GVHD: Trần Văn Hiệp SVTH: Trương Thị Loan
MỤC LỤC
Trang 1
Lời Cảm Ơn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Văn Hiệp đã tận tình
giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình thực hiện Bài báo cáo thu hoạch này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ Tâm lý giáo dục đã cho
em những ý kiến quý báu, giúp em hoàn thành Báo cáo thu hoạch này.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Tiểu học Quang Trung,
quý thầy cô đã nhiệt tình trực tiếp hướng dẫn chúng em trong suốt thời gian
nghiên cứu đề tài để chúng em hoàn thành đề tài đúng thời gian qui định.
Xin cảm ơn các thầy cô và các em học sinh Trường Tiểu học Quang Trung
đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện bài Báo cáo thu hoạch
này.
Vì bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu giáo dục nên bài Báo cáo
thu hoạch còn nhiều hạn chế và thiếu sót, em rất mong sự đóng góp của quý thầy
cô và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn !
Phú Yên , ngày 10 tháng 3 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Trương Thị Loan
GVHD: Trần Văn Hiệp SVTH: Trương Thị Loan
A. PHẦN MỞ ĐẦU 3
1.Lý do chọn đề tài: 3
1.1 Cơ sở lí luận : 3
1.2 Cơ sở thực tiễn : 6
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 8
2.1-Mục đích: 8
2.2-Nhiệm vụ: 8
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 8
Trang 2
GVHD: Trần Văn Hiệp SVTH: Trương Thị Loan
Chi đoàn giáo viên và Liên đội luôn phối hợp với chuyên môn trong việc phát
động phong trào thi đua dạy tốt - học tốt 23
2.2.2 Nguyên nhân của hạn chế tồn tại 23
2.3. Một số đề xuất, biện pháp dạy môn tập đọc : 25
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
MÔN TẬP ĐỌC 27
3.1 .Đọc mẫu ( của giáo viên ) 27
3.2 .Hướng dẫn học sinh tìm hiểu nghĩa của từ ngữ trong bài và nội dung bài
28
3.3 Hướng dẫn đọc và học thuộc lòng : 35
C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
Kết luận : 52
Kiến nghị : 53
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
1.1 Cơ sở lí luận :
Từ nay đến năm 2020 về cơ bản Việt Nam sẽ trở thành nước công
nghiệp, hội nhập với phát triển thế giới.
Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải chuẩn bị một lớp người lao động mới tự
chủ, sáng tạo và sẵn sàng thích ứng với những thay đổi mới về nền kinh tế, xã
hội của đất nước, phát triển hài hòa với đời sống ngày càng đa dạng, phức tạp
hơn nữa. Để trở thành một nước công nghiệp hoá, hiện đại hoá và những thách
thức mới của Hội nhập quốc tế. Đòi hỏi chúng ta phải khẩn trương đổi mới quá
trình giáo dục và đào tạo của mình để tạo ra những lớp người lao động mới có đủ
điều kiện phục vụ đất nước. Việc đổi mới về chương trình dạy học bao gồm đổi
mới về nội dung và phương pháp dạy học.
Trang 3
GVHD: Trần Văn Hiệp SVTH: Trương Thị Loan
và tinh thần học tập cả đời. Đọc là khả năng không thể thiếu được của con người
trong thời đại văn minh.Vì vậy, dạy tập đọc là rất cần thiết đối với học sinh tiểu
học. Qua bài tập đọc học sinh được làm quen với ngôn ngữ văn học, các nhân vật
trong các bài tập đọc, các thông điệp mà nội dung bài học nói đến. Tập đọc giúp
em phát triển các kĩ năng “ nghe- nói- đọc- viết ”. Nhất là việc rèn luyện kỹ năng
đọc giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện, cái đẹp,
dạy cho các em biết suy nghĩ logic cũng như biết tư duy có hình ảnh. Tập đọc là
một phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng
lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ 4 kỹ năng cũng là 4 yêu cầu
về chất lượng của đọc:đọc đúng, đọc nhanh(đọc lưu loát,trôi chảy), đọc có ý
thức(thông hiểu được nội dung những điều mình đọc) và đọc diển cảm .
- Bốn kỹ năng này được hình thành trong hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và
đọc thầm . Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau. Sự hoàn thiện
một trong những kỹ năng này sẽ có tác động tích cực đến những kỹ năng khác.
Ví dụ: đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội
dung văn bản.Ngược lại, nếu không hiểu điều mình đang đọc thì không thể đọc
nhanh và đọc diễn cảm được. Nhiều khi khó mà nói rạch ròi kỹ năng nào làm cơ
sở cho kỹ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng hay chính nhờ hiểu đúng mà
đọc được đúng . Vì vậy trong dạy đọc không thể xem nhẹ yếu tố nào.
- Nhiệm vụ thứ hai là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và
thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh. Nói cách khác
thông qua việc dạy đọc phải làm cho học sinh thích đọc và thấy rằng khả năng
đọc là có lợi ích cho các em trong cả cuộc đời, phải làm cho học sinh thấy đó là
Trang 5
GVHD: Trần Văn Hiệp SVTH: Trương Thị Loan
một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy
đủ và phát triển.
- Vì việc đọc không thể tách rời khỏi những nội dung được đọc nên bên cạnh
nhiệm vụ rèn kỹ năng đọc, giáo dục lòng say mê với sách, ham đọc sách, ham
tìm hiểu ở sách của học sinh.Tập đọc còn có nhiệm vụ không kém phần quan
của học sinh .Trong giờ tập đọc, chỉ một số ít học sinh được luyện đọc và phát
biểu ý kiến về nội dung bài đọc .Quy trình dạy đọc chưa hợp lý: Nhiều giáo viên
sa đà vào nhiệm vụ dạy học sinh đọc diễn cảm trước khi các em hiểu bài ( thậm
chí dạy ngay từ lớp1, 2). Khâu luyện đọc trơn, đọc trôi chảy bị coi nhẹ : Học sinh
chỉ luyện đọc qua loa trước khi tìm hiểu nội dung bài. Khi hướng dẫn học sinh
tìm hiểu bài, giáo viên cũng nặng về giảng từ ngữ, giảng bài, chưa chú ý tổ chức
cho học sinh hoạt động để rèn kỹ năng đọc- hiểu văn bản …
Năm học : 2012-2013, đa số các em không mấy thích đọc bài, các em đọc còn
chậm so với tốc độ quy định. Đọc còn sai từ, phát âm không chuẩn xác, chưa
cảm thụ hết tinh thần một bài văn, bài thơ nên dẫn đến chưa biết cách đọc phù
hợp với từng loại văn bản khác nhau.
Lên lớp 4, yêu cầu đọc tốc độ cao hơn lớp 3.Ngoài ra, các em còn phải biết
đọc một màn kịch, một vở kịch ngắn có giọng phù hợp nội dung và tình huống
kịch, biết đánh giá nhân vật, biết rút ra ý nghĩa văn bản…nên cần có phương
pháp dạy học giúp các em đạt kỹ năng đọc cao.
Phải thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực chủ
động, sáng tạo của học sinh. Giúp các em say mê đọc và nâng cao hiệu quả đọc
trong giờ tập đọc.
Xuất phát từ tình hình thực tế của lớp học, của trường tiểu học, đa số học
sinh kỹ năng đọc còn chưa tốt. Với những lí do trên nên chúng tôi mạnh dạn
Trang 7
GVHD: Trần Văn Hiệp SVTH: Trương Thị Loan
chọn đề tài : “Đổi mới phương pháp dạy học phân môn tập đọc theo hướng
tích cực cho học sinh khối lớp 4 Trường tiểu học Quang Trung năm học
2012-2013 ” để nghiên cứu.
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1-Mục đích:
Tìm hiểu thực trạng việc dạy học và đổi mới phương pháp dạy học phân
môn Tập đọc ở khối lớp 4 Trường Tiểu học Quang Trung. Trên cơ sở đó nâng
cao kĩ năng đọc trong phân môn Tập đọc theo hướng tích cực cho học sinh khối
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Phương pháp dạy học là gì ?
Phương pháp dạy học là phương pháp chung được xây dựng và vận
dụng vào quá trình cụ thể là quá trình dạy học. Phương pháp dạy học là tổ
hợp các cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy
học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của thầy nhằm thực hiện tốt các
nhiệm vụ dạy học.
1.2. Vài nét về lịch sử của phương pháp dạy học :
- Trong lịch sử đã tồn tại các phương pháp dạy học sau :
+ Phương pháp giáo điều ( trong xã hội nông nghiệp và tiền công nghiệp ):
Trang 9
GVHD: Trần Văn Hiệp SVTH: Trương Thị Loan
Thầy là trung tâm, chi phối tuyệt đối, thông báo cho người học những điều
cần học( như kinh Thánh, Tam Tự Kinh …) người học công nhận, học thuộc
lòng và đọc lại cho thầy nghe. Thầy là quyền lực- tri thức .
+ Các phương pháp dạy học cổ truyền:
Thầy vẫn là trung tâm truyền đạt lại cho người học những kết luận khoa học
sẵn có. Thầy giảng – Trò ghi, thầy nói – trò nhắc lại, thầy độc thoại –trò im
lặng .
Hoạt động của thầy nặng về thuyết giảng ,áp đặt, nhẹ về hoạt động tích cực,
chủ động của trò. Dù có cải tiến như : Tăng cường phát vấn, sử dụng nhiều
dụng cụ trực quan và phương tiện dạy học nhưng người học vẫn thụ động tiếp
thu một học vấn có sẵn. Các phương pháp cổ truyền chủ yếu rèn trí nhớ mà
không rèn luyện trí thông minh.
1.3.Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới :
1.3.1 .Cơ sở lí luận :
Đọc là hoạt động trí tuệ mà cơ sở là việc tiếp nhận thông tin bằng chữ viết
dựa vào hoạt động của cơ quan thị giác
Kỹ năng đọc là kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu dài.
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng kết hợp hoạt động cá nhân với
hoạt động nhóm và phát huy khả năng của cá nhân .
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành .
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng sử dụng kỹ thuật hiện đại vào
dạy học .
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng đổi mới cả phương pháp kiểm tra
và đánh giá kết quả học tập của học sinh.
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng đổi mới cách thiết kế bài dạy, lập
kế hoạch bài học và xây dựng mục tiêu bài học.
Trang 11
GVHD: Trần Văn Hiệp SVTH: Trương Thị Loan
1.5.Những đặc trưng của phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của
học sinh :
- Tổ chức các hoạt động đa dạng và phong phú .
- Tổ chức các hoạt động phát triẻn khả năng tự học của học sinh .
- Tổ chức các hoạt động khám phá bằng cách đưa ra một hệ thống các câu
hỏi hướng dẫn học sinh tìm ra được kết quả .
- Linh hoạt trong phương pháp và ứng xử sư phạm .
- Luôn kiểm tra đánh giá kiến thức và kỹ năng đạt được ở học sinh .
*Kết luận chương 1:
Đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề bức xúc không chỉ với những
người trực tiếp giảng dạy và học tập mà còn đối với toàn xã hội nhằm nâng
cao chất lượng dạy học và giáo dục, đáp ứng với những yêu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ngày nay việc đổi mới
phương pháp dạy học ở các bậc học đã và đang được đổi mới một cách sâu
sắc và mạnh mẽ mà cụ thể là nhiều hội thảo, chuyên đề và nhiều định hướng
đổi mới đã được triển khai. Tuy nhiên, chất lượng dạy và học vẫn chưa đáp
ứng được yêu cầu của xã hội. Có một số nguyên nhân không thể không tính
đến là :
Vấn đề phương pháp dạy học và đổi mới phương pháp dạy học chưa
- Chăm sóc gia đình chính sách, bà mẹ và trẻ em đều được nâng cao. Phụ huynh
có sự quan tâm đến : đưa đón tham gia với trường trong việc giáo dục con em
- Công tác giáo dục của 3 trường học luôn được chú trọng, đầu tư xây dựng,
nâng cấp sủa chữa một số phòng học đưa vào sử dụng năm học mới, tiếp tục
củng cố giữ vững phổ cập giáo dục đúng độ tuổi
- Triển khai tốt nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương 2012, giao quân đạt
chỉ tiêu 100%
- Xây dựng kế hoạch và triển khai tốt công tác đảm bảo an ninh chính trị và trật
tự an toàn xã hội
* Về văn hóa – xã hội:
- Có 1 đình thờ vị tiền hiền Lê Văn Xuyến.
- Có 1 đài truyền thanh địa phương
- Có trạm y tế đạt chuẩn năm 2011: khám chữa bệnh cho nhân dân
- Xã gồm có 3 thôn:
+ Ngọc Phước 1: gồm xóm 1 và xóm 2 với trên 350 hộ.
+ Ngọc Phước 2: gồm xóm 3 với trên 200 hộ
Trang 14
GVHD: Trần Văn Hiệp SVTH: Trương Thị Loan
+ Ngọc Lãng: gồm 5 xóm (xóm 4, 5, 6, 7, 8) với trên 700 hộ; có trường Mầm
non gần 126 cháu, trường Tiểu học Quang Trung với 304 HS, trường Trung học
cơ sở Võ Văn Kiệt với 244 HS.
- Là vùng trũng thấp ảnh hưởng lũ lụt. Tuy nhiên, cũng nhờ vậy mà có phù
sa bồi đắp
2.1.2.Tình hình nhà trường:
Trường tiểu học Quang Trung được thành lập kể từ năm học 1997-1998
theo Quyết Định số : 2340/GD-ĐT ra ngày 20/8/1997 của Giám đốc Sở Giáo dục
- Đào tạo Phú Yên cho đến nay là năm học thứ 16, kể từ khi thành lập trường.
-Thuận lợi:
- Được sự quan tâm của lãnh đạo phòng Giáo Dục-Đào Tạo; cấp ủy Đảng;chính
quyền địa phương; Hội phụ huynh học sinh giúp đỡ trong công tác giáo dục của
T.C 307 150 306 150 1
- Trong đó: Chuyển đi: 01 HS
- Sĩ số so với đầu năm: giảm 1 HS (chuyển đi)
b) Công tác huy động tuyển sinh:
- Huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1: 77 em. Tỉ lệ: 100%
- Hiệu quả đào tạo: 58/58 . Tỉ lệ: 100%
- Lớp học 2 buổi/ ngày. Tổng số: 3 lớp. Gồm: 93 em( Từ lớp 1-3)
- Lớp học môn Tiếng Anh: Tổng số: 6 lớp. Gồm: 168 em (Từ lớp 3,4,5)
- Lớp học môn Tin học: Tổng số: : 6 lớp. Gồm: 168 em (Từ lớp 3,4,5)
c)Công tác xây dựng và phát triển đội ngũ :
-Tổng số cán bộ giáo viên và công nhân viên của đơn vị cuối học kỳ I : 22
người .
(Chia ra : Quản lý : 2 người ; 18 giáo viên; nhân viên 2 người.)
Trong đó :Hợp đồng 02 người ;Biên chế : 20 người.
-Số giáo viên đứng lớp : 14 người/10 lớp .Tỉ lệ : 1,4 (Không kể 01 giáo
viên Anh văn )
-Chất lượng đội ngũ giáo viên :
Trang 16
GVHD: Trần Văn Hiệp SVTH: Trương Thị Loan
Trình độ sư phạm của giáo viên hiện nay như sau :
-Tổng số giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn : 20/20 người .Tỉ lệ :100%
Trong đó : Trên chuẩn :15/20. Tỉ lệ : 75,0%.
Đạt chuẩn : 5/20. Tỉ lệ : 25,0%
-Trình độ A tin học :15/20 Tỉ lệ : 75,0%
-Trình độ B tin học :05/20 Tỉ lệ : 25,0%
-Trình độ A Anh văn :13/20 Tỉ lệ : 65,0%
-Trình độ B Anh văn : 04/20 Tỉ lệ : 20,0%
-Số giáo viên có chứng chỉ thiết kế giáo án điện tử : 18/20 người.
Tiếp tục khuyến khích giáo viên theo học các lớp để nâng cao trình độ
nghiệp vụ tay nghề ,nâng cao trình độ nghiệp vụ sư pham trên chuẩn .
mạnh mẻ,… cần đọc đúng là: hoang dã, nổi tiếng, những, mũi thuyền, mãi mãi,
mạnh mẽ,…
- Còn một số học sinh đọc chưa chú ý dấu câu, đọc ngắt hơi, nghỉ hơi chưa đúng
nhịp thơ. Ví dụ như bài: “bài ca về trái đất”
“Trái đất này là/ của chúng mình
Quả bóng xanh bay/ giữa trời xanh…”
+ Cần đọc ngắt hơi, nghỉ hơi, đúng nhịp là:
“Trái đất này/ là của chúng mình
Quả bóng xanh/ bay giữa trời xanh”
Hay là “Con chim sẻ nhỏ chết rồi
Chết trong đêm cơn bão về gần sáng
Đêm ấy tôi nằm/ trong chăn nghe/cánh chim đập cửa”
(Tiếng vọng)
Mà phải ngắt như”… Đêm ấy /tôi nằm trong chăn/ nghe cánh chim đập cửa”
+ Và cũng nhấn giọng đúng chỗ như:
Trang 18
GVHD: Trần Văn Hiệp SVTH: Trương Thị Loan
“Sự ấm áp gối chăn đã giữ chặt tôi
Và tôi ngủ ngon lành đến lúc bão vơi
Chiếc tổ cũ trong ống tre đầu nhà chiều gió hú
Không còn nghe tiếng cánh chim về
Và tiếng hót mỗi sớm mai trong vắt
Nó chết trước cửa nhà tôi lạnh ngắt
Một con mèo hàng xóm lại tha đi
Nó để lại trong tổ những quả trứng
Những con chim non mãi mãi chẳng ra đời”
Đoạn thơ trên cần đọc với giọng nhẹ nhàng, traàm buồn bộc lộ cảm xúc day
dứt, xót thương, ân hận trước cái chết thương tâm của chú chim sẻ nhỏ và
nhấn giọng ở những từ: “chết rồi, ấm áp, giữ chặt, lạnh ngắt, mãi mãi”
- Có 4 học sinh đọc đúng ngũ điệu câu như lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng
+ Học sinh còn nhút nhát , chưa mạnh dạn giơ tay, sợ đọc sai, đọc không tốt
sẽ bị giáo viên khiển trách…
Với nhiều nguyên nhân như thế nên tôi tự nghiên cứu và nhận thấy rằng:
phân môn tập đọc cần xoáy sâu vào yêu cầu luyện đọc(đọc từ khó, đọc câu khó,
đọc từng đoạn, đọc theo nhóm, đọc phân vai…)và như thế cả lớp đều được đọc
bài.
Khi đọc bài, trước tập thể lớp, bạn nào đọc tốt thì được cả lớp tuyên dương,
giáo viên khen ngợi.
Việc giáo viên thay đổi quan điểm nhìn nhận, cách đánh giá kết quả học tập,
đổi mới phương pháp dạy học sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy tập đọc.
Bên cạnh những khó khăn trên, hiện nay tôi cũng có nhiều thuận lợi như:
- Giáo viên và học sinh được trang bị đầy đủ sách giáo khoa.
Trang 20
GVHD: Trần Văn Hiệp SVTH: Trương Thị Loan
- Sách giáo khoa hỗ trợ rất nhiều cho việc nghiên cứu, lựa chọn phương pháp
giảng dạy của giáo viên. Sách giáo khoa có nôi dung phong phú, đa dạng giúp
học sinh phát triển trí tưởng tượng, tư duy. Mặt khác, sách có nhiều mảng
kiến thức gần gũi với thực tế cuộc sống hằng ngày nên học sinh thấy thích
thú. Song song với kênh chữ, kênh hình cũng không kém phần quan trọng,
tranh vẽ màu sắc đẹp, tươi sáng , rất vui mắt.
- Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy
học bộ môn tập đọc được thể hiện qua bảng sau:
* Bảng 2.1: Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của việc đổi mới phương
pháp dạy học bộ môn tập đọc .
STT MỨC ĐỘ SỐ LƯỢNG % GHI CHÚ
1 Rất quan trọng 5 100%
2 Quan trọng 0
3 Bình thường 0
4 Không quan trọng 0
*Qua bảng trên cho ta thấy việc đổi mới phương pháp dạy học phân môn tập đọc
5 Thảo luận nhóm 5 3 2
*Thực trạng đổi mới
MỨC ĐỘ
Cao T.Bình Thấp
Coi trọng việc tổ chức các hoạt động học tập của
học sinh .
X
Tạo điều kiện để học sinh tìm tòi và tự tiếp nhận
tri thức .
X
Tạo điều kiện để học sinh được hình thành các kỹ
năng tư duy
X
Tạo điều kiện để học sinh được rèn các kỹ năng
sống .
X
Phát huy được quan hệ hợp tác của học sinh với
các bạn .
X
Tạo điều kiện để học sinh được đánh giá . X
* Kết quả chuyển biến:
Sau thời gian thực hiện các biện pháp trên, tôi đã gặt hái kết quả rất khả
quan. Hầu hết các em đều yêu thích môn học, đọc bài lưu loát,chính xác. Các em
đọc tự nhiên thoải mái, đôi lúc rất dí dỏm khi vào vai nhân vật. Chính sự khéo
léo của giáo viên làm cho lớp học sôi nổi, không khí học vui tươi, nhẹ nhàng.
Học sinh tiếp thu bài học một cách tự nhiên không gượng ép nặng nề như trước.
Trang 22
GVHD: Trần Văn Hiệp SVTH: Trương Thị Loan
Kết quả cụ thể như sau:
+Khối lớp 4 trong 50 học sinhcó 40 học sinh đọc tốt, rất thích giáo viên
Đời sống của nhiều giáo viên còn khó khăn, trong khi số tiết dạy trong tuần
của giáo viên cao, nên giáo viên ít có thời gian đầu tư thoả đáng cho việc đổi mới
phương pháp dạy học .
Động cơ thái độ học tập của nhiều học sinh chưa thật tốt. Học sinh vẫn
quen với lối học thụ động, chưa sẵn sàng tham gia một cách tích cực, chủ động
vào các nội dung học tập
Các cơ quan nghiên cứu chưa đầu tư nhiều vào việc bồi dưỡng giáo viên và cán
bộ quản lí về đổi mới phương pháp dạy học (chưa có những công trình nghiên cứu
vừa đảm bảo cơ sở lí luận, vừa giải quyết được việc chỉ dẫn cho giáo viên dạy học
theo hướng tích cực, )
Việc kiểm tra thi cử mặc dầu có những đổi mới nhưng vẫn mang tính hình
thức, chưa khuyến khích được cách học thông minh, sáng tạo của học sinh.
*Tóm lại: Nhìn chung việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học của
nhà trường trong thời gian qua, đang có chiều hướng phát triển, đa số giáo viên
đều vận dụng được phương pháp dạy học tích cực, học sinh có phương pháp học
phù hợp, chất lượng học của học sinh có tiến bộ, quan hệ trong nhà trường ngày
càng thân thiện hơn
Giáo viên là người thực hiện các phương pháp dạy học khi tiến hành các
hoạt động dạy học trên lớp, đồng thời cũng là lực lượng quyết định quá trình đổi
mới phương pháp dạy học, bởi vậy cần đẩy mạnh các hoạt động bồi dưỡng giáo
viên ngay tại nhà trường. Cách làm có hiệu quả nhất là thông qua các hoạt động
học tập, thảo luận, rèn luyện ở tổ theo hướng đổi mới, nhất là hoạt động thao
Trang 24
GVHD: Trần Văn Hiệp SVTH: Trương Thị Loan
giảng, dự giờ để thể hiện các kĩ năng sư phạm thường xuyên. Khi trình độ người
giáo viên được nâng cao hơn thì qua trình đổi mới phương pháp dạy học lại tiến
hành một cách chủ động, sáng tạo và có chất lượng hơn. Tuy nhiên trong quá
trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, cán bộ quản lí, giáo viên và học
sinh gặp không nhỏ những trở ngại khó khăn vì thế việc đổi mới phương pháp
dạy học như chưa được mong muốn.