuyển đổi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị
trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước để đáp ứng yêu cầu lưu thông hàng
hoá một cách nhanh nhất thì hình thức TMKDTM ra đời. Tuy nhiên, thực
trạng thanh toán trong nền kinh tế của nước ta vẫn là sử dụng quá nhiều tiền
mặt. TTKDTM chưa phát triển kịp thời với nhịp phát triển chung của các
nước trên thế giới đặc biệt nó chưa được phổ biến trong tầng lớp dân cư.
Thực trạng trên thực sự là một trở ngại lớn đối với nền kinh tế Việt
Nam khi đang trong quá trình mở cửa để hội nhập với khu vực và thế giới nói
chung và trong lĩnh vực NH tài chính riêng. Các NH của Việt Nam bao gồm
cả NHTM quốc doanh và NHTM cổ phần phải chịu sự cạnh tranh đối với các
NH liên doanh và NH nước ngoài ở tất cả các sản phẩm dịch vụ NH.
Trên cơ sở đó, ngành NH nói chung và các NHTM Việt Nam nói riêng
tiếp tục đổi mới mạnh mẽ các hoạt động NH theo xu hướng hội nhập nâng cao
năng lực cạnh tranh. Những năm gần đây đã và đang tập trung nhiều giải pháp
hiện đại hoá thanh toán và mở rộng dịch vụ thanh toán, đặc biệt là TTKDTM,
một mặt đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, của dân cư; một mặt tăng thu nhập
từ dịch vụ, tăng lợi nhuận cho mỗi TTKDTM, một nội dung quan trọng của
chương trình cơ cấu lại các hoạt động của mình.
Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề em đã đi sâu tìm hiểu
công tác TTKDTM. Vì vậy, em đã chọn đề tài: "Một số giải pháp nhằm mở
rộng và hoàn thiện công tác TTKDTM tại các NHTM Việt Nam".
Với những hiểu biết còn hạn chế của một sinh viên cũng như thời gian tìm
hiểu thực tế chưa nhiều, bài viết này chắc chắn sẽ không tránh khỏi những
thiếu sót về mặt lý luận và thực tiễn. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của thầy cô và các bạn để bài viết của em được hoàn thiện hơn. Đặc biệt
em xin gửi lời cảm ơn tới cô giáo Võ Minh Thu đã giúp đỡ em hoàn thành bài
tiểu luận của mình.
1
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT

Như vậy, TTKDTM là cách thanh toán không có sự xuất hiện của tièn
mặt mà được thực hiện bằng cách trích dẫn gửi từ tài khoản của người chi trả
để chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng mở tại NH hoặc bằng cách bù
trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian cả NH.
2. Vai trò của TTKDTM trong nền kinh tế thị trường
2.1 Vai trò của TTKDTM đối với nền kinh tế
TĐKTM góp phần giảm tỉ trọng tiền mặt lưu thông, từ đó có thể tiết
kiệm được chi phí lưu thông như in ấn, phát hành, bảo quản, vận chuyển…
Mặt khác, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoach hoá và lưu thông tiền
tệ.
TĐKTM tạo điều kiện tập trung nguồn vốn lớn cho xã hội vào NH để
tái đầu tư cho nền kinh tế, phát huy vai trò điều tiết, kiểm tra của Nhà nước
vao hoạt động tài chính ở tầm vĩ mô và vi mô. Qua đó, kiểm soát được làm
phát đồng thời tại điều kiện nâng cao năng suất lao động.
2.2. Vai trò của TKDTM đối với NHTM
Các nhà tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh trong nền KTTT đều
quan tâm đến vấn đề thanh toán là: an toàn – tiện lợi- quay vòng vố nhanh.
NH trở thành trung tâm tiền tê - tín dụng – thanh toán trong nền kinh tế.
TDKDTM góp phần không nhỏ vào thành công đó của NH.
TĐKTM tạo điều kiện cho hoạt động huy động vốn của NH. TDKDTM
không những làm giảm được chi phí lưu thông mà còn bổ sung nguồn vốn
cho NH thông qua hoạt động mở tài khoản thanh toán của các tổ chức và cá
nhân. Như vậy, NH sẽ luôn có một lượng tiền nhất định tạm thời nhàn rỗi trên
các tài khoản này với chi phí thấp. Nếu sử dụng nguồn vốn này thi NH không
chỉ kiếm được lợi nhuận, giành thắng lợi trong cạnh tranh mà còn mang lại lợi
ích rất lớn cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
3
TDKDTM còn thúc đẩy quá trình cho vay. Nhờ có nguồn vốn tiền gửi
không kì hạn, NH còn có cơ hội để tăng lợi nhuận cho mình bằng cách cấp tín
dụng cho nền kinh tế. NH thu hút được nguồn vốn với chi phí thấp nên trên

2.4. Vai trò TDKDTM đối với cơ quan tài chính
Tăng tỉ trọng TDKDTM không chỉ có ý nghĩ tiết kiệm chi phí lưu
thông mà còn giúp cho công tác quản lý tài sản của doanh nghiệp được tốt
hơn. Nếu các giao dịch trong nền kinh tế được thực hiện chủ yếu bằng chuyển
khoản thì tiền chỉ chuyển từ tài khoản người này sang tài khoản người khác,
từ tài khoản của doanh nghiệp này sang tài khoản của doanh nghiệp khác, từ
NH này sang NH khác nên tiền tệ vẫn nằm trong hệ thống NH. Do đó, tổn
thất tài sản Nhà nước và tổn thất tài sản của người dân sẽ được hạn chết rất
nhiều.
Như vậy, trên cơ sở tài khoản tiền gửi và các tài khoản thanh toán qua
NH đã giúp cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý như bộ chủ quản, cơ quan
thuế…có điều kiện để kiểm tra, theo dõi doanh thu, chi phí, xác định kết quả
kinh doanh chính xác. Do đó giảm thiểu các tác động tiêu cực của các hoạt
động “kinh tế ngầm”, tăng cường tính chủ đạo của Nhà nước trong việc điều
tiết nền kinh tế và điều hành các chính sác kinh tế tài chính quốc gia, góp
phần làm lành mạnh hoá kinh tế – xã hội.
II. KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN TẮC TDKDTM
1.Khái niệm:
TTKDTM( thanh toán chuyển khoản ) là phương thức chi trả thực hiện
bằng cách trích một số tiền từ TK người chi trả chuyển sang TK người được
hưởng. Các TK này đều được mở tại NH.
2. Nguyên tắc TTKDTM:
Thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ phản ánh mối quan hệ kinh tế, pháp lý,
do đó các bên tham gia thanh toán phải bảo đảm các nguyên tắc có tính pháp
lý sau :
5
Người sử dụng dịch vụ thanh toán là tổ chức cá nhân thực hiện giao
dịch thanh toán đều phải mở TK thanh toán ở các NH hoặc các tổ chức khác
làm dịch vụ thanh toán và có quyền lựa chọn NH để mở TK, được quyền lựa
chon sử dụng các dịch vụ thanh toán. Khi tiến hành thanh toán phải thực hiện

Về nguyên tắc người phát hành séc chỉ được phát hành trong số dư phạm
vi Tk của mình, nếu vượt quá sẽ phải chịu một khoản tiền phạt.
Chủ thể tham gia thanh toán séc bao gồm : Người phát hành, người thụ
hưởng và NH ( trong đó người phát hành và người thụ hưởng nhất thiết phải
có TKTG tại NH ). Mỗi chủ thể này đều có quyền lợi, nghĩa vụ và trác nhiệm
nhất định trong thanh toán séc.
Hiện nay, trong TTKDTM ở nước ta, thanh toán séc qua Nh thông dụng nhất
là 2 loại séc chuyển khoản và séc bảo chi :
1.1.Séc chuyển khoản ( CK )
Là lệnh trả tiền của người phát hành séc đối với Nh về việc trích nộp
một khoản tiền nhất định từ TK của mình để trả cho người thụ hưởng có tên
trên tờ séc.
Séc chuyển khoản không được phép lĩnh TM. Chỉ được thanh toán trong
phạm vi giữa KH có TK ở cùng một chi nhánh Nh ( một kho bạc) hoặc khác
chi nhánh NH ( khác kho bạc ) nhưng các NH các kho bạc này có tham gia
TTBT trên địa bàn tỉnh thành phố. Thời gian hiệu lực thanh toán của mỗi tờ
séc là 15 ngày kể từ ngày ký phát hành, đến ngày nộp vào NH. Người phát
hành séc phải ghi đầy đủ các yếu tố quy định trên tờ séc. Người thụ hưởng khi
nhận séc phải kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp ucả tờ séc.
1.2. Séc bảo chi:
Séc bảo chi là tờ séc chuyển khoản thông thường nhưng được NH bảo đảm
chi trả bằng cách trích trước số tiền ghi trên tờ séc từ TK của bên trả tiền đưa
vào một TK riêng ( TK tiền ký gửi bảo đảm thanh toán séc ) được NH làm thủ
tục bảo chi và đánh dấu bảo chi séc trước khi giao séc cho KH.
7
Séc bảo chi được dùng để thanh toán giữa các NH hoặc khác NH nhưng
cùng hệ thống, nếu khác hệ thống thì phải cùng địa bàn có tham gia TTBT.
Khả năng thanh toán séc bảo chi rộng hơn hơn séc chuyển khoản và được
đảm bảo, không xảy ra tình trạng phát hành qua số dư. Mỗi lần phát hành séc
bảo chi, chủ TK lập 2 liên giấy yêu cầu bảo chi séc kèm theo tờ séc có ghi đầy

Theo thể thức thanh toán này, khi bên bán sãn sàng giao hàng, bên mua phải
ký quỹ vào NH một số tiền đủ để mở TTD thanh toán mua hàng.
TTD dùng để thanh toán trong điều kiện đòi hỏi phải có đủ tiền để chi trả
ngay và phù hợp với tổng số tiền hàng đã giao trong hợp đồng. Mỗi TTD chỉ
thanh toán cho một người bán bằng chuyển khoản Ngoài ra để tạo điều kiện
cho NH và các bên tham gia thanh toán kiểm soát an toàn cũng như tiết kiệm
các chi phí thanh toán người ta quy định mỗi TTD có thời hạn 3 tháng và mức
tiền tối thiểu của TTD là 10 triệu đồng. Nếu không sử dụng hết tiền thì trả lại
TK đơn vị mở TTD, TTD không được thanh toán bằng TM.
Hiện nay TTTTD chủ yếu được sử dụng trong thanh toán quốc tế đối với các
đơn vị xuất nhập khẩu vì khi đó bên mua và bên bán không quen biết nhau và
do đó khó có thể biết được khả năng tài chính của nhau. Do vậy thanh toán
băng L/C đối với các DN trong nước là rất ít.
5. Thanh toán bằng thẻ thanh toán.
Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán hiện đại dựa trên sự phát triển kỹ
thuật tin học ứng dụng trong NH.
Thẻ thanh toán có khả năng chi trả được nhiều loại tiền, nó sẽ dần thay thế
hình thức gửi tiết kiệm một nơi, lấy nhiều nơi đang được áp dụng trong các
NH tiền mặt. Thẻ thanh toán do NHPH, bán cho các cá nhânvà các DN để
thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ, công nợ và lĩnh TM. Người dân có thể rút
tiền tại các NHĐL thanh toán hay máy rút tiền tự động ATM.
9
Thể thức thanh toán bằng thẻ đã được quy là một trong những thể thức thanh
toán không dùng TM nhưng do trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ dân trí,
vốn và nền kinh tế nước ta chưa đủ điều kiện để sử dụng một cách phỏ biến.
Vì vậy cần phải có sự quan tâm đầu tư từng bước phù hợp với tình hình thực
tế từ phía NHNN cũng như NHTM.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG
TIỀN MẶT TẠI SỞ GIAO DỊCH NHNO & PTNTVN.

Thanh toán
không dùng TM
29.040 74,8% 38.420 83% 132,3
Tổng cộng 38.840 100 46.270 100 212,4
Nguồn số liệu: Báo cáo nghiệp vụ thanh toán năm 2002 - 2003
Nhìn vào bẳng trên ta thấy, năm 2003 công tác TTKDTM đạt 38420 tỷ
đồng tăng so với năm 2002là 9380 tỷ đồng tức là tăng 132,3%. Qua kết quả
trên có thể thấy công tác TTKDTM chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh số
thanh toán chung, trong đó thanh toán bằng TM chiếm tỷ trọng 17%, thanh
toán không dùng TM chiếm tới 83% trong tổng thanh toán chung, điều đó thể
hiện lượng TM lưu thông trong hoạt động kinh tế đã được giảm bớt, giảm chi
phí vận chuyển tiền lưu thông, tiết kiệm thơi gian, hoạt động kinh tế được
diễn ra kịp thời nhờ có lượng tièn được thanh toán nhanh chóng. Ngoài việc
đáp ứng yêu cầu TTKDTM , NH còn tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu đầy đủ
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status