MỤC LỤC
Danh sách nhóm 6
• Nguyễn Quang Hưởng
• Lê Thị Thanh Huyền
• Trần Thị Ánh Thơ
1
Chương 2: Lập báo cáo tài chính và Phân tích
I. QUY ĐỊNH VỀ LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Các nội dung cần báo cáo tài chính trong doanh nghiệp
• Tài sản.
• Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.
• Doanh thu, thu nhập khác, chi phí kinh doanh và chi phí khác.
• Lãi, lỗ và phân chia kết quả kinh doanh.
• Thuế và các khoản nộp Nhà nước.
• Tài sản khác có liên quan đến đơn vị kế toán.
• Các luồng tiền.
Ngoài ra, các doanh nghiệp còn phải cung cấp đầy đủ các thông tin khác trong “Bản
thuyết minh báo cáo tài chính” nhằm giải trình thêm về các chỉ tiêu đã phản ánh trên các
báo cáo tài chính tổng hợp và các chính sách kế toán đã áp dụng để ghi nhận các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh, lập và trình bày báo cáo tài chính.
1. Trách nhiệm lập và trình bày báo cáo tài chính của doanh nghiệp
Tất cả các doanh nghiệp thuộc các ngành, các thành phần kinh tế đều phải lập và
trình bày báo cáo tài chính năm.
Các công ty, Tổng công ty có các đơn vị kế toán trực thuộc, ngoài việc phải lập
báo cáo tài chính năm của công ty, Tổng công ty còn phải lập báo cáo tài chính tổng hợp
hoặc báo cáo tài chính hợp nhất vào cuối kỳ kế toán năm dựa trên báo cáo tài chính của
các đơn vị kế toán trực thuộc công ty, Tổng công ty.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng
khoán còn phải lập báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ.
Các doanh nghiệp khác nếu tự nguyện lập báo cáo tài chính giữa niên độ thì được
lựa chọn dạng đầy đủ hoặc tóm lược.
Các giao dịch, các sự kiện và mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính của doanh nghiệp
liên quan đến tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi nhận
vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của kỳ kế toán liên quan tại thời điểm phát sinh,
không căn cứ vào thời điểm thực thu, thực chi tiền hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài
chính được lập trên cơ sở dồn tích phải phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp
trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
3
Hoạt động liên tục
Khi lập và trình bày báo cáo tài chính, Giám đốc (hoặc người đứng đầu) doanh
nghiệp cần phải đánh giá về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp. Báo cáo tài
chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ
tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, trừ khi doanh nghiệp có ý
định cũng như buộc phải ngừng hoạt động, hoặc phải thu hẹp đáng kể qui mô hoạt động
của mình. Khi đánh giá, nếu Giám đốc (hoặc người đứng đầu) doanh nghiệp biết được có
những điều không chắc chắn liên quan đến các sự kiện hoặc các điều kiện có thể gây ra
sự nghi ngờ lớn về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp thì những điều không
chắc chắn đó cần được nêu rõ. Nếu báo cáo tài chính không được lập trên cơ sở hoạt
động liên tục, thì sự kiện này cần được nêu rõ, cùng với cơ sở dùng để lập báo cáo tài
chính và lý do khiến cho doanh nghiệp không được coi là đang hoạt động liên tục.
Để đánh giá khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp, Giám đốc (hoặc người
đứng đầu) doanh nghiệp cần phải xem xét đến mọi thông tin có thể dự đoán được tối
thiểu trong vòng 12 tháng tới kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán.
Nhất quán
Việc trình bày và phân loại các khoản mục trong báo cáo tài chính phải nhất quán
từ niên độ này sang niên độ khác, trừ khi:
a) Có sự thay đổi đáng kể về bản chất các hoạt động của doanh nghiệp hoặc khi
xem xét lại việc trình bày báo cáo tài chính cho thấy rằng cần phải thay đổi để có thể
trình bày một cách hợp lý hơn các giao dịch và các sự kiện; hoặc
b) Một chuẩn mực kế toán khác yêu cầu có sự thay đổi trong việc trình bày.
Doanh nghiệp có thể trình bày báo cáo tài chính theo một cách khác khi mua sắm
đó không có tính trọng yếu.
Bù trừ
Các khoản mục tài sản và nợ phải trả trình bày trên báo cáo tài chính không được
bù trừ, trừ khi một chuẩn mực kế toán khác quy định hoặc cho phép bù trừ . Các khoản
mục doanh thu, thu nhập khác và chi phí chỉ được bù trừ khi:
a) Được quy định tại một chuẩn mực kế toán khác; hoặc
b) Các khoản lãi, lỗ và các chi phí liên quan phát sinh từ các giao dịch và các sự
kiện giống nhau hoặc tương tự và không có tính trọng yếu. Các khoản này cần được tập
hợp lại với nhau phù hợp với quy định của đoạn 21.
Các tài sản và nợ phải trả, các khoản thu nhập và chi phí có tính trọng yếu phải
được báo cáo riêng biệt. Việc bù trừ các số liệu trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh hoặc Bảng cân đối kế toán, ngoại trừ trường hợp việc bù trừ này phản ánh bản
5
chất của giao dịch hoặc sự kiện, sẽ không cho phép người sử dụng hiểu được các giao
dịch hoặc sự kiện được thực hiện và dự tính được các luồng tiền trong tương lai của
doanh nghiệp.
Chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” quy định doanh thu phải
được đánh giá theo giá trị hợp lý của những khoản đã thu hoặc có thể thu được, trừ đi tất
cả các khoản giảm trừ doanh thu. Trong hoạt động kinh doanh thông thường, doanh
nghiệp thực hiện những giao dịch khác không làm phát sinh doanh thu, nhưng có liên
quan đến các hoạt động chính làm phát sinh doanh thu. Kết quả của các giao dịch này sẽ
được trình bày bằng cách khấu trừ các khoản chi phí có liên quan phát sinh trong một
giao dịch vào khoản thu nhập tương ứng, nếu cách trình bày này phản ánh đúng bản chất
của các giao dịch hoặc sự kiện đó. Chẳng hạn như :
a) Lãi và lỗ phát sinh trong việc thanh lý các tài sản cố định và đầu tư dài hạn,
được trình bày bằng cách khấu trừ giá trị ghi sổ của tài sản và các khoản chi phí thanh lý
có liên quan vào giá bán tài sản;
b) Các khoản chi phí được hoàn lại theo thoả thuận hợp đồng với bên thứ ba (ví
dụ hợp đồng cho thuê lại hoặc thầu lại) được trình bày theo giá trị thuần sau khi đã khấu
trừ đi khoản được hoàn trả tương ứng;
rất quan trọng trong phân tích tài chính. Do đó, trong môi trường lập báo cáo tài chính
các nhân tố chủ yếu đó là: các quy tắc, chuẩn mực kế toán; động cơ quản trị; cơ chế giám
và tuân thủ, cơ quan quản lý và các nguồn thông tin khác.
1. Các quy tắc và chuẩn mực kế toán:
Hệ thống chuẩn mực kế toán hiện nay của Việt Nam có khoảng 30 chuẩn mực, được
soạn thảo và ban hành bởi Bộ tài chính. Việc một nhà phân tích cần nắm các quy tắc,
chuẩn mực là yếu tố quan trọng giúp một bài phân tích đạt hiệu quả cao hơn. Dưới đây là
một số nguyên tắc cơ bản của kế toán Việt Nam và yêu cầu cơ bản đối với một người kế
toán.
• Một số nguyên tắc cơ bản của kế toán Việt Nam
o Cơ sở dồn tích
o Hoạt động Liên tục
o Giá gốc.
o Phù hợp
o Nhất quán
o Thận trọng.
o Trọng yếu
• Yêu cầu cơ bản đối với một người kế toán
7
Trung thực: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở
các bằng chứng đầyđủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung
và giá trị của nghiệp vụ kinh tếphát sinh.
Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với
thực tế, không bị xuyêntạc, không bị bóp méo
Đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được
ghi chép và báo cáođầy đủ, không bị bỏ sót.
Kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng
hoặc trước thời hạnquy định, không được chậm trễ.
Dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong báo cáo tài chính phải rõ ràng,
dễ hiểu đối vớingười sử dụng. Người sử dụng ở đây được hiểu là người có hiểu biết về
Tuy nhiên, khi phân tích tín dụng thì tính bảo thủ lại làm tăng thêm biên an toàn. Đối với
một số người sử dụng thì tính bảo thủ được coi như là dấu hiệu của chất lượng thu nhập
cao.
2. Nhà quản trị
Trong môi trường lập BCTC thì nhà quản trị cũng đóng một vai trò quan trọng. NQT có
thể tác động trực tiếp và gián tiếp tới BCTC.
• Tác động trực tiếp: NQT là người kiểm soát cuối cùng đối với tính minh bạch
của hệ thống kế toán và các số liệu kế toán để hình thành nên BCTC. Ví dụ: tùy
theo mục đích cụ thể Nhà quản trị có thể điều chỉnh số liệu kế toán để làm đẹp
hoặc quản lý thu nhập của các BCTC.
• Tác động gián tiếp: NQT tác động tới tiến trình thiết lập chuẩn mực kế toán.
3. Cơ chế giám sát và thực thi
Cơ chế giám sát và thực thi bảo đảm tính tin cậy và minh bạch của hệ thống báo cáo tài
chính và được thực hiện bởi Ủy ban chứng khoán nhà nước, các tổ chức kiểm toán độc
lập…
Ủy ban chứng khoán: Cơ quan này đóng vai trò linh hoạt trong việc giám sát và thực thi
các chuẩn mực kế toán. Tất cả các công ty đại chúng phải nộp báo cáo tài chính được
kiểm toán cho Ủy ban chứng khoán Khi phân tích báo cáo tài chính, nhà phân tích cần
lưu ý xem công ty cần phân tích có bị xử phạt bởi Ủy ban chứng khoán hay không và vi
phạm về vấn đề gì. Trên thực tế, việc vi phạm trải đều từ hiểu sai các chuẩn mực cho đến
gian lận và bóp méo số liệu, các công ty vi phạm có thể bị buộc làm lại báo cáo hoặc
thậm chí bị phạt. Xem xét tiền sử của công ty với Ủy ban chứng khoán rất cần thiết khi
phân tích, nhất là khi đánh giá chất lượng thu nhập.
9
Kiểm toán: kiểm toán độc lập là một cơ chế quan trọng giúp đảm bảo chất lượng và tính
tin cậy của báo cáo tài chính. BCTC của tất cả các công ty đại chúng phải được kiểm
toán bởi một kế toán công chứng độc lập. Chuyên viên phân tích nên xem xét lịch sử
kiểm toán, bao gồm tất cả những thay đổi kiểm toán. Hoặc điều tra xem công ty kiểm
toán có tham gia cung cấp dịch vụ tư vấn cho công ty hay không.
Giám sát công ty: Một nhà phân tích khi phân tích BCTC cần xem xét công ty có hệ
vốn đầu tư. Trách nhiệm của người quản trị là đáng tin cậy, có trách nhiệm bảo vệ tài
sản, gia tăng giá trị của cổ đông và bảo vệ các nhà cấp tín dụng.
Thông tin để ra quyết định: Sự thay đổi của kế toán đối với các triển vọng thông tin
thực tế hơn nhấn mạnh đến thông tin liên qua để ra quyết định kinh doanh, và gia tăng sự
chú ý đến các chuẩn mực kế toán đối với khả năng dự báo và sự hữu ích của quyết định
hơn là các giải trình và đo lường thành quả.
2. Chất lượng mong muốn của thông tin kế toán
Sự thích hợp: là khả năng thông tin tác động đến quyết định. Thông tin có thể thích hợp
theo 2 cách. Thứ nhất, thông tin có thể trực tiếp giúp cho người ra quyết định dự báo
được thu nhập trong tương lai.Thứ hai, thông tin có thể giúp người sử dụng xác nhân hay
xem lại các niềm tin hay kì vọng.
Tin tin cậy: thông tin được gọi là tin cậy khi nó có thể xác nhận được, tượng trưng cho
sự trung thực và trung lập.
Thông tin kế toán đòi hỏi sự đánh đổi giữa tính thích hợp và tính tin cậy. Ví dụ, một
phân tích có thể mất hiệu quả do sự suy giảm tính tin cậy đối với các khoản ước tính nợ
xấu và sự nghi ngờ có sự bóp méo. Tuy nhiên, giải pháp đáng tin cậy khác không phải là
thực hiện một ước tính mà là giảm tính thích hợp của thông tin này.
3. Sự phù hợp của thông tin kế toán tài chính
Các quyết định như đầu tư vốn vốn cổ phần và tăng nợ cần nhiều loại dữ liệu có tính tin
cậy và sự phù hợp khác nhau. Các dữ liệu này bao gồm thông tin về điều kiện kinh tế và
xu hướng ngành, cũng như thông về tài sản vô hình như tính trung thực và động cơ thúc
đẩy của nhà quản trị. Báo cáo tài chính là các chỉ số đo lường được của thành quả và
điều kiện tài chính trong quá khứ. Mặc dù dự quan trọng của thông tin định tính dựa trên
các báo cáo tài chính định lượng là khác nhau, một vài người sử dụng sẽ muốn thực hiện
quyết định kinh doanh mà không phân tích các báo cáo định lượng.
11
Chúng ta xem xét thông tin kế toán tài chính phản ánh tốt như thế nào đến việc giải thích
giá cổ phiếu trong hoạt động phân tích tài chính. Hình 2.1 theo dõi khả năng về thu nhập
và giá trị sổ sách có thể giải thích khoảng 50-70% các hành vi của giá cổ phiếu. Điều này
dẫn đến kết luận không thể thiết lập mức độ mà các con số kế toán trực tiếp quyết định
được là trong các kỳ kế toán sau. Kế toán dòng tiền thất bại trong việc cung cấp một hình
ảnh tương ứng về điều kiện và thành quả tài chính của công ty.
Mối quan hệ dồn tích và dòng tiền
Thu nhập ròng = Dòng tiền hoạt động + Các bút toán dồn tích.
Dòng tiền hoạt động: Thể hiện tiền từ hoạt động kinh doanh đang diễn ra của công ty, là
dòng tiền từ tất cả các dự án.
Dòng tiền tự do: Chênh lệch giữa dòng tiền hoạt động và đầu tư tiền mặt. Là một phần
dòng tiền hoạt động được tự do sau khi công ty đã tái đầu tư vào tài sản mới. Phản ánh
những tác động thêm vào của hoạt động đầu tư và giảm đầu tư vào tài sản hoạt động.
Dòng tiền sử dụng ở đây là dòng tiền tự do: Thay đổi số dư trong tài khoản tiền mặt (bao
gồm của tương đương tiền).
Dồn tích: Tổng các điều chỉnh kế toán làm cho thu nhập ròng khác biệt so với dòng tiền
thuần.
Thu nhập ròng = Dòng tiền hoạt động + Các bút toán dồn tích.
Vấn đề về thời điểm và sự kết hợp.
Kế toán dòng tiền ghi nhận doanh thu và chi phí ngay khi thời điểm phát sinh. Sự khác
biệt giữa kế toán dồn tích và kế toán dòng tiền là vấn đề thời điểm và sự kết hợp. Kế toán
dồn tích khắc phục cả vấn đề thời điểm và sự kết hợp vốn có trong kế toán dòng tiền.
13
Vấn đề thời điểm nói đến việc dòng tiền không phát sinh đồng thời với các hoạt động
kinh tế tạo ra dòng tiền đó. Ví dụ: Hoạt động bán hàng tín dụng. Doanh nghiệp sẽ phát
sinh doanh thu vài kỳ kế toán này nhưng dòng tiền thu được sẽ phát sinh vào kỳ kế toán
sau đó.
Vấn đề sự kết hợp nói đến việc dòng tiền vào và ra phát sinh từ hoạt động kinh doanh
không được kết hợp với nhau về mặt thời gian. Ví dụ: Các chi phí phát sinh từ các ngành
dịch vụ. Chi phí sẽ được ghi nhận trước khi có dòng tiền ra và doanh thu sẽ được ghi
nhận khi nhận được tiền từ khách hàng, tức là khi có dòng vào.
Hai nguyên nhân cho vấn đề này:
- Nền kinh tế phát triển thì các giao dịch tín dụng ngày càng phổ biến và phức tạp.
- Chi phí thường xảy ra trước khi mang lại các lợi ích, nhất là các chi phí đầu tư ban
mại mà làm tăng tất cả các loại tài sản phải thu, phải trả: Phải thu khách hàng, phải trả
người bán, chi phí trả trước và phải thu khác.
Dồn tích dài hạn: Phát sinh từ vốn hóa, liên quan đến khấu hao, chi phí trừ dần… Vốn
hóa là một quá trình trì hoãn các chi phí xảy ra trong hiện tại mà các lợi ích từ nó được
kỳ vọng trong tương lai. Quá trình này tạo ra các tài sản dài hạn như nhà xưởng, máy
móc và lợi thế thương mại. Chi phí của các tài sản này được phân bổ trong suốt thời kỳ
tạo ra lợi ích của nó và tạo thành một phần lớn của dồn tích dài hạn.
2. Sự thích hợp và hạn chế của kế toán dồn tích
2.1. Sự thích hợp
Về mặt lý thuyết
Báo cáo thu nhập và Bảng cân đối kế toán dựa trên nền tảng dồn tích thì thích hợp hơn
đối với việc đo lường khả năng tạo dòng tiền hiện tại cũng như tương lai của công ty.
Dồn tích ngắn hạn: Cải thiện sự phù hợp của kế toán bằng việc ghi nhận doanh thu và
chi phí. Do đó, phản ánh tốt hơn khả năng sinh lợi và cũng tạo ra tài sản ngắn hạn và nợ
ngắn hạn. Vì vậy, nó cung cấp thông tin hữu ích về tình hình tài chính.
Dồn tích dài hạn:
Dòng tiền tự do = dòng tiền hoạt động – đầu tư tài sản hoạt động dài hạn.
15
Các khoản đầu tư của công ty phát sinh không thường xuyên và có giá trị lớn. Do
đó, kế toán dồn tích khắc phục được sự biến động lớn của dòng tiền tự do.
Dòng tiền tự do nhắn gửi thông điệp đảo chiều về viễn cảnh của một công ty. Một
ví dụ được đưa ra trong hình 2.2 về vòng đời của một công ty. Ở giai đoạn khởi sự
và hầu như trong giai đoạn tăng trưởng, dòng tiền đầu tư là âm và vượt quá dòng
thu vào của dòng tiền hoạt động. Điều này dẫn đến dòng tiền tự do âm trong gần
hết 2 giai đoạn. Đến cuối giai đoạn tăng trưởng, bước của giai đoạn sung mãn,
dòng tiền bắt đầu dương. Đến giai đoạn suy thoái, công ty bắt đầu bán các tài sản,
tạo ra dòng tiền đầu tư dương. Dòng tiền đầu tư dương kết hợp với dòng tiền hoạt
động tạo nên dòng tiền tự do dương. Dòng tiền tự do trong 2 giai đoạn tăng
trưởng và suy thoái đưa đến thông điệp ngược chiều cho tình tình tài chính của
công ty.
với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ 10%/năm. Tuy nhiên, dòng tiền tự do đang đưa ra tín hiệu
âm từ 1990 – 1996.
Kmart là mẫu hình điển hình cho các công ty suy thoái với mức độ vốn hóa giảm dần
khoảng 60% khi kết thúc giai đoạn. Thu nhập ròng giảm rõ rệt, gần 4 lần so với bắt đầu
giai đoạn. Trong khi đó, dòng tiền tự do lại biểu thị mối quan hệ chệch choạc giữa thành
quả hoạt động và giá cổ phiếu. Khi dòng tiền tự do âm thì Kmart có lợi nhuận và tăng
trưởng nhưng dòng tiền tự do dương thì Kmart suy thoái và tăng trưởng chậm lại.
Sự khác biệt chủ yếu của kế toán dồn tích và kế toán dòng tiền là sự kịp thời trong ghi
nhận các hoạt động kinh doanh. Kế toán dồn tích ghi nhận các tác động của hoạt động
kinh doanh kịp thời hơn. Hình 2.3 thể hiện khả năng giải thích cho lợi nhuận của cổ
phiếu của thu nhập ròng và dòng tiền hoạt động qua từng quý, từng năm và cho 4 năm.
Dù tính giải thích của thu nhập ròng không cao trong thời gian ngắn (từng quý) nhưng
trong thời gian dài (1 năm hay 4 năm) thì khả năng giải thích của nó khá cao. Ngược lại,
khả năng giải thích thu nhập chứng khoán của dòng tiền lại khá mờ nhạt. Chứng cứ này
ủng hộ quan điểm rằng kế toán dồn tích phản ánh hoạt động kinh doanh kịp thời hơn là
dòng tiền.
18
2.2. Hạn chế của kế toán dồn tích
Cơ sở kế toán dồn tích có thể là một con dao hai lưỡi. Bên cạnh những ưu điểm của kế
toán dồn tích thì kế toán dồn tích cũng có một số hạn chế như sau: Kế toán dồn tích đưa
sự phán đoán vào kế toán với những ước tính và điều chỉnh khác nhau. Điều này nếu
được sử dụng thích hợp thì sẽ mang lại hiệu quả, việc cho phép các phán đoán quản trị sẽ
làm tăng tính thích hợp của thông tin kế toán. Tuy nhiên, việc sử dụng các phán đoán
cũng mang lại rủi ro làm giảm khả năng so sánh, tính nhất quán của các báo cáo tài chính
dẫn đến việc bóp méo kế toán.
3. Các hàm ý của kế toán dồn tích
Sự thật và ảo tưởng về thu nhập dồn tích và dòng tiền.
Các ảo tưởng:
Vì giá trị công ty phụ thuộc vào dòng tiền tương lai, chỉ có dòng tiền hiện tại là phù
hợp cho việc định giá. Thu nhập hiện tại là một dự báo tốt hơn của dòng tiền tương
Sự thật:
Kế toán dồn tích (thu nhập) thì thích hợp hơn dòng tiền. Dòng tiền hiện tại thì kém phù
hợp hơn thu nhập hiện tại.
Dòng tiền có tính tin cậy cao hơn dồn tích. Dòng tiền có thể đóng một vai trò hỗ trợ quan
trọng với thu nhập dồn tích. Khi phân tích dòng tiền, dòng tiền dễ biến động hơn thu
nhập.
Các con số kế toán dồn tích bị lệ thuộc vào những bóp méo kế toán. Sự tồn tại của các
phương pháp kế toán khác nhau đi kèm với việc quản lý thu nhập làm giảm khả năng so
sánh và tính nhất quán của các con số kế toán dồn tích. Các quy tắc kế toán độc đoán và
các sai số ước tính cũng có thể tạo nên sự bóp méo kế toán.
20
Giá trị công ty có thể được xác định bằng cách sử dụng các con số kế toán.
KẾT LUẬN
Kế toán dòng tiền:
- Đơn giản, dễ hiểu, tính toán dễ dàng.
- Tính khách quan cao khi trình bày thông tin trong BCTC. Tiền thu vào và chi ra là
những hoạt động “hữu hình”, số tiền và ngày thu, chi tiền được xác định chính
xác, cụ thể không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị doanh nghiệp.
Phương pháp kế toán dựa trên dòng tiền thường được áp dụng đối với những doanh
nghiệp nhỏ mà hoạt động chủ yếu dựa trên các luồng tiền ra vào, đặc biệt là các doanh
nghiệp dịch vụ không liên quan đến hàng hoá tồn kho. Trên thế giới, đứng trên quan
điểm của thuế, một số trường hợp áp dụng phương pháp kế toán dựa trên dòng tiền mang
lại nhiều lợi thế cho các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động. Theo phương pháp này, thu
nhập có thể được ghi nhận vào năm tài chính sau, trong khi chi phí hay giá vốn có thể đã
được ghi nhận trước, tại thời điểm thanh toán. Do đó, nó đảm bảo nguyên tắc thận trọng
trong kế toán cũng như thận trọng trong kinh doanh. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, cơ
quan thuế vẫn chưa chấp thuận cho doanh nghiệp áp dụng phương pháp này.
Kế toán dồn tích:
Với các ưu điểm đã phân tích trên, phương pháp kế toán dồn tích được lựa cho hầu hết
các doanh nghiệp có khối lượng doanh thu cao, không phân biệt bán chịu hay bán thu
Trong tiến trình này các chuẩn mực đôi khi thất bại trong việc đòi hỏi thông tin phù
hợp nhất. Ví dụ là hạch toán quyền chọn cổ phiếu cho người lao động.
Sự biến dạng nảy sinh từ một vài nguyên tắc kế toán. Chẳng hạn nguyên tắc chi phí
lịch sử có thể làm giảm sự thích hợp của bảng cân đối kế toán bằng cách không phản
ánh giá trị thị trường hiện tại của tài sản và nợ phải trả.
Do chủ quan của người lập. Bởi vì kế toán viên không thể làm trái với những điều
chuẩn mực và phương pháp hạch toán đã quy định. Do đó họ sẽ lợi dụng những kẻ
hở của chuẩn mực kế toán, của phương pháp hạch toán để lập báo cáo tài chính theo
hướng có lợi cho công ty.Chẳng hạn kế toàn viên thường ghi giảm giá trị của tài sản
hư hỏng nhưng lại hạn chế ghi tăng giá trị tài sản.
1.1.2. Các sai số ước tính: Những ước tính trong kế toán dồn tích tạo ra các sai số làm
méo mó sự phù hợp của các số liệu kế toán dồn tích.
22
1.1.3. Tính tin cậy so với sự thích hợp: Các chuẩn mực kế toán đánh đổi giữa tính tin
cậy và sự thích hợp. Một tầm quan trọng đối với tính tin cậy là nó thường ngăn ngừa việc
ghi nhận các tác động của một sự kiện kinh doanh và giao dịch trong các báo cáo tài
chính cho tới khi kết quả dòng tiền có thể ước tính một cách hợp lý.
1.1.4. Quản lý thu nhập: Quản lý thu nhập thường là hậu quả rắc rối nhất của kế toán
dồn tích. Việc sử dụng phán đoán trước và ước tính trong kế toán dồn tích cho phép nhà
quản trị tiếp cận thông tin nội bộ và làm gia tăng sự hữu ích của các con số kế toán. Tuy
nhiên một vài nhà quản trị thực hiện sự tự do này để quản lý số liệu kế toán, nhất là thu
nhập vì lợi ích cá nhân, do đó làm giảm chất lượng của chúng. Quản lý thu nhập có thể
có 2 hình thức: (1) Thay đổi phương pháp kế toán và (2) Thay đổi các ước tính kế toán
và chính sách kế toán xác định nên các số liệu kế toán.
1.2. Mục tiêu phân tích:
Nhu cầu thông tin của người sử dụng khác nhau dựa trên mục tiêu và phân tích của họ.
Trong phân tích vốn cổ phần, thông tin kế toán nên đem lại một cái nhìn không thiên vị
về tình hình và thành quả tài chính của công ty. Nó cũng làm cho việc xác định thu nhập
tiềm năng trong tương lai của công ty trở nên dễ dàng. Tuy nhiên trong trường hợp phân
tích tín dụng, việc thông tin kế toán phản ánh một cách khắt khe tình hình và thành quả
- Chuẩn mực kế toán khác nhau sẽ gây nên các sai lệch khác nhau trên kết quả của báo
cáo tài chính.
- Phương pháp hạch toán kế toán khác nhau dẫn tới kết quả khác nhau của báo cáo tài
chính.
- Mục đích, đối tượng mà người lập báo cáo hướng tới (nhà quản trị, nhà đầu tư, nhà tài
trợ) mà việc lập báo cáo sẽ có những sai lệch với tình hình thực tế của doanh nghiệp
- Tính chủ quan của người lập báo cáo.
- Mặt khác, phân tích kế toán đòi hỏi người thực hiện phải có kiến thức về kế toán. Trong
trường hợp các nhà phân tích thiếu những kiến thức này thì họ thường có khuynh hướng
bỏ qua phân tích kế toán. Vì vậy họ sẽ không thấy được hết ý nghĩa của các báo cáo tài
chính và điều này sẽ rất nguy hiểm cho phân tích tài chính.
2. Quản lý thu nhập
- Theo Schipper 1989, "Thu nhập là sự can thiệp có mục đích của ban quản lý trong tiến
trình xác định thu nhập, thường là để thỏa mãn mục đích cá nhân.
24
- Quản lý thu nhập có thể mang tính trang điểm khi các nhà quản trị bóp méo thu nhập
dồn tích mà không gây ảnh hưởng đến dòng tiền. Nó cũng có thể là thực khi mà nhà
quản trị thực hiện các hành động làm thay đổi dòng tiền vì mục đích quản lý thu nhập.
- Quản lý thu nhập mang tính trang điểm là một hậu quả tiềm tàng của việc áp dụng rộng
rãi kế toán dồn tích. Các chuẩn mực kế toán và cơ chế giám sát làm giảm đi phạm vi
rộng rãi này. Tuy nhiên, thật bất khả thi để loại bỏ vấn đề do sự phức tạp và đa dạng của
các hoạt động kinh doanh. Hơn nữa kế toán dồn tích đòi hỏi các ước tính và phán đoán.
Điều này tạo nên một vài biến dạng quản lý trong việc xác định các con số kế toán. Mặc
dù sự tư do này cho phép các nhà quản trị cơ hôi bộc lộ một hình ảnh nhiều thông tin hơn
về hoạt động kinh doanh của công ty, nó cũng cho phép họ làm sai lệch cac báo cáo tài
chính và quản lý thu nhập.
- Các nhà quản trị cũng thực hiện các hành động làm thay đổi dòng tiền, thường bất lợi,
vì mục đích quản lý thu nhập. Động cơ quản lý thu nhập cũng ảnh hưởng đến quyết định
đầu tư và tài trợ của nhà quản lý.
2.1. Các chiến lược quản lý thu nhập: