ĐỀ TÀI: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LIÊN
MÔN ĐỂ GIẢNG DẠY VỀ VĂN HÓA CỔ ĐẠI
LỊCH SỬ LỚP 10
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
1. Vài nét tổng quan về dạy học liên môn
1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về dạy học liên môn:
1.1.1. Cơ sở lý luận:
1.1.2 Cơ sở thực tiễn:
1.2. Một số phương pháp vận dụng nguyên tắc dạy học liên môn đối với
một số bộ môn cụ thể:
1.2.1. Sử dụng tài liệu văn học:
1.2.2. Sử dụng tư liệu về các tác phẩm nghệ thuật
1.2.3. Sử dụng tài liệu địa lý:
1.2.4. Sử dụng tài liệu các lĩnh vực khoa học khác:
2. Vận dụng phương pháp dạy học liên môn để giảng dạy về văn hóa
cổ đại lịch sử 10
2.1. Liên môn địa lý:
2.2. Liên môn văn học:
2.3. Liên môn nghệ thuật:
2.4. Liên môn với các lĩnh vực khoa học khác:
3. Kết quả việc vận dụng phương pháp dạy học liên môn để giảng dạy
về văn hóa cổ đại lịch sử 10
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Môn lịch sử là bộ môn có vai trò quan trọng, qua đó học sinh có thể hiểu
biết về lịch sử dân tộc và thế giới, từ đó hoàn thiện và phát triển nhân cách con
người.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài, tôi chọn 3 lớp khối 10 làm thí điểm(10 E, 10 H, 10 G).
- Số lượng học sinh: 89
- Đặc điểm của học sinh: Học sinh có đặc điểm chung đều là các em theo
học ban khoa học tự nhiên. Việc chọn học sinh sẽ có những ưu và nhược điểm
nhất định.
Về ưu điểm: Các em đều là lớp khối A nên khả năng tư duy, phân tích,
đánh giá vấn đề tương đối tốt. Mặt khác, các em cũng có ý thức học tập, có
niềm đam mê tìm tòi, khám phá.
Về nhược điểm: Học sinh không phải chuyên ban nên chưa có hiểu biết sâu
về các vấn đề lịch sử, một số em còn chưa chú trọng môn học mà tập trung
nhiều vào các môn khoa học tự nhiên.
Chính vì vậy, khi chọn đối tương học sinh trên, tôi mong muốn với những
đổi mới của mình trong phương pháp sử dụng kiến thức liên môn sẽ làm tăng
hứng thú cho các em trong việc học tập lịch sử, giúp các em tìm tòi và khám
phá, không còn e ngại với các môn xã hội như lịch sử.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Mặt thời gian: Từ tháng 7 năm 2012 đến tháng 3 năm 2013
- Mặt không gian: Phạm vi trường THPT Trần Phú - Vĩnh Yên - Vĩnh
Phúc.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu:
4.1. Nguồn tư liệu:
- Từ Internet.
- Sách báo tham khảo.
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thông tin - tái hiện lịch sử:
GV trình bày tài liệu mới, nhắc lại những kiến thức đã học có liên quan đến
việc tiếp thu kiến thức mới. GV chủ yếu trình bày các sự kiện chính xác, được
quy định trong chương trình nhằm giúp học sinh ghi nhớ thông qua các hoạt
dục. Dạy học tích hợp làm cho người học sử nhận thức được sự phát triển xã hội
một cách liên tục, thống nhất, thấy được mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực
của đời sống xã hội, khắc phục được tính tản mạn rời rạc trong kiến thức.
Thông qua đề tài, học sinh sẽ được củng cố thêm hiểu biết của mình về các
lĩnh vực khác bên cạnh sử học.
Trong đề tài này, việc sử dụng kiến thức liên môn sẽ giúp học sinh hiểu
được sâu sắc nhất các vấn đề lịch sử. Như khi tìm hiểu về vị trí địa lí của các
quốc gia cổ đại phương Tây, các em có thể hiểu được việc gần biển đã mở ra
một chân trời mới cho các quốc gia này: Sự giao lưu được mở rộng, tiếp thu
được văn minh cổ đại phương Đông thông qua giao lưu buôn bán…
Hoặc với việc tìm hiểu cụ thể các công trình kiến trúc tiêu biểu: Đền Pác tê
nông, đấu trường Rô Ma…học sinh sẽ thấy được sự hoàn mĩ, sự tinh tế trong
văn hóa Hi Lạp hay nét đồ sộ, hoành tráng mang đặc trưng kiến trúc Rô Ma…
Với việc dạy học theo chủ đề tích hợp trên cũng có giá trị thực tiễn trong
đời sống xã hội nhất định. Ví dụ như khi học về cách tính lịch của các quốc gia
cổ đại phương Tây, học sinh sẽ liên hệ được tới cách tính lịch ngày nay của
chúng ta về cơ bản dựa trên cách tính của phương Tây cổ đại, chỉ có sự thay đổi
nhỏ cho phù hợp với đời sống sinh hoạt sản xuất ngày nay.
Mặt khác, việc áp dụng kiến thức liên môn sẽ làm tăng hứng thú học tập
môn lịch sử cho các em học sinh. Trong những năm gần đây, một thực trạng
không thể phủ nhận là học sinh đang quay lưng lại với lịch sử. Bởi kiến thức
lịch sử khô khan, lối truyền thụ của giáo viên không hấp dẫn sẽ làm các em từ
không yêu thích tới việc học mang tính chống đối, không hiệu quả. Việc thực
hiện đề tài sẽ giúp học sinh có hứng thú hơn với việc tìm hiểu và say mê hơn
với môn học này.
6. Bố cục đề tài:
Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung được chia làm ba mục
chính:
1. Vài nét tổng quan về dạy học liên môn
2. Vận dụng phương pháp dạy học liên môn để giảng dạy về văn hóa cổ đại
Trước hết, các tác phẩm văn học, bằng những hình tượng cụ thể có tác động
mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm người đọc, trình bày những nét đặc trưng tiêu
biểu của các hiện tượng kinh tế, chính trị, những quy luật của đời sống xã hội.
Giữa văn học và sử học có mối liên hệ khăng khít. Trong khi sáng tác một tiểu
thuyết, nhà văn phải nghiên cứu các tài liệu lịch sử. Không ít tác phẩm văn học,
tự nó là một tư liệu lịch sử, ví như "Hịch tướng sĩ" của Trần Hưng Đạo, "Tuyên
ngôn độc lập" của chủ tịch Hồ Chí Minh…Thứ hai, các tác phẩm văn học góp
phần quan trọng làm cho bài giảng sinh động, hấp dẫn, nâng cao hứng thú học
tập của học sinh.
Trong việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông, giáo viên thường sử dụng
các loại tài liệu văn học chủ yếu sau: Văn học dân gian, tiểu thuyết lịch sử…
Mỗi loại có ý nghĩa khoa học riêng trong việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử.
Chúng ta phải loại bỏ những loại truyện kiếm hiệp, tiểu thuyết võ hiệp xuyên
tạc lịch sử, có ảnh hưởng xấu đến việc hình thành tri thức lịch sử của học sinh.
1.2.2. Sử dụng tư liệu về các tác phẩm nghệ thuật:
Hội họa, kiến trúc, sân khấu, điêu khắc…là kết quả sáng tạo của xã hội loài
người. Một hình ảnh nghệ thuật giúp người học sử dụng trí tưởng tượng của
mình tập trung vào những điểm quan trọng. Trong sách lịch sử bậc THPT, có
nhiều kênh hình thuộc các loại hình nghệ thuật này như là những đồ dùng trực
quan đòi hỏi giáo viên phải khai thác để tạo biểu tượng cho học sinh.
Học sinh tiếp nhận kiến thức lịch sử qua tranh ảnh, đồ dùng trực quan kết
hợp với bài viết sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo sẽ nhớ lâu và hứng thú
hơn. Để việc khai thác tranh ảnh có hiệu quả, phát huy tính tích cực của học
sinh, giáo viên cần nghiên cứu kỹ mục tiêu và nội dung của hình ảnh trong bài
học, tư liệu thuyết minh hình ảnh. Ngày nay, với sự hỗ trợ của công nghệ thông
tin, giáo viên trình chiếu kênh hình sẽ có ưu thế hơn vì học sinh được trực quan
với hình ảnh rõ, kích thước lớn, màu sắc sinh động và ấn tượng hơn.
1.2.3. Sử dụng tài liệu địa lý:
Không chỉ sử dụng tài liệu văn học hay trong lĩnh vực nghệ thuật, việc vận
dụng liên môn với các lĩnh vực khoa học khác cũng đóng vai trò quan trọng.
của Hi Lạp và Rô Ma cổ đại, qua đó hiểu được vị trí địa lí có ảnh hưởng ra sao
đến sự phát triển của lịch sử phương Tây cổ đại nói chung và văn hóa phương
Tây cổ đại nói riêng: Phải biết được các quốc gia cổ đại phương Tây Hi Lạp -
Rô Ma nằm tiếp giáp biển Địa Trung Hải, đây là điều kiện tự nhiên hết sức
thuận lợi. Nó đã quy định nền tảng kinh tế của các quốc gia cổ đại phương Tây
là thủ công nghiệp và thương nghiệp, đồng thời cũng mở ra một chân trời mới
cho nền văn hóa phương Tây cổ đại. Bởi khi gần biển, cư dân ở đây đã giao lưu
học hỏi và tiếp thu được thành tựu văn hóa cổ đại phương Đông, trên cơ sở đó
phát triển thành thành tựu riêng của mình.
2.2. Liên môn văn học:
Giảng dạy về văn hóa cổ đại trong sách giáo khoa lịch sử lớp 10, có thể
thấy sự kết hợp giữa sử học và văn học giúp hình tượng cụ thể, có tác động
mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của học sinh, nó giúp học sinh tiếp nhận kiến
thức, khắc sâu kiến thức một cách dễ dàng hơn.
Khi tìm hiểu văn học phương Đông và phương Tây cổ đại, HS sẽ kết hợp
với việc cụ thể các tác phẩm văn học, qua đó vừa nắm được kiến thức sử học,
vừa được củng cố kiến thức văn học của mình.
Ví dụ, khi tìm hiểu về nền văn học phương Tây, giáo viên có thể giao cho
học sinh về nhà tìm hiểu và thuyết trình về các tác phẩm, tác giả tiêu biểu thời
kì này. Qua việc tìm hiểu trên, các em vừa nắm được kiến thức sử học, vừa củng
cố thêm về lĩnh vực văn học.
Về lĩnh vực thơ ca, các em có thể tìm hiểu cụ thể tác phẩm Iliat và Ô đi
xê của nhà thơ mù Hô me như sau: Tiêu biểu là Ili át và ô đi xê, hai bộ sử thi
nổi tiếng của đất nước Hi Lạp, thường được coi là sáng tạo của Hôme, nhà thơ
mù được sinh ra bên dòng sông Mê lét vào khoảng thế kỉ IX – VIII trước công
nguyên. Đề tài của I li át và ô đi xê đều khai thác từ cuộc chiến tranh giữa các
quốc gia ở Hi Lạp với thành Tơ roa. Tập I li át dài 15.683 câu, chủ yếu miêu tả
giai đoạn gay go nhát, tức là năm thứ 10 của cuộc chiến tranh. Ô đi xê gồm
12.110 câu, khắc họa nên bức tranh hoành tráng, hào hùng của người Hi Lạp,
miêu tả cảnh trở về của quân Hi Lạp. Chủ đề chính của I li at và ô đi xê là chinh
đồ sộ hoành tráng và có ảnh hưởng của thần thánh. Còn các công trình kiến trúc
phương Tây lại mềm mại, uyển chuyển và đặc biệt là mang vẻ đẹp của con
người.
Nhắc đến công trình kiến trúc phương Đông phải nhắc đến các công trình
kim tự tháp của Ai Cập. Giáo viên có thể miêu tả công trình kiến trúc này để
học sinh thấy được sự đồ sộ của nó: Kim tự tháp là những ngôi mộ của các vua
Ai Cập, xây dựng vùng Tây Nam Cai rô ngày nay. Trong số các kim tự tháp ở
Ai Cập, cao lớn nhất, tiêu biểu nhất là Kim tự tháp của Kê ốp. Kim tự tháp Kê
ốp xây thành hình chóp, đáy là hình vuông mỗi cạnh 230 mét, bốn mặt là những
hình tam giác ngoảnh về bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Toàn bộ kim tự tháp
được xây bằng những tảng đá vôi mài nhẵn, mỗi tảng nặng 2,5 tấn, có tảng nặng
30 tấn. Để xây kim tự tháp này, người ta đã dùng đến 2.300.000 tảng đá với một
khối lượng là 2408000 m
3
. Phương pháp xây kim tự tháp là ghép các tảng đá
được mài nhẵn với nhau chứ không dùng vữa, thế mà các mạch ghép kín đến
mức một lá kim loại mỏng cũng không thể lách qua được.
Hơn 2000 năm sau, nhà sử học Hi Lạp Hê rô đốt dến Ai Cập còn được
nghe cư dân ở đây kể lại quá trình xây dựng kim tự tháp. Hê rô đốt cho biết, sau
khi quyết định xây dựng kim tự tháp, Kê ốp đã huy động toàn thể nhân dân lao
động trong nước đến công trường làm việc. Họ được tổ chức thành từng đội gần
100.000 người, cứ 3 tháng thì thay phiên một lần. Kim tự tháp được xây dựng ở
tả ngạn sông Nin, nhưng nơi khai thác đá lại ở hữu ngạn. Vì vậy, người ta phải
dùng thuyền chở đá từ nơi khai thác đến xây kim tự tháp. Từ bến đá đến khu
lăng mộ, người ta phải xây một con đường bằng những tảng đá mài nhẵn, dài
hơn 900 m, rộng 18 m và chỗ cao nhất là 15 m. Chỉ riêng việc xây con đường
này đã mất 10 năm. Không kể thời gian làm đường và hầm mộ dưới đất, việc
xây kim tự tháp đã kéo dài 20 năm mới hoàn thành. Việc xây dựng kim tự tháp
đã "đem lại cho nhân dân Ai Cập không biết bao nhiêu tai họa". Nhưng nhân
dân Ai Cập cổ đại, bằng bàn tay và khối óc của mình đã để lại cho nền văn minh
xứng nhau là bức phù điêu tạo cảnh nữ thần A tê na chào đời và những truyền
thuyết Hi Lạp đương thời như: Đám rước thần A tê na, việc tranh chấp làm thần
bảo hộ thành bang A ten giữa 2 vị thần tới cao là Phôn sai don và A tê na được
ghi tạc trên đó.
Pác tê nông nhìn từ xa mang lại cảm giác vững trãi, vừa vặn, đẹp đẽ. Các
kiến trúc sư nổi tiếng đương thời đã nói rằng: “Nếu người ta làm những cột cao
hơn hay thấp hơn vài mươi phân, hoặc khoảng cách giữa những cột rộng hơn
hay gần nhau hơn thì sự cân xứng và hài hòa không còn nữa”. tóm lại, đền Pác
tê nông là một kiệt tác hoàn mĩ, tượng trưng cho sự tinh tế, trí thông minh kiệt
xuất của người dân Hi Lạp
Bàn về những tác phẩm nghệ thuật của người Hi Lạp, sử gia La Mã
Pưlutaco nói: “Trong những tác phẩm ấy, tác phẩm nào cũng hoàn mỹ cả, cho
nên từ trước đến nay được xem là có giá trị vĩnh cửu”.
+ Đấu trường Rô Ma: Rô ma là một vương triều hùng mạnh, người Rô
ma nổi tiếng mạnh mẽ, mưu chí và gan dạ, song hành với trí tuệ họ còn tôn vinh
ca phẩm chất dũng cảm và sức khỏe cơ bắp. Tượng trưng cho vẻ đẹp hùng tráng
ấy, kiến trúc Rô Ma đã xây dựng nên đấu trường Cô li dê uy nghi, mạnh mẽ.
Đấu trường có dạng hình clip với chu vi 527 m, được chia lầm 4 phần đối
xứng .Với thiết kế vòng tròn, khán đài Rô Ma đã đưa tầm nhìn khán giả một
cách rõ nhất, những hàng ghế trên nền dốc bậc, chạy vòng tròn chia làm 5 khu
vực chứa 60 hàng chỗ ngồi cho 50000 người. Tầng trệt dành cho tầng lớp vua
chúa và những người thân cận, khán đài cao hơn 5m để đảm bảo an toàn cho
người xem còn chỗ ngồi trên cùng cao 16. Nền tầng được lát gỗ và được ngăn
thành nhiều phòng. Bên dưới khán đài còn có những khoảng không gian troongs
cho việc nghỉ ngơi.
Từ ngoài nhìn vào, Cô li dê là một công trình đồ sộ với thiết kế mái vòm
độc đáo quấn quanh cả 3 tầng, có đến 80 vòng cuốn đá và 80 bức tường hình rẻ
quạt đỡ toàn bộ khán đài và sàn của các tầng. Trong đấu trường còn đặt rất
nhiều pho tượng (Khoảng 60 pho), được bố trí rất hợp lí làm tăng thêm vẻ uy
nghi, đồ sộ, hùng vĩ của công trình. Công trình mang một phong cách riêng của
bằng đúng chiều cao của nó, nhờ vậy ông đo được chiều cao chính xác của kim
tự tháp kê ốp là 146 m trước sự thán phục của nhiều người. Thực ra, cách Ta lét
vận dụng để đo đạc chính là tuân theo nguyên lý tam giác đồng dạng. Nhưng
thời kỳ đó nguyên lý đồng dạng chưa ra đời. ta lét chỉ hoàn toàn dựa vào trí
thông minh của chính mình. Đó quả là điều tuyệt vời vượt thời đại.
Pitago: Là nhà toán học, thiên văn học lớn của Hi Lạp. Ông được mệnh
danh là người thầy của các con số. Ngoài định lí Pitago nổi tiếng (trong 1 tam
giác vuông, bình phương cạnh huyền bằng tổng bình phương 2 cạnh góc vuông,
ông còn chứng minh được tổng các góc trong 1 tam giác bằng 180 độ, xây dựng
khái niệm vô cực …
+ Vật lí:
Tiêu biểu nhất là Ác si mét, một trong số những nhà bác học vĩ đại nhất của
HI Lạp cổ đại.Ác si met sinh ra ở thành Xy ra cu dơ nhỏ bé trên đảo Xixilia.
Ông đã để lại nhiều tài sản vô giá cho khoa học nhân loại. Ông đã sáng tạo ra
máy bơm hút nước tưới tiêu đồng ruộng, ông sử dụng đòn bẩy và ròng rọc để
nâng các vật lên cao. Ác si mét từng nói: “Hãy cho tôi một đòn bẩy và một điểm
tựa vững chắc, tôi sẽ nâng cả trái đất lên”. Ông còn phát minh ra định luật về
lực đẩy của nước và có 1 câu chuyện rất nổi tiếng về định luật này: Vua Hierôn
II nghi ngờ người thợ kim hoàn của mình đã ăn bớt vàng khi làm chiếc vương
miện của nhà vua bèn nhờ Ac si mét xác minh rõ. Ác si mét ngày đêm suy nghĩ,
cho đến cả lúc đi tắm ông vẫn còn ám ảnh vấn đề này trong đầu. Chợt ông nhận
ra khi ngâm mình vào bồn nướ thì mực nước dềnh lên. Một tia sáng lóe lên
trong đầu ông. Ông liền nhảy ra khỏi bồn tắm, quên cả việc mặc quần áo và
chạy về nơi làm việc, miêng kêu “ ơ rê ka, ơ rê ka”( có nghĩa là tìm ra rồi, tìm
ra rồi). Phương pháp ông tìm thật đơn giản, chỉ việc ngâm vật đó vào nước, thể
tích khối nước dâng lên vừa bằng thể tích của vật đó. Về sau, Ác si mét đã phát
triển thành định luật mang tên mình.
Ngày nay có một miệng núi lửa và một dãy núi trên mặt trăng mang tên
Acsimet để vinh danh ông. Acsimet xuất hiện trên các con tem bưu chính của
Đông Đức, Hi Lạp, Italia. Huy chương danh giá của Fields giải thưởng được coi
1. Phan Ngọc Liên - Trần Văn Trị (2004), Phương pháp dạy học lịch sử,
NXB Giáo dục, Hà Nội.
2. Nghiêm Đình Vì (chủ biên) (2006), Tìm hiểu kiến thức lịch sử 10, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
3. Đặng Đức An (2003), Những mẩu chuyện lịch sử thế giới, NXB Giáo
dục, Hà Nội.
4. Vũ Dương Ninh (chủ biên) (2003), Lịch sử văn minh thế giới, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
5. Ngô Minh Oanh (2006), Một số vấn đề đổi mới nội dung và phương
pháp dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông, ĐHSP thành phố Hồ Chí
Minh, HCM.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Ngọc Liên - Trần Văn Trị (2004), Phương pháp dạy học lịch sử,
NXB Giáo dục, Hà Nội.
2. Nghiêm Đình Vì (chủ biên) (2006), Tìm hiểu kiến thức lịch sử 10, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
3. Đặng Đức An (2003), Những mẩu chuyện lịch sử thế giới, NXB Giáo
dục, Hà Nội.
4. Vũ Dương Ninh (chủ biên) (2003), Lịch sử văn minh thế giới, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
5. Ngô Minh Oanh (2006), Một số vấn đề đổi mới nội dung và phương
pháp dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông, ĐHSP thành phố Hồ Chí
Minh, HCM.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Ngọc Liên - Trần Văn Trị (2004), Phương pháp dạy học lịch sử,
NXB Giáo dục, Hà Nội.
2. Nghiêm Đình Vì (chủ biên) (2006), Tìm hiểu kiến thức lịch sử 10, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
3. Đặng Đức An (2003), Những mẩu chuyện lịch sử thế giới, NXB Giáo
dục, Hà Nội.