TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
__________________
***
__________________
CAO THỊ TÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KẾT
QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN GIỐNG CÂY TRỒNG NGHỆ AN
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các nội dung
nghiên cứu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
cho việc bảo vệ một học vị nào. Tôi xin cam đoan những mục trích dẫn trong luận
văn đều được chỉ rõ nguồn gốc, mọi sự giúp đỡ đều được cảm ơn.
Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2014
Sinh viên
Cao Thị Tình
i
LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội,
đặc biệt trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
nhiệt tình của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô giáo trong
khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường và đặc biệt là cô giáo Th.s Nguyễn Thị
Hải Ninh, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn này.
Do đó ngành sản xuất nông nghiệp cũng rất quan trọng vừa đáp ứng được
mục tiêu kinh doanh của các doanh nghiệp đồng thời đáp ứng được nhu cầu của
người nông dân. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường dưới quy luật kinh tế khách
quan đã hình thành rất nhiều hệ thống chuyên cung ứng giống cây trồng, nó không
chỉ đơn thuần là có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước mà còn có ảnh
hưởng bởi các doanh nghiệp nước ngoài đã và đang hoạt động, sẵn sàng có sự cạnh
tranh giữa các công ty cũng như doanh nghiệp với nhau. Các doanh nghiệp muốn
tồn tại và phát triển thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực kinh doanh thực sự có
hiệu quả. Để đạt được điều đó, vấn đề doanh nghiệp đặt ra hàng đầu là quản lý cũng
như tổ chức sản xuất kinh doanh, phân phối làm thế nào có thể cung ứng được
nhiều sản phẩm nhất, đa dạng hoá sản phẩm và có thị trường vững chắc.
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngày nay, các giống lúa mới có năng
suất và phẩm chất tốt đã dần thay thế các giống cũ có hiệu quả sản xuất kém nên
vấn đề mở rộng thị trường và tiêu thụ lúa giống đang là mục tiêu trước mắt và lâu
dài của các Công ty.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực
trạng và giải pháp nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần giống
cây trồng Nghệ An”.
iii
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là đánh giá thực trạng kết quả sxkd giống
cây trồng để nhằm đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao kết quả sxkd giống cây
trồng của Công ty cổ phần giống cây trồng Nghệ An. Đối tượng nghiên cứu là các
nội dung liên quan đến kết quả sxkd, tình hình tiêu thụ và thị trường tiêu thụ giống
cây trồng… Nội dung nghiên cứu hoạt động sxkd giống cây trồng, thị trường tiêu
thụ giống cây trồng của Công ty, các yếu tố ảnh hưởng, và đề xuất giải pháp phù
hợp nhằm nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh giống cây trồng của Công ty.
Để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu, đề tài đã áp dụng phương pháp nghiên cứu
thu thập thông tin: thông tin số liệu được thu thập qua các tài liệu của phòng ban
của Công ty, thu thập trực tiếp từ điều tra phỏng vấn, số liệu thu thập sẽ được xử lý
bằng máy tính cá nhân và phần mềm excel. Số liệu được phân tích qua các phương
từ Trung Quốc chủ yếu là lúa lai nhị ưu 838, lúa lai nhị ưu 986, khải phong… Nhìn
chung tổng lượng lúa giống nhập về từ Trung Quốc giảm dần, bình quân giảm
19,48% trong 3 năm.
Công ty tiêu thụ trên một số thị trường ngoài tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình,
Huế, Thanh Hóa…Tỷ lệ tiêu thụ của Công ty ở thị trường ngoài tỉnh là không cao,
và biến động liên tục, cụ thể: Lượng giống cây trồng tiêu thụ ngoài tỉnh chiếm
4,98% năm 2011, năm 2012 chiếm 4,35% và 5,78% năm 2013, số còn lại được tiêu
thụ ở thị trường trong tỉnh. Trên địa bàn tỉnh tổng lượng giống cây trồng tiêu thụ
được biến động qua 3 năm, cụ thể là: Năm 2012 tăng lên 6,71% so với năm 2011,
năm 2013 giảm xuống 29,1% so với năm 2012, bình quân giảm xuống là 11,19%
qua 3 năm. Xét theo địa bàn thì lượng giống cây trồng tiêu thụ lớn nhất hầu hết là ở
thị trường Diễn Châu chiếm 15,45% năm 2011, năm 2012 chiếm 21,96% và
16,59% năm 2013; sau đó là ở thị trường Yên Thành và Thanh Chương. Lượng tiêu
thụ lượng giống cây trồng ít nhất vẫn luôn là ở Nghi Văn, cụ thể là: năm 2011, 2012
đều chiếm 0,04%; đến năm 2013 có tăng lên chiếm 0,05%.
Tình hình tiêu thụ giống cây trồng của Công ty theo mùa vụ có nhiều biến
động, trong tổng sản lượng giống cây trồng tiêu thụ thì vụ chiêm có sản lượng tiêu
thụ cao hơn vụ mùa, đặc biệt là lượng lúa lai chênh nhau khá lớn ở các vụ. Nguyên
nhân là do ở vụ mùa lượng tiêu thụ lúa thuần là chủ yếu, còn sang vụ chiêm do thời
tiết lạnh không thuận lợi cho sâu bệnh phát triển nên chuyển sang trồng lúa lai là
giống lúa cho năng suất cao.
v
Lượng giống cây trồng tiêu thụ không đồng đều giữa các loại lúa giống qua
từng năm, từng vụ:
Theo mùa vụ, sản lượng tiêu thụ của vụ chiêm cao hơn vụ mùa, cụ thể vụ chiêm
năm 2011 tiêu thụ khoảng 1476,295 tấn, còn vụ mùa chỉ có 660,229 tấn tăng lên một
lượng rất lớn là 816,066 tấn và các năm tiếp theo lượng tiêu thụ tiếp tục tăng.
Theo chủng loại, đối với lúa thuần thì lượng lúa giống tiêu thụ ở vụ mùa tăng
lên qua các năm, năm 2012 tăng lên 4,72%, năm 2013 giảm 18,88% so với năm
2012, bình quân giảm xuống 7,08% qua 3 năm.
lượng bao bì của giống ngô còn chưa đảm bảo.
Từ những thực trạng trên, định hướng của Công ty là: Cung ứng các giống
mới có năng suất cao, chất lượng tốt, giá thành phù hợp với bà con nông dân trên
địa bàn, ngoài địa bàn Nghệ An; tăng cường sản xuất các loại giống trong nước, chủ
động được giống phục vụ cho sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Đồng thời ứng dụng tốt các tiến bộ KHKT vào sản xuất giống; kết hợp chặt chẽ hơn
nữa với các đơn vị liên kết sản xuất, để sản xuất những giống mới, chủng loại cần
phong phú đa dạng hơn nữa; nghiên cứu tỉ mỉ nhu cầu, thị hiếu cũng như các biến
động của thị trường, để từ đó có biện pháp mở rộng và chiếm lĩnh thị trường; có các
biện pháp tiêu thụ sản phẩm nhằm tiêu thụ sản phẩm một cách tốt nhất, giảm chi phí
trung gian, để đạt được hiệu quả cao nhất. Và các giải pháp nhằm nâng cao kết quả
sxkd của công ty trong thời gian tới như: giải pháp về công tác tạo nguồn, kỹ thuật
chăm sóc khách hàng, giải pháp về vốn, nguồn nhân lực, giá cả, chất lượng sản
phẩm, giải pháp thị trường (tuyên truyền, tiếp thị - quảng cáo, xúc tiến bán hàng )
và hoàn thiện cơ cấu tổ chức hoạt động của công ty.
Từ các kết quả trên chúng tôi rút ra kết luận: Thị trường cung cấp đầu vào
của Công ty khá đa dạng, Công ty lấy nguồn cung ứng từ các viện, từ trạm sản xuất,
từ các Công ty GCT các tỉnh…Còn thị trường đầu ra của Công ty chủ yếu là thị
trường trong tỉnh, thị phần Công ty tiêu thụ ngoài tỉnh còn hạn chế cần mở rộng
phát triển thêm. Chủng loại giống của Công ty phong phú: Các dòng lai, giống KD,
các giống nếp, tám thơm,… Công ty không ngừng quan tâm đến cải tiến mẫu mã,
bao bì, khuyến mãi, quảng cáo…để góp phần làm tăng doanh thu, lợi nhuận cho
Công ty. Ngoài ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh công ty đã phân thị trường
thành những khúc, những đoạn riêng biệt nhằm có những biện pháp, chính sách cụ
thể đối với những khúc thị trường đó.
vii
MỤC LỤC
Sơ đồ 2.1: Các loại kênh phân phối 20
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu bộ máy quản lý của Công ty 34
Sơ đồ 4.1: Quy trình tạo nguồn giống cây trồng của Công ty 46
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Diễn giải nội dung
BH Bán hàng
BQ Bình quân
CC Cơ cấu
CCDV Cung cấp dịch vụ
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
GCT Giống cây trồng
HTXDV Hợp tác xã dịch vụ
KD Khang dân
KHKT Khoa học kỹ thuật
NC Nguyên chủng
NSNN Ngân sách nhà nước
UBND Uỷ ban nhân dân
SL Số lượng
SNC Siêu nguyên chủng
SXKD Sản xuất kinh doanh
TBKT Tiến bộ kỹ thuật
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TSCĐ Tài sản cố định
TSLĐ Tài sản lưu động
xi
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước đang phát triển, dân số sống chủ yếu ở nông thôn và
phần lớn lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Do đó, nông nghiệp là
ngành sản xuất vật chất quan trọng vì sản phẩm của nó nuôi sống con người mà bất
kì ngành sản xuất khác thay thế được. Điều đó nói lên vai trò to lớn của sản xuất
nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Do đó phát triển sản xuất nông sản hàng
cam kết rằng sẽ bằng mọi cách chuẩn bị đủ giống cho nhu cầu của sản xuất (Cục
Trồng trọt, Hiệp hội TM giống cây trồng Việt Nam, 2013).
Do đó ngành sản xuất nông nghiệp cũng rất quan trọng vừa đáp ứng được mục
tiêu kinh doanh của các doanh nghiệp đồng thời đáp ứng được nhu cầu của người
nông dân. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường dưới quy luật kinh tế khách quan đã
hình thành rất nhiều hệ thống chuyên cung ứng giống cây trồng, nó không chỉ đơn
thuần là có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước mà còn có ảnh hưởng bởi
các doanh nghiệp nước ngoài đã và đang hoạt động, sẵn sàng có sự cạnh tranh giữa
các công ty cũng như doanh nghiệp với nhau. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát
triển thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực kinh doanh thực sự có hiệu quả. Để đạt
được điều đó, vấn đề doanh nghiệp đặt ra hàng đầu là quản lý cũng như tổ chức sản
xuất kinh doanh, phân phối làm thế nào có thể cung ứng được nhiều sản phẩm nhất,
đa dạng hoá sản phẩm và có thị trường vững chắc. Với sự phát triển của khoa học kỹ
thuật ngày nay, các giống lúa mới có năng suất và phẩm chất tốt đã dần thay thế các
giống cũ có hiệu quả sản xuất kém nên vấn đề mở rộng thị trường và tiêu thụ lúa
giống đang là mục tiêu trước mắt và lâu dài của các Công ty.
Tỉnh Nghệ An là một tỉnh lớn nằm ở trung tâm khu vực Bắc Trung Bộ có đất
rộng, người đông là điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Do nằm ở phía
Ðông Bắc dãy Trường Sơn nên có địa hình đa dạng và phức tạp, bị chia cắt bởi các
hệ thống đồi núi và sông suối. Vùng miền núi chiếm 3/4 diện tích toàn tỉnh, còn lại
vùng đồng bằng trung du, còn chịu ảnh hưởng khí hậu không thuận hòa, đó cũng là
2
hạn chế đối với ngành sản xuất nông nghiệp của tỉnh Nghệ An. Việc cung ứng đầy
đủ, kịp thời giống cây trồng phù hợp điều kiện tự nhiên từng vùng đã phần nào thể
hiện sự cố gắng của công ty cổ phần giống cây trồng Nghệ An vượt qua khó khăn
và cho kết quả đáng kể. Những năm gần đây, sản lượng lương thực phẩm tăng khá,
nông dân đã biết lao động làm giàu bằng chính sức lao động của mình. Bộ mặt nông
thôn mới đã hình thành và phát triển. Trong kết quả đó có sự đóng góp không nhỏ
của Công ty Cổ phần giống cây trồng Nghệ An.
Công ty Cổ phần Giống cây trồng Nghệ An chủ yếu cung cấp giống cây
thị trường, thị trường tiêu thụ các loại giống cây trồng, đánh giá của khách hàng về
giá cả và chất lượng giống cây trồng giống cây trồng của công ty
- Đối tượng điều tra của đề tài bao gồm:
+ Công ty Cổ phần giống cây trồng Nghệ An
+ Những đối tượng tham gia vào quá trình tiêu thụ sản phẩm của Công ty:
Các trạm giống sản xuất trực thuộc Công ty Cổ phần giống cây trồng Nghệ An, đại
lý, cửa hàng, người bán buôn, bán lẻ, hộ nông dân sử dụng sản phẩm giống cây
trồng của Công ty.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Công ty Cổ phần giống cây trồng Nghệ An sản xuất kinh
doanh trên nhiều lĩnh vực: sản xuất - kinh doanh các giống lúa, ngô, lạc, đậu, vừng
và các giống hạt rau các loại; nhưng hiện nay hoạt động kinh doanh giống cây trồng
là hoạt động chủ yếu đem lại nguồn thu lớn nhất cho công ty, hoạt động xuất nhập
khẩu buôn bán vật tư chỉ chiếm một phần nhỏ. Bên cạnh đó, hoạt động tự sản xuất
giống cây trồng hầu như không có. Do đó, để nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh
đề tài chỉ tập trung vào vấn đề kinh doanh giống cây trồng.
- Phạm vi không gian: Trên địa bàn tỉnh Nghệ An
- Phạm vi thời gian: Nội dung của đề tài được nghiên cứu qua 3 năm 2011- 2013
4
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng sản xuất kinh doanh của Công ty CP giống cây trồng Nghệ An
trong thời gian gần đây như thế nào?
- Những nguyên nhân nào ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của
công ty CP giống cây trồng Nghệ An?
- Nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty CP giống cây trồng
Nghệ An cần có các giái pháp cụ thể nào?
5
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
KẾT QUẢ SẢN XUẤT GIỐNG CÂY TRỒNG
Quá trình SXKD là quá trình tái sản xuất trải qua các giai đoạn Tiền - Hàng -
Sản xuất - Hàng - Tiền. Doanh nghiệp dùng tiền mua vật tư, thiết bị, công nghệ
(giai đoạn dự trữ), kết hợp với sức lao động (giai đoạn sản xuất) tạo ra hàng hóa,
bán hàng hóa đi thu tiền (giai đoạn lưu thông phân phối) với mục đích thu được số
tiền lớn hơn số tiền đã bỏ ra ban đầu.
Như vậy, quá trình SXKD chính là sự phối hợp toàn diện,thống nhất của
nhiều giai đoạn, kết quả thực hiện ở mỗi giai đoạn đều ảnh hưởng đến kết quả của
cả quá trình . Qua quá trình tổ chức SXKD, hiệu quả mà DN đem lại bao gồm nhiều
mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiêu quả môi trường.
* Kết quả
Kết quả là thành tích đạt được sau một quá trình làm việc (số lượng, khối
lượng, giá trị sản lượng ).
+ Kết quả sản xuất là kết quả đạt được sau quá trình sản xuất trong thời kỳ
(khối lượng sản phẩm, số lượng sản phẩm, giá trị sản lượng ).
+ Kết quả sản xuất kinh doanh của DN
Là toàn bộ những sản phẩm vật chất và dịch vụ do DN tạo ra trong thời kỳ,
nhằm đáp ứng được lợi ích kinh tế và nhu cầu tiêu dùng của xã hội.
Kết quả hoạt động kinh doanh là kết quả của lao động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp làm ra trong kỳ. Do vậy, các doanh nghiệp không tính vào kết quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp những kết quả thuê ngoài, nhưng doanh nghiệp
được tính vào kết quả của doanh nghiệp các hoạt động làm thuê cho bên ngoài. Chỉ
tính các kết quả đã hoàn thành trong kỳ báo cáo.
Được tính toàn bộ sản phẩm dịch vụ làm ra trong kỳ báo cáo bao gồm sản
phẩm dịch vụ của tất cả các công đoạn sản xuất kinh doanh.
7
Chỉ tính những sản phẩm dịch vụ tiêu chuẩn nằm trong khung chất lượng
tiêu chuẩn. Kết quả hoạt động kinh doanh là mục tiêu mọi hoạt động trong kỳ sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả này được biểu thị bằng hệ thống chỉ tiêu
(hiện vật, giá trị).
Kết quả sản xuất kinh doanh là phạm trù phản ánh những cái thu được sau
trong quần thể để tạo ra giống mới. Công việc đầu tiên của chọn lọc giống cây trồng
là quá trình thuần hóa các cây dại thành cây trồng nông nghiệp, nhằm không ngừng
cải thiện tiềm năng suất, biểu hiện ở một số đặc tính: số hạt/ bông, trọng lượng hạt,
chỉ số thu hoạch, kỹ thuật trồng trọt hoặc tính chịu đựng với điều kiện khắc nghiệt.
Cùng với sự phát hiện ra giới tính của cây trồng, phương pháp lai tạo bổ sung cho kĩ
thuật chọn tọ giống. Ở thế kỉ này, công tác chọn tạo giống cây trồng dựa vào các
phương pháp lai trong cùng một loài với những phương pháp chọn giống đặc biệt
về tần số các biến dị và sự phân li ở các thế hệ và đã thu được kết quả tốt, góp phần
thúc đẩy sản xuất nông nghiệp. Nông nghiệp hiện đại ngày càng được cơ giới hóa
nên yêu cầu cần có những loại hình cây trồng phù hợp, đó là lí do để các nhà chọn
tạo giống tìm ra những cây trồng có tính trạng, đặc tính đáp ứng đầy đủ và thõa mãn
các nhu cầu trên.
Theo Luật hạt giống được ban hành để đảm bảo quyền lợi cho người mua và
người bán hạt giống. Trong luật quy định rõ trách nhiệm của cơ sở sản xuất giống
và công ty buôn bán giống đồng thời bảo hộ quyền lợi của các tổ chức này trong
trường hợp có gian lận. Luật hạt giống bảo hộ quyền lợi của người sử dụng giống
để hạn chế đến mức tối đa các thiệt hại do giống xấu gây ra. Tùy theo từng quốc gia
mà luật hạt giống được Chính phủ ban hành dưới dạng bộ Luật hoặc Nghị định.
Trong luật quy định các nội dung về sản xuất giống, chế biến, đóng gói, bảo quản
hạt giống, kho giống, các nội dung kiểm nghiệm, trách nhiệm kinh tế của cơ sở sản
xuất và cơ quan kinh doanh giống.
Giống là một loại vật tư nên được buôn bán kinh doanh như các mặt hàng
nông nghiệp khác. Tuy nhiên giống là một vật tư đặc biệt, nó là vật tư sống và được
tái tạo, nhân lên, vì thế trong kinh doanh giống yêu cầu đảm bảo chất lượng, đúng
phẩm cấp được đặt lên hàng đầu. Để đảm bảo cung ứng giống kịp về thời gian, đủ
về khối lượng và đạt yêu cầu về chất lượng và công tác thông tin tuyên truyền,
hướng dẫn với nông dân phải được tiến hành rộng rãi và thường xuyên. Các cơ
quan kinh doanh giống phải có mối liên hệ mật thiết với các cơ quan nghiên cứu
chọn tạo giống để nhằm đáp ứng đủ nhu cầu của nông dân. Buôn bán và kinh doanh
9
giải quyết vấn đề trên thì chúng ta phải nâng cao kết quả SXKD trong các Công ty,
doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực giống cây trồng. Vì nâng cao kết quả
10
SXKD sẽ tạo điều kiện cho các Công ty cung ứng các loại giống cây có chất lượng,
đáp ứng đủ số lượng cũng như kịp thời vụ cho người sản xuất (Phạm Văn Dược và
Đặng Kim Cương, 1996).
- Ý nghĩa
Khi nâng cao kết quả SXKD thì có lợi cho người sản xuất và người tiêu
dùng. Với người sản xuất, nâng cao hiệu quả trong SXKD có tác dụng tiết kiệm
được chi phí sản xuất, tối đa hoá lợi nhuận. Còn với người tiêu dùng thì nâng cao
hiệu quả kinh tế sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu và khi đó họ sẽ mua sản phẩm với giá
rẻ hơn, số lượng mua sẽ nhiều hơn, chất lượng tốt hơn từ đó lại kích thích trở lại
cho sản xuất phát triển.
2.1.2.2 Vai trò của việc nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh đối với kinh doanh
giống cây trồng
Trong 2 thập kỷ vừa qua, ngành nông nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều
thành tựu đáng khích lệ. Trong khi đã đảm bảo được an ninh lương thực trong nước,
Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia lớn trên thế giới trong lĩnh vực sản
xuất và xuất nông sản của một số loại cây trồng như lúa gạo, cà phê, cao su, điều,
chè và hồ tiêu Cùng với việc cải thiện hệ thống thuỷ lợi, phổ biến ứng dụng phân
bón hoá học và thuốc BVTV thì các giống cây trồng mới đã đóng vai trò rất quan
trọng để đạt được nhiều thành tựu trong phát triển nông nghiệp nông thôn. Ngành
giống cây trồng đã cung cấp một bộ giống phong phú, bao gồm những giống thuần
và giống ưu thế lai ngắn ngày, có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu
bệnh, có khả năng thích ứng rộng (đối với cây trồng hàng năm) và nhiều loại giống
cây trồng lâu năm được cải tiến, chọn lọc đưa vào sản xuất. Những kết quả này đã
tạo ra điều kiện rất cơ bản để nước ta thực hiện thành công “cuộc cách mạng mùa
vụ”, cải thiện chất lượng và nâng cao sản lượng.
Có thể hiểu sản phẩm giống cây trồng là tư liệu sản xuất đặc biệt của ngành
sản xuất nông nghiệp. Việt Nam hiện nay vẫn là nước có cơ cấu kinh tế nông
cây trồng cụ thể. Rất có thể một đặc điểm nào đó của đất đai là khó khăn cho phát
triển loại cây trồng này, nhưng lại là thuận lợi cho phát triển loại cây khác. Đồng
thời cũng cần xem xét trong từng thời vụ cụ thể trong năm về ảnh hưởng của đất đai
đối với sản xuất một loại cây trồng cụ thể.
12
Đối với sản xuất hàng hoá và chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp, đất đai
tuy thường được xem xét trước, nhưng mức độ ảnh hưởng của nó đến sản xuất hàng
hoá và chuyên môn hoá không mang tính quyết định bằng điều kiện khí hậu. Những
thông số cơ bản của khí hậu như: nhiệt độ bình quân hàng năm, hàng tháng; nhiệt
độ cao nhất, thấp nhất hàng năm, hàng tháng; lượng mưa hàng năm, hàng tháng;
lượng mưa bình quân cao nhất, thấp nhất trong thời kỳ quan trắc; độ ẩm không khí;
thời gian chiếu sáng, cường độ chiếu sáng; chế độ gió; những hiện tượng đặc biệt
của khí hậu như sương muối, mưa đá, tuyết rơi, sương mù… đều phải được phân
tích, đánh giá về mức độ ảnh hưởng đến phát triển của từng loại cây trồng cụ thể.
Ngoài đất đai và khí hậu, nguồn nước cũng cần được xem xét. Nguồn nước bao
gồm cả nước mặt và nước ngầm, hoặc khả năng đưa nước từ nơi khác đến vùng sản
xuất mà chúng ta đang xem xét.
Đối với sản xuất hàng hoá và chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp, các yếu
tố thuộc về điều kiện tự nhiên được xem như cơ sở tự nhiên của phân công lao động
trong nông nghiệp. Đa phần những chuyên môn hoá theo vùng trong nông nghiệp
cho đến thời đại ngày nay, đều xuất phát từ sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, trong
đó chủ yếu xuất phát từ sự khác biệt về khí hậu và nguồn nước. Sự chuyên môn hoá
giữa vùng này và vùng khác trong một quốc gia, hoặc giữa quốc gia này với quốc
gia khác trên phạm vi thế giới, cơ bản đều xuất phát từ sự khác biệt của điều kiện
khí hậu. Đó là cơ sở tự nhiên cho sự phân công lao động quốc tế.
b. Nhóm yếu tố kinh tế xã hội
Đất đai, khi xem xét những đặc tính về cơ, lý, hoá, sinh ảnh hưởng như thế
nào đến sản xuất hàng hoá và chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp, thì đó được
coi là điều kiện tự nhiên. Song nếu xem xét nó về qui mô diện tích bình quân cho
một nhân khẩu, cho một lao động, cách thức phân phối quĩ đất nông nghiệp … thì