Ứng xử của người dân với tình trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động tập kết thu gom rác thải về bãi rác kiêu kỵ trên địa bàn xã kiêu kỵ gia lâm – hà nội - Pdf 24

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận
này là trung thực và chưa hề được sư dụng để bảo vệ một học vị nào cả.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận
này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ
rõ nguồn gốc. Đồng thời tôi xin cam đoan rằng trong quá trình thực hiện đề
tài này tại địa phương tôi luôn chấp hành đúng mọi quy định của địa phương
nơi thực hiện đề tài.
Hà nội, ngày 02 tháng 6 năm 2014
Sinh viên
Phan Thị Ngọc Huyền
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khó luận này, tôi đã
nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều cá nhân tập thể trong và ngoài
trường.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trường Đại
học Nông Nghiệp Hà Nội, các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế & PTNT đã
trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản và những định hướng đúng đắn trong
học tập và tu dưỡng đạo đức, tạo tiền đề tốt để tôi học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo ThS. Hồ Ngọc
Cường Bộ môn Kinh tế tài nguyên và môi trường - Khoa Kinh tế & PTNT
trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã dành nhiều thời gian tận tình chỉ
bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất tới tập thể cán bộ UBND xã
Kiêu Kỵ, đoàn thể các cán bộ ở phòng Tài Nguyên và môi trường và Xí
nghiệp môi trường Đô Thị huyện Gia Lâm và các công nhân thu gom rác thải
của Xí nghiệp môi trường Đô thị Gia Lâm cùng với người dân xã Kiêu Kỵ đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong qua trình nghiên cứu tại địa
phương.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn người thân, gia đình và bạn bè đã

rác Kiêu Kỵ trên địa bàn xã.
Tuy nhiên, hiện nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu để hệ thống hóa
lý luận và thực tiễn về ứng xử của người dân trên địa bàn xã Kiêu Kỵ, để góp
iii
phần đưa ra giải pháp cũng như đề xuất kiến nghị với các cơ quan chức năng
liên quan quan tâm đúng mức, giảm thiểu ô nhiễm môi trường do hoạt động
thu gom rác thải. tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ứng xử của người dân với
tình trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động tập kết thu gom rác thải về
bãi rác Kiêu Kỵ trên địa bàn xã Kiêu Kỵ- Gia Lâm – Hà Nội”.
Mục đích của khóa luận nhằm làm rõ vai trò của các cơ quan chức
năng, bên liên quan từ đó đề ra giải pháp cũng như đề xuất, kiến nghị quan
tâm và giảm thiểu ô nhiễm môi trường do hoạt động thu gom rác thảivà đề
xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường do hoạt động thu
gom rác thải.
Để thấy rõ được ứng xử của các hộ dân trước tình trạng ô nhiễm môi
trường do hoạt động thu gom rác thải, bài khóa luận sẽ thông qua đánh giá
ứng xử của hộ nông dân trong việc giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường,
giảm thiểu tác động cùa ô nhiễm môi trường và ứng xử của hộ đối với việc đề
xuất giải pháp giảm thiể ô nhiễm môi trường. Việc sử dụng cácphương pháp
chọn địa điểm nghiên cứu, phương pháp thu thập thông tin, phương pháp
phân tích số liệu, phương pháp dự báo để thấy rõ ứng xử của hộ nông dân
trong các hoạt động giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Thông qua thu nhập
thông tin từ phương pháp điều tra, phỏng vấn theo bảng câu hỏi theo phương
pháp chọn mẫu điều tra tại 3 nhóm hộ dân với 3 khoảng cách khác nhau tới
bãi rác Kiêu Kỵ : nhóm hộ có khoảng cách < 500m với 15 hộ ( hộ gần bãi
rác), nhóm hộ có khoảng cách 500m – 1000m với 30 hộ ( hộ gần trung bình),
nhóm hộ có khoảng cách >1000m ( hộ xa bãi rác).
Kết quả điều tra cho thấy hoạt động thu gom và xử lý rác thải của nhà
máy xí nghiệp môi trường đô thị huyện Gia Lâm đã gây ra ô nhiễm môi
trường đất, nước, không khí và môi trường hệ sinh thái ảnh hưởng đến sức

hoạt động thu gom rác một cách triệt để, tổ chức tuyên truyền tập huấn các
v
nội dung bảo vệ môi trường và hành vi giảm thiểu ô nhiễm môi trường, di
chuyển bãi rác đi nơi khác,…
Như vậy, ứng xử của các hộ dân ở đây chỉ là các giải pháp trước mắt,
chính sách quản lý môi trường ở địa phương chưa thực hiện tốt. Nghiên cứu phân
tích một số yếu tố ảnh hưởng tới ứng xử của các nhóm hộ dân như trình độ học
vấn, điều kiện kinh tế, khoảng cách của hộ tới bãi rác, tham gia lớp tập huấn.
Để giảm thiểu tác động của ô nhiễm môi trường tới đời sống kinh tế và
sức khỏe của người dân, đề tài đã đưa ra các giải pháp : Khuyến khích những
người dân xung quanh bị ảnh hưởng đưa ra những ý kiến nhằm góp ý cho
việc thu gom và xử lý rác thải lên cơ quan chính quyền và được chính quyền
xử lý. Đưa ra các biện pháp cải thiện cuộc sống cho những người dân, cho họ
các lời khuyên như thay đổi phương thức sản xuất, dùng hệ thống nước sạch,
… nhằm giảm thiểu ô nhiễm. Giải quyết các vấn đề mà những người dân đã
gửi thư yêu cầu cơ quan chính quyền xử lý sẽ giúp người dân thấy được giá trị
của mình.
vi
MỤC LỤC
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
viii
DANH MỤC CAC HỘP Ý KIẾN
Hộp 4.1: Ý kiến của phó chủ tịch về vấn đề người dân chặn xe chở rác Error:
Reference source not found
Hộp 4.2: Kết quả xét nghiệm về mẫu nước ở xã Kiêu kỵ Error: Reference
source not found
Hộp 4.3: Trách nhiệm của ai Error: Reference source not found
Hộp 4.4: Diện tích trồng lúa bị thiệt hại hoàn toàn.Error: Reference source not
found

CTR Chất thải rắn
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
BVMT Bảo vệ môi trường
PTNT Phát triển nông thôn
xi
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường luôn đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống con người.
Nó bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết
với nhau bao quanh con người có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại,
phát triển của con người và thiên nhiên. Hiện nay môi trường đã trở thành vấn
đề chung của toàn nhân loại, được thế giới quan tâm. Mục tiêu đạt môi trường
xanh sạch đẹp không chỉ đơn thuần tạo nên vẻ mỹ quan cho xã hội mà còn ảnh
hưởng tích cực đến sức khỏe của con người. Tuy nhiên, trong hoạt động sống
thường ngày con người đã thải ra môi trường một khối lượng rác rất lớn và ngày
càng nhiều. Điều này đã làm cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Việt Nam nằm trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là nơi hiện
tại đang xuống cấp cục bộ về môi trường. Có nhiều nơi bị hủy hoại nghiêm
trọng gây nên nguy cơ mất cân bằng sinh thái, cạn kiệt các nguồn tài nguyên,
làm ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống và sự phát triển bền vững của đất
nước. Đặc biệt trong những năm gần đây cùng với sự phát triển mạnh mẽ của
các ngành kinh tế và quá trình đô thị hóa thì tình trạng ô nhiễm môi trường
cũng ngày càng trở nên trầm trọng, đặc biệt là tại các đô thị lớn. Theo số liệu
thống kê thì trung bình rác thải sinh hoạt/ngày khu vực thành phố Hà Nội là
1368 tấn; TP Hồ Chí Minh là 3752 tấn. Với tốc độ tăng như hiện nay thì dự
kiến đến năm 2020, tổng lượng rác thải chỉ riêng 3 thành phố Hà Nội, Hồ Chí
Minh và Đà Nẵng sẽ thải là khoảng 3.318.823 tấn/năm. Hệ lụy từ thực tế đó
sẽ dẫn tới lượng rác thải bị ứ đọng tại các thành phố và các địa phương khác
trở thành vấn đề đáng quan ngại. Hiện nay, công tác thu gom mới đạt 70%

chế sự ô nhiễm môi trường ảnh hưởng tới đời sống, sức khỏe, sản xuất của
2
người dân và có chính sách quan tâm tới người dân trên địa bàn xã Kiêu Kỵ
nói chung, xung quanh khu vực tập kết rác nói riêng. Tuy nhiên, hiện nay
chưa có một đề tài nào nghiên cứu để hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về ứng
xử của người dân trên địa bàn xã Kiêu Kỵ, để góp phần đưa ra giải pháp cũng
như đề xuất kiến nghị với các cơ quan chức năng liên quan quan tâm đúng
mức, giảm thiểu ô nhiễm môi trường do hoạt động thu gom rác thải. tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Ứng xử của người dân với tình trạng ô nhiễm môi
trường do hoạt động tập kết thu gom rác thải về bãi rác Kiêu Kỵ trên địa
bàn xã Kiêu Kỵ- Gia Lâm – Hà Nội”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu ứng xử của người dân với tình trạng ô nhiễm
môi trường do hoạt động tập thu gom rác thải về bãi rác Kiêu Kỵ trên địa bàn
xã Kiêu Kỵ - Gia Lâm – Hà Nội làm rõ vai trò của các cơ quan chức năng,
bên liên quan từ đó đề ra giải pháp cũng như đề xuất, kiến nghị quan tâm và
giảm thiểu ô nhiễm môi trường do hoạt động thu gom rác thải.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
+ Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về ứng xử của
người dân trước tình hình ô nhiễm môi trường do hoạt động thu gom rác thải
gây ra.
+ Đánh giá thực trạng ứng xử của người dân với ô nhiễm môi trường ở
xã Kiêu Kị - Gia Lâm – Hà Nội.
+ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ứng xử của người dân trước thực
trạng ô nhiễm môi trường trong việc thu gom rác thải.
+ Đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường do hoạt
động thu gom rác thải.
3
1.3. Câu hỏi nghiên cứu

2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1Một số khái niệm liên quan
2.1.1.1 Khái niệm môi trường
Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về môi trường, tùy thuộc
vào phạm vi và đối tượng nghiên cứu của ngành khoa học khác nhau.
Theo luật bảo vệ môi trường đã được nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa IX. Kỳ họp thứ 4 định nghĩa khái niệm môi trường như sau:
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ
mật thiết với nhau. Bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản
xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên.” (Luật bảo vệ môi
trường Việt Nam, Năm 2006).
“ Môi trường là tổng hợp các yếu tố tồn tại xung quanh sinh vật và
ảnh hưởng đến sinh vật”. (Masn và Langenhim, 1997)
“ Môi trường là tất cả những gì ngoài cơ thể, có liên quan mật thiết và
có ảnh hưởng đến sự tồn tại của con người như đất, nước, không khí, ánh
sáng, mặt trời, rừng, biển, tần Ozone, sự đa dạng sinh học về các loài”. (Joe
Whiteney,1993)
Như vậy môi trường sống đối với con người không chỉ là nơi tồn tại,
sinh trưởng, phát triển, phát triển cho một thực thể sinh vật là con người mà còn là
“ khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự nghi ngờ của con người”.
Đúc kết từ các khái niệm trên mà môi trường được phân thành ba loại:
- Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lí, hóa
học, sinh học tồn tạo ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều tác
động của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí,
5
động thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta khí để thở, đất để xây
nhà cửa, trồng cây chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên
khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất
thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống của con người
thêm phong phú.

Ô nhiễm môi trường (ONMT) là vấn đề nhảy cảm nên nó được định
nghĩa trên nhiều khía cạnh.
Theo luật bảo vệ môi trường,2005: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi
các thành phần không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng
xấu đến con người và sinh vật”.
Theo tổ chức y tế thế giới: ONMT là việc chuyển các chất thải hoặc
nguyên liệu vào môi trường đến mức có khả năng gây hại cho sức khỏe con người
và sự phát triển của các sinh vật hoặc giảm chất lượng môi trường sống.
Ô nhiễm môi trường là hiện tượng suy giảm chất lượng môi trường quá
một giới hạn cho phép, đi lại với mục đích sử dụng môi trường, ảnh hưởng
đến sức khỏe con người và sinh vật ( Lê Huy Bá và cộng sự, 2005).
Ô nhiễm môi trường còn được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc
năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con
người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường.
Các tác nhân làm ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí, lỏng, rắn chứa
hóa chất hoặc tác nhân vật lí, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ,
bức xạ. Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm
lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác
động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu.
Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi trực tiếp hay gián tiếp các thành
phần và các đặc tính của bất kì thành phần nào của môi trường hay toàn bộ
môi trường vượt quá mức cho phép. Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường có
7
thể do hoạt động nhân tạo của con người hoặc các quá trình tự nhiên. Để đánh
giá mức độ ô nhiễm có thể dựa vào tình trạng sức khỏe bệnh tật của con
người và của sinh vật hay dựa vào các thang đo tiêu chuẩn chất lượng môi
trường.
Ô nhiễm môi trường được chia làm 3 loại chính đó là: ô nhiễm môi
trường nước, ô nhiễm môi trường đất và ô nhiễm môi trường không khí. Cụ
thể như sau:

công cộng…, đều sinh ra một lượng rác đáng kể. Thành phần chủ yếu của
chúng là chất hữu cơ và rất dễ gây ô nhiễm trở lại cho môi trường sống nhất.
Cho nên, rác sinh hoạt có thể định nghĩa là những thành phần tàn tích hữu cơ
phục vụ cho hoạt động sống của con người, chúng không còn được sử dụng
và vứt trả lại môi trường sống.
- Rác thải công nghiệp: Là các chất thải phát sinh từ các hoạt động sản
xuất các nhà máy, xí nghiệp, gồm:
+ Chất thải rắn nguy hại: dễ cháy nổ, gây ngộ độc cho sức khỏe con
người và dễ ăn mòn nhiều vật chất khác.
+ Chất thải rắn không nguy hại.
- Rác thải y tế: Là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ
sở y tế, gồm:
+ Chất thải y tế nguy hại: là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức
khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ
cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải
này không được tiêu hủy an toàn.
+ Chất thải thông thường
- Rác thải phóng xạ: Là chất thải có chứa chất phóng xạ. Chất thải
phóng xạ thường là sản phẩm phụ của nhà máy điện hạt nhân và các ứng dụng
9
khác của phân hạch hạt nhân hoặc công nghệ hạt nhân, chẳng hạn như nghiên
cứu và y học. Chất thải phóng xạ nguy hiểm cho hầu hết các hình thức của
sống và môi trường, và được quy định bởi các cơ quan chính phủ để bảo vệ
sức khỏe con người và môi trường.
Phóng xạ giảm theo thời gian, do đó, chất thải thường bị cô lập và được
lưu trữ trong một khoảng thời gian cho đến khi nó không còn là mối nguy
hiểm. Thời gian lưu trữ phụ thuộc vào loại chất thải. Chất thải ở mức độ thấp
với các mức phóng xạ thấp trên mỗi khối lượng hoặc khối lượng (chẳng hạn
như một số chất thải y tế hoặc chất thải phóng xạ công nghiệp) có thể cần
phải được lưu trữ cho các giờ, vài ngày trong khi chỉ cao cấp chất thải (như

yêu cầu. Mặt khác do nhận thức của người dân còn chưa cao nên lượng rác bị
vứt bừa bãi ra môi trường còn nhiều, việc thu gom có phân loại tại nguồn vẩn
chưa được áp dụng rộng rãi do thiếu đầu tư cho cơ sở cũng như thiết bị, nhân
lực và nâng cao nhận thức. Vì vậy việc thu gom rác chưa phân loại vẩn là chủ
yếu. Công tác thu gom thông thường sử dụng 2 hình thức là thu gom sơ cấp
(người dân tự thu gom vào các thùng rác/ túi chứa sau đó được công nhân thu
gom vào các thùng rác đầy tay cở nhỏ) và thu gom thứ cấp ( rác các hộ gia
đình được các công nhân thu gom vào các xe đẩy tay sau đó chuyển các xe ép
rác chuyên dụng và chuyển đến khu xử lý hoặc tại các chợ/ khu dân cư có đặt
con-tainer chứa rác, công ty môi trường các đô thị có xe chuyên dụng chở
con-tainer đến khu xử lý.
Vì vậy hoạt động thu gom rác thải có vai trò rất quan trọng đối với
con người, nó quyết định đến sức khỏe, kinh tế, xã hội của con người trong
khu vực gần bãi rác.
c. Tỷ lệ thu gom rác thải
11
Công tác thu gom rác thải thì được quan tâm hơn, đầu tư hơn nhưng
chỉ tập trung vào các trung tâm thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh.
Theo báo cáo của các sở TN&MT năm 2010, khối lượng chất thải phát sinh
trên địa bàn Hà Nội vào khoảng 6.200 tấn/ngày. Ước tính, tỷ lệ thu gom chất
thải thải sinh hoạt ở các quận nội thành đạt 95%, các huyện ngoại thành chỉ
đạt 60%, lượng chất thải rắn công nghiệp được thu gom đạt 85-90% và các
chất thải khác chỉ đạt khoảng 60-70 %.
Vậy một câu hỏi đặt ra là số lượng chất thải mà nhà máy không xử lý
được nó sẽ làm gì và công cuộc xử lý thu gom đó đã gây ra những ô nhiễm
như thế nào đến những người dân xung quanh.
2.1.1.4 Ô nhiễm môi trường do hoạt động thu gom rác thải.
Khái niệm: Ô nhiễm môi trường do hoạt động thu gom rác thải là sự
biến đổi các thành phần không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường do hoạt
động thu gom rác thải của các cấp chưa tốt gây ảnh hưởng xấu đến con

Có thể nói những ảnh hưởng này hiện tại và trong tương lai sẽ trực
tiếp và gián tiếp tới đời sống con người xung quanh khu vực tập kết rác thải.
Từ đó, con người có những hành vi, thái độ và hành động khác nhau mà gọi
chung là ứng xử.
2.1.2 Ứng xử của người dân về ô nhiễm môi trường do hoạt động thu gom
rác thải.
2.1.2.1 Khái niệm ứng xử
Có rất nhiều khái niệm khác nhau với những lĩnh vực khác nhau mà các
chuyên gia, các nhà tâm lý học đưa ra để phân tích về ứng xử của con người
trước một vấn đề nào đó.
- Theo từ điển tiếng Việt, ứng xử của các cá nhân là thái độ, hành động
của các cá nhân trước một sự việc cụ thể. Thông thường thái độ và hành động
13
đúng đắn của các cá nhân sẽ giúp cho việc giả quyết công việc một cách hợp
lí, mang lại lợi ích cho cá nhân đó.
Nguyễn Khắc Viện (1991) cho rằng ứng xử là chỉ mọi phản ứng của
động vật khi có một yếu tố nào đó trong môi trường; các yếu tố bên ngoài và
tình trạng bên trong gộp lại thành một tình huống và tiến trình ứng xử để kích
thích có định hướng nhằm giúp chủ thể thích nghi với hoàn cảnh.
Trong cuốn tâm lí học ứng xử, tác giả Lê Thị Bừng và Hải Vang đã đưa
ra khái niệm: Ứng xử là sự phản ứng của con người đối với tác động của
người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Nó thể hiện ở
chỗ con người không chủ động giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự
lựa chọn, tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng, tùy
thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người, nhằm đạt kết
quả giao tiếp nhất định ( Lê Thị Bừng và Hải Vang, 1997).
Theo Nguyễn Văn Bộ, những phản ứng đáp lại đối với tự nhiên theo
cách này hay cách khác có thể coi là ứng xử.
Tóm lại ứng xử của con người chỉ xảy ra khi và chỉ khi bị tác động mỗi
người khác nhau sẽ có những quyết định hành động khác nhau, nhưng những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status