Luận văn sử dụng thang đo servperf để đánh giá chất lượng dịch vụ mua hàng cung ứng tại công ty TNHH phân phồi FPT - Pdf 24

LỜI MỞ ĐẰU
1. Lý do chọn đề tài:
Đo lường CLDV là đề tài từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm do tính
chất vô hình, phức tạp và khó đo lường của nó. Mục tiêu của việc đo lường CLDV là
hướng đến đo lường sự hài lòng của khách hàng để từ đó nhà quản trị có hướng tác
động, cải tiến việc cung ứng dịch vụ một cách có trọng tâm vì mục tiêu tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Quan niệm khách hàng ngày nay được mở rộng hon, đó không
chỉ là những khách hàng truyền thống bên ngoài doanh nghiệp, mà còn có khách hàng
nội bộ là những nhân viên bên trong doanh nghiệp, ở các mắc xích trước và sau trong
chuỗi cung ứng. Hoạt động mua hàng cung ứng ngoài việc cung cấp các yếu tố đầu vào
phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp còn cung cấp dịch vụ
mua hàng cho khách hàng nội bộ- là sự đáp ứng các yêu cầu của khách hàng nội bộ về
tính chính xác, tính đúng hạn về sản phẩm hàng hóa dịch vụ, yêu cầu thông tin, sự chia
sẻ, cảm thông, hỗ trợ
Đề tài “SỬ DỤNG THANG ĐO SERVPERF ĐỂ ĐÁNH GIÁ CHẤT
LƯỢNG DỊCH vụ MUA HÀNG CUNG ỨNG TẠI CÔNG TY TNHH PHÂN
PHÔI FPT” được chọn để làm luận văn tốt nghiệp vì những lý do sau:
Thứ nhất: Trong số các nhà nghiên cứu về CLDV, nổi bật là Parasuraman,
Zeithaml và Berry (1985, 1988, 1994, 2004) đã xây dựng được mô hình 5 khoảng cách
CLDV và thang đo SERVQƯAL vói 5 thành phần gồm 22 câu hỏi để đo lường khoảng
cách giữa sự cảm nhận và kỳ vọng của khách hàng về CLDV. Tiếp sau, một số nhà
nghiên cứu mà nổi trội là Cronin và Taylor (1992, 1994) đề nghị thang đo SERVPERF
giữ nguyên 5 thành phần và 22 câu hỏi của thang đo SERVQUAL nhưng bỏ đi phần kỳ
vọng của khách hàng để đo lường CLDV sẽ đem lại kết quả tốt hơn và bảng câu hỏi
ngắn gọn hơn. Nhiều nghiên cứu đã kiểm định các mô hình này vào nhiều ngành dịch
vụ như giáo dục đào tạo, dịch vụ ngân hàng, dịch vụ du lịch, dịch vụ bán lẻ, vui chơi
giải trí ngoài tròi, lắp đặt điện nước, giao nhận vận tải .Các nghiên cứu này hầu hết
khảo sát với khách hàng bên ngoài và đều cho thấy cần có một sự điều chỉnh cho phù
họp với đặc điểm cụ thể của từng ngành nghề dịch vụ, từng bối cảnh, thị trường. Tuy
nhiên, hiện nay vẫn còn rất ít nghiên cứu về vấn đề CLDV mua hàng cung ứng, cũng
như nghiên cứu mối quan hệ giữa sự hài lòng của khách hàng nội bộ với CLDV này.

ty nói chung và phòng mua hàng nói riêng.
Thứ ba: Tác phẩm “Khách hàng chưa phải là thượng đế” của tác giả Rosenbluth
& Peters (2009)
161
với đề xuất “Đặt nhân viên lên hàng đầu để khách hàng thực sự là
thưọng đế hàm ý hãy tạo cho nhân viên một môi trường làm việc thực sự thuận lợi,
đoàn kết, thoải mái, vui vẻ thì nhân viên mới có thể phục vụ khách hàng một cách tốt
nhất, mới đem lại những giá trị cao nhất cho khách hàng và từ đó mang lại danh tiếng
và lợi nhuận cho công ty. Trên cấp độ quản lý, một môi trường làm việc thuận lợi ngoài
chính sách phúc lợi hấp dẫn thì còn là một môi trường làm việc thân thiện, cởi mở, hòa
đồng, chia sẻ, hỗ trợ và quan tâm lẫn nhau để từng thành viên làm tốt vai trò và nhiệm
vụ của mình. Làm thế nào để có được sự hỗ trợ đó? Ngoài việc nhà quản trị phải truyền
đạt cho nhân viên ý thức, tinh thần tự nguyện làm việc và hỗ trợ hết mình cho nhân
viên khác, người quản lý cần nắm được khách hàng nội bộ của mình có hài lòng với
chất lượng phục vụ của phòng ban mà mình quản lý hay không để có biện pháp kịp thời
điều chỉnh, cải thiện và nâng cao chất lượng phục vụ. Điều đó đặt cho em một câu hỏi,
liệu CLDV của phòng mua hàng có thực sự đáp ứng yêu cầu của các nhân viên kinh
doanh, những khách hàng chính yếu của phòng mua hàng trong Công Ty TNHH Phân
Phối FPT? Họ có thực sự cảm thấy hài lòng, thoải mái, tin tưởng, an tâm khi làm việc
cùng phòng mua hàng hay không? Đe tài thực hiện để tìm câu trả lời cho vấn đề này.
2. Mục đích nghiên cứu
• Kiểm định thang đo SERVPERP trong đo lường CLDV mua hàng cung ứng.
• Xây dựng mô hình mức độ tác động của các thành phần CLDV mua hàng với sự
hài lòng của khách hàng nội bộ.
2
• Tìm hiểu sự khác biệt trong đánh giá CLDV mua hàng giữa các khách hàng nội
bộ.
• Tìm hiểu sự khác biệt trong mức độ hài lòng với CLDV mua hàng giữa các
khách hàng nội bộ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

nghĩa khoa học:
• Đóng góp thêm một nghiên cứu cụ thể về việc kiểm nghiệm thang đo
SERVPERF trong dịch vụ mua hàng cung ứng.
• Lần đầu tiên xây dựng mô hình ảnh hưởng của các thành phần CLDV đến sự
hài lòng của khách hàng nội bộ đối với hoạt động mua hàng cung ứng,
Ỷ nghĩa thực tiễn: đối với phòng mua hàng và công ty TNHH phân phối FPT
• Xem xét mức độ hài lòng của khách hàng nội bộ đối với chất lượng phục vụ của
phòng mua hàng hiện nay;
• Có biện pháp nhằm cải thiện hoạt động của bộ phận, đáp ứng tốt hơn nhu cầu
của các TTKD;
• Là cơ sở để ban kiểm sát chất lượng của công ty xem xét ứng dụng nội dung và
phương pháp đánh giá CLDV mua hàng để kết quả đánh giá chất lượng hàng
năm được đầy đủ, chính xác và có chiều sâu hơn.
6. Tính mói của đề tài
• Chưa có nghiên cứu kiểm định thang đo CLDV SERVPERF trong hoạt động
mua hàng cung ứng tại Việt Nam, do đó, nghiên cứu này mang tính đóng góp
đầu tiên cho những nghiên cứu kế tiếp trong các chuỗi cung ứng khác.
• Chưa có nghiên cứu nào chỉ ra mức độ tác động của thành phần CLDV mua
hàng lên sự hài lòng của khách hàng nội bộ.
4
• Đánh giá do phòng mua hàng tự thực hiện cũng như khảo sát CLDV định kỳ 6
tháng của Ban kiểm sát chất lượng Công ty TNHH Phân Phối FPT với kết
Cấu câu hỏi chưa bao quát hết được thực tế của dịch vụ mua hàng do vậy kết
quả phản ánh chưa đầy đủ và chính xác.
7. Kết cấu đề tài:
Đe tài có kết cấu gồm 5 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Tổng quan dịch vụ mua hàng cung ứng tại Công ty TNHH phân
phối FPT
Chương 3: Mô hình nghiên cứu và thiết kế bảng khảo sát đo lường mức độ hài

người phục vụ và khách hàng. Sự biến thiên trong CLDV diễn ra thường xuyên
hơn so với sản phẩm hữu hình do mức độ tương tác của con người
trong dịch vụ cao hơn rât nhiều so với sản phẩm hữu hình. Dịch vụ ẩn chứa sức
lao động của con người càng cao thì CLDV càng không đồng nhất. Đối với
những dịch vụ đòi hỏi sự tham gia nhiều hơn của chính người sử dụng dịch vụ
thì người sử dụng này ảnh hướng rất lớn đến CLDV. Và khi đánh giá CLDV,
khách hàng dựa nhiều vào cảm nhận cá nhân cũng như trạng thái tâm lý lúc
đánh giá.
Ví dụ: dịch vụ khám chữa bệnh đòi hỏi chính bệnh nhân phải cung cấp các thông tin hữu ích
để bác sĩ có thể chẩn đoán bệnh và kê toa thuốc điều trị chính xác. Như vậy, chính
nguồn thông tin mà bệnh nhân cung cấp là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến CLDV
khám chữa bệnh.
1.2.2 Dịch vụ mua hàng cung ứng:
Toàn cầu hóa hiện nay có vai trò quan trọng của sự hình thành các chuỗi cung
ứng - một mạng lưới gồm các tổ chức có liên quan, thông qua các mối liên kết phía trên
và phía dưới, trong các quá trình và hoạt động khác nhau, sản sinh ra giá trị dưới hình
thức sản phẩm hữu hình hoặc dịch vụ trong tay người tiêu dùng cuối cùng.
Hình 1.1: Vị trí phòng mua hàng trong chuỗi cung ứng.
Nguồn: Purchasing & Supply Chain Management, 2009 [14]
Trong chuỗi cung ứng, vai trò của phòng mua hàng là cực kỳ quan trọng, chịu trách nhiệm
cung cấp các yếu tố đầu vào bao gồm cả sản phẩm, dịch vụ theo
S3
S3
S3
S3
S3
S3
S2
S2
S2J

■ Kiểm tra, giám sát, theo dõi đơn hàng đảm bảo việc cung ứng theo yêu cầu
(Yêu cầu chất lượng, số lượng, giá cả, thời gian )
■ Giải quyết các khiếu nại, cập nhật các thông tin mua hàng vào hồ sơ dữ liệu,
đánh giá NCU, xếp hạng NCU.
.Mua hàng (Purchasing function)
Chiên thuật mua hảng (Tactical purchasing) ^ ^
íìm kiêm nguôn cune ứna (Scourcing^ Cune ứng (Supply)
* Theo quan điểm Mỹ chức năne phòng mua hàng dừng khi hàng nhập kho
** Theo quan điểm cùa Anh Quốc chức năng cua phòng mua hàng phái kéo dài đến khâu phân phối, giao hàng cho khách
* Theo quan điểm Mỹ chức năng cung ứng dừng khi hàng nhập kho
** Theo quan điểm của Anh Quốc chức năng cung ứng phải kéo dài đến khâu phân phối, giao hàng cho khách
Hình 1.2: Quy trình hoạt động mua hàng
Nguồn: Purchasing & Supply chain management, 2009) [19]
Ngày nay, trong các tập đoàn lớn hay trong các công ty đa quốc gia, người ta thường dùng
thuật ngữ “Procurement” để chỉ hoạt động mua hàng. Thuật ngữ này
Chúc nâng dật hảng (Ordering function)
Khách Xác định chi
hàng tiét >ẻu cáu
nội ¡>ộ SP DV
Đánh giá, lựa Xác lập, kv kết
[ chọn NCU hợp đồng
Đặt hảng
Kỉêm tra. giám sát
theo dõi đơn hàng
Giai quyết khicu nại
cập nhật dử liệu, đánh
gii NCU
Cung ímg
chữ khách
hảng

■ Hoàn thành thời gian cam kết giao hàng
■ Chi phí nhập kho là họp lý
■ Tỉ lệ hàng chậm, hàng lỗi trong mức chấp nhận
■ Theo dõi công nợ thanh toán đúng nhà cung cấp, đúng thời hạn, đúng giá
trị
■ Thông tin xuyên suốt cho đơn vị/ cá nhân yêu cầu đặt hàng khi có vấn đề
làm ảnh hưởng yêu cầu đặt hàng
■ Khả năng xử lý tình huống phát sinh trong quá trình xử lý đơn
hàng
1.3.2 Thang đo CLDV SERVQUAL và biến thể SERVPERF:
1.3.2.1 Mô hình 5 khoảng cách CLDV:
Parasuraman, Zeithaml và Berry (1985, 1988,1994, 2004) được xem là những người có đóng góp quan trọng cho nghiên cứu CLDV một
cách cụ thể và chi tiết trong lĩnh vực tiếp thị vói việc đưa ra mô hình 5 khoảng cách CLDV:
Thông tin truyền miệng Nhu cầu cá nhân Kỉnh nghiệm
Hình 1.3: Mô hình 5 khoảng cách CLDV
Nguồn: Service Quality, 2004 [21]

ch
1
Dịch vụ cảm nhận ^
■ Khoảng cách 1: Không biết khách hàng mong đợi điều gì: Công ty cung cấp dịch vụ không
hiểu được kỳ vọng của khách hàng. Điều này là do nghiên cứu thị trường chưa đầy đủ, thiếu
sự liên hệ, thông tin giữa những nhân viên trực tiếp tiếp xúc với khách hàng và ban quản trị.
■ Khoảng cách 2: Các tiêu chuẩn và thiết kế dịch vụ sai: Công ty dịch vụ sử dụng các thiết
kế và tiêu chuẩn căn cứ trên mối quan tâm của công ty nhiều hơn là dựa trên những kỳ
vọng và ưu tiên của khách hàng.
■ Khoảng cách 3: Không chuyến giao đúng các tiêu chuấn dịch vụ: Ngay cả khi tiêu chuẩn
dịch vụ đã kề cận với mong đợi của khách hàng thì khoảng cách vẫn xuất hiện khi nhân
viên dịch vụ không chuyển giao dịch vụ cho khách hàng theo những tiêu chuẩn dịch vụ đã
được xác định. Nguyên nhân là do các vân đề về nhân lực trong nội bộ công ty như tuyển

[16]
đã xây
dựng thang đo SERVQUAL để khảo sát đánh giá của khách hàng về CLDV trên 2
phương diện:
1. Kỳ vọng của khách hàng về một dịch vụ lý tưởng với thang đo Likert 5 điểm
hoặc 7 điểm
2. Cảm nhận, đánh giá của khách hàng đối với một dịch vụ cụ thể được cung cấp
trong thực tế với thang đo Likert 5 điểm hoặc 7 điểm.
Bảng 1.1: Mô hình SERVQUAL
Biến quan sát
Kỳ vọng về dịch vụ lý
tưởng
Cảm nhận về dịch vụ
thực
9. Có sự chuẩn bị để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng.
16. Nhân viên thể hiện sự cẩn trọng trong giao dịch với khách hàng
17. Đặt lợi ích của khách hàng là ưu tiên, tâm niệm trong hành
động
20. Các điều kiện vật chất, phương tiện bắt mắt, lôi cuốn
21. Nhân viên có trang phục gọn gàng, phong cách chuyên nghiệp
22. Các sản phẩm hữu hình đi kèm với dịch vụ trông hấp dẫn
Nguồn: Service Quality, 2004 [21]
Thang đo SERVQUAL có giá trị và ý nghĩa thực tiễn trong đo lường CLDV và
đã được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng kiểm nghiệm trong nhiều ngành dịch vụ cũng
như tại nhiều thị trường khách nhau. Ví dụ như Bojanic (1991) với dịch vụ kiểm toán;
Cronin và Taylor (1992) với dịch vụ giặt khô; Dabholkar và cộng sự (1996) với dịch
vụ bán lẻ; Lassar & cộng sự (2000) và Mehta & cộng sự (2000) với dịch vụ ngân
hàng, Nguyễn Đình Thọ & cộng sự với dịch vụ vui choi giải trí ngoài trời, chất lượng
dịch vụ siêu thị (dẫn theo Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Mai Trang (2008))
[7]

hộ quan điểm sự hài lòng của khách hàng dẫn đến CLDV. Trong khi đó, Cronin &
Taylor, spreng, Mackoy và Oliver cho rằng CLDV là nguyên nhân dẫn đến sự thỏa
mãn. Lý do là chất lượng liên quan đến việc cung cấp dịch vụ, còn sự thỏa mãn chỉ
đánh giá được sau khi đã sử dụng dịch vụ đó. Neu chất lượng được cải thiện nhưng
không dựa trên nhu cầu của khách hàng thì sẽ không bao giờ khách hàng thỏa mãn với
dịch vụ đó. Do vậy, khi sử dụng dịch vụ, nếu khách hàng cảm nhận được dịch vụ có
chất lượng cao, thì họ sẽ thỏa mãn với dịch vụ đó. Ngược lại, nếu khách hàng cảm
nhận dịch vụ có chất lượng thấp, thì việc không hài lòng sẽ xuất hiện.
1.4 Quan điểm mới về khách hàng: khách hàng nội bộ
Theo quan điểm truyền thống, khách hàng là những người bên ngoài doanh
nghiệp, họ mua sắm, sử dụng sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp (External
customer or Paying customer). Theo quan điểm mới bên cạnh khách hàng bên ngoài
còn có khách hàng nội bộ (internal customer), là những người làm việc trong doanh
nghiệp và sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ của nhau để phục vụ khách hàng bên ngoài.
Khái niệm khách hàng nội bộ được một số tác giả đề cập đến trong các nghiên
cứu về CLDV của mình như Davis (1991, 1992); Harari (1991, 1993); Farner, Luthans
& Sommer (2001)
Thuật ngữ khách hàng nội bộ xuất hiện khoảng giữa thập niên 1980 khi nhiều
tổ chức thực hiện nỗ lực cải tiến chất lượng hoạt động và tiết giảm chi phí. Việc cắt
giảm chi phí thường đi vói cắt giảm nhân sự. Do sự xem nhẹ tầm quan trọng của các
hoạt động nội bộ mà mục tiêu chất lượng thường phải hy sinh cho mục tiêu tiết kiệm
chi phí trong ngắn hạn. Do đó, mô hình dịch vụ khách hàng nội bộ đã xuất hiện để
ngăn chặn những tác động tiêu cực do cắt giảm nhân sự và thực sự đã trở thành một
công cụ hữu hiệu trong mục đích nâng cao chất lượng trong tổ chức. Với giả định rằng
nếu mỗi cá nhân cố gắng đem đến cho “khách hàng nội bộ” của mình dịch vụ tốt hon
thì sau đó khách hàng bên ngoài sẽ nhận được dịch vụ có chất lượng cao hơn. (Farner,
Luthans & Sommer (2001)
rnl
)
Cũng như với khách hàng bên ngoài, muốn làm hài lòng khách hàng nội bộ

và Large & Konig
(2009)
n3]
đã kiểm định mô hình SERVQUAL trong dịch vụ mua hàng cung ứng của 1
công ty tại Đức với 534 khách hàng nội bộ và 1 trường đại học tại Mỹ với 132 khách
hàng nội bộ. Nghiên cứu tiến hành trên hai nội dung (1) tầm quan trọng của 5 thành
phần CLDV nguyên thủy SERVQUAL đối với dịch vụ mua hàng cung ứng theo quan
điểm của khách hàng nội bộ; (2) Khoảng cách giữa kỳ vọng CLDV và cảm nhận dịch
vụ thực tế được cung cấp. Ket quả nghiên cứu cho thấy: (1) khách hàng nội bộ đánh
giá các thành phần về Tin cậy,
Đáp ứng, Đảm bảo là quan trọng hon cả trong dịch vụ mua hàng. Yeu tố Đồng cảm và
Phương tiện hữu hình không đươc khách hàng nội bộ chú trọng; (2) Sự đánh giá thấp
về yếu tố chính xác trong thang đo CLDV mua hàng vẫn đặt ra nghi vấn cho chính tác
giả vì đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng hàng cung ứng; (3) Tồn tại
khoảng cách đáng để giữa kỳ vọng và cảm nhận của khách hàng đối với CLDV mua
hàng.
Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn hạn chế là:
(1) Chưa xem xét liệu 5 thành phần CLDV nguyên thủy có còn đa hướng
vói 5 thành phần nữa hay không, hay đã biến thể theo hướng đặc trưng cho hoạt động
mua hàng cung ứng;
(2) Chưa đi vào xây dựng mô hình thể hiện mức độ tác động của các thành
phần CLDV mua hàng tới sự hài lòng của khách hàng nội bộ.
Hai tác giả đã đề nghị tiếp tục kiểm định mô hình SERVQUAL trong các dịch
vụ mua hàng cung ứng khác ngoài Mỹ và Châu Âu, kiểm định trong các doanh nghiệp
có qui mô vừa và nhỏ hơn.
Những nghiên cứu này tuy phạm vi giới hạn nhất định nhưng đã làm sáng tỏ
thêm vào lý thuyết về đo lường CLDV đặc biệt trong lĩnh vực mua hàng cung ứng, là
công cụ hữu ích để thu được phản hồi của khách hàng nội bô một cách có chiều sâu.
1.7 Tóm tắt chương I
Quan điểm của Parasuraman, Zeithaml & Berry trong các nghiên cứu công bố

m
)). Tuy nhiên, nội lực hiện nay của quốc gia
còn hạn chế nhất định trong việc sáng tạo, sản xuất sản phẩm công nghệ phần cứng
cũng như phần mềm. Do đó, việc nhập khẩu những sản phẩm này từ các thương hiệu
lớn là điều khó tránh khỏi, nó là bước đi tắt đón đầu cần thiết cho một sự phát triển
mạnh hơn về công nghệ thông tin trong tương lai, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp
hóa hiện đại hóa đất nước và tuân thủ theo các cam kết của Việt Nam về quyền sở hữu
trí tuệ theo hiệp định TRIPS khi gia nhập WTO.
Công ty TNHH Phân Phối FPT (Tến tiếng Anh là FPT Distribution Company
Limited - viết tat FDC) là một trong những công ty thành viên của tập đoàn FPT với
trụ sở tại Hà Nội và 3 chi nhánh tại Đà Nang, TPHCM, cần Thơ. Công ty có hệ thống
hơn 60 đối tác là nhà sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin hàng đầu thế giới như:
ACER, APC, APPLE, ASUS, CISCO, COREL, DELL, FOXCON, HP, IBM,
INGRAM, IWT, KINGSTON, LENOVO, LINKSYS, MICROSOFT, NOVELL,
ORACLE, PANASONIC, PHILIPS, REDHAT, SAMSUNG, SYMANTEC,
TOSHIBA, TRANSCEND, WESTERN D, PHILIPS Sản phẩm và dịch vụ cung cấp
bao gồm từ hệ thống máy chủ, máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng cho
đến các phần mềm hệ thống, ứng dụng, tiện ích tiên tiến
Hình 2.1: Các đối tác của Công ty TNHH Phân Phối FPT
Nguồn: FDC profile, 2011 [12]
1994 1998
2ÒÒ2
2006
2010
! i
.|||.|Ị|.
C I S C O
Autodesk
PHILIPS
m

Nguồn: FDC profile, 2011 [12]
Trải qua 7 năm từ khi thành lập, doanh số hàng năm của công ty đều gia tăng đáng
kể và đóng góp một phần quan trọng trong sự phát triển chung của tập đoàn và cho thấy một
sự phát triển sôi động của thị trường công nghệ thông tin tại Việt nam
HA NOI
trong thời gian qua.
Hình 2.3: Biểu đồ doanh số của công ty TNHH Phân phối FPT 2004-2011
Nguồn: FDC profile, 2011 [12]
(Ket quả 2011 là dự kiến doanh so)
về Cơ cấu tổ chức: Hiện tại, Công ty TNHH Phân phối FPT có 5 TTKD là F5, F6,
FCN, FHP, FPS với sự phân chia về dòng sản phẩm và lượng hàng phân phối
Hình 2.4: Sơ đồ tổ chửc bộ máy công ty TNHH phân phối FPT
Do»nh so FDC qua các năm (triệu USD)
324
Nguồn: FDC profile, 2011 [ 12]
2.3 Giới thiệu về hoạt động của phòng mua hàng: Phòng mua hàng là một trong 8 bộ phận
hỗ trợ của công ty TNHH Phân Phối FPT. Phòng mua hàng ra đời vói nhiệm vụ hỗ trợ
các TTKD làm việc với NCU trong và ngoài nước để cung ứng nguồn hàng với chất
lượng cao đi kèm với thời gian ngắn nhất và chi phí hiệu quả nhất phục vụ cho hoạt
động kinh doanh, phân phối các mặt hàng điện tử, cổng nghệ hàng đầu trên thị trường
Việt Nam.
Hình 2.5: Vị trí phòng mua hàng trong chuỗi cung ứng của công ty TNHH Phân Phối
FPT
2.3.1 Các vị trí chức năng trong phòng mua hàng
2.3.1.1Nhân viên đặt hàng:
- Quản lý đơn hàng nội:
• Nhận đơn hàng nội từ các TTKD, kiểm tra thông tin đơn hàng theo quy
định của Công ty.
• Tất cả các đơn hàng đều cần có phê duyệt cho phép đặt hàng của phòng phân
tích kinh doanh trước khi tiến hành đặt hàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status