BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT
NAM CHI NHÁNH SÔNG NHUỆ SINH VIÊN THỰC HIỆN : TÔ KIỀU TRANG
MÃ SINH VIÊN : A16949
CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG
Chuyên ngành : Tài chính-Ngân hàng
HÀ NỘI – 2014
Thang Long University Library
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn là Tiến
sĩ Nguyễn Thị Thúy, cô đã luôn giúp đỡ, trau dồi thêm kiến thức, chỉ ra những thiếu
sót và giúp em có những định hướng tốt hơn trong suốt thời gian em thực hiện làm
khóa luận. Em cũng xin đặc biệt cảm ơn anh, chị, cô, chú đang công tác tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam chi nhánh Sông Nhuệ đã giúp đỡ, cung
cấp thông tin, tài liệu hữu ích tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Ngày 27 tháng 10 năm 2014
Sinh viên Tô Kiều Trang
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI 1
1.1. Tổng quan về tín dụng ngân hàng. 1
2.3. Thực trạng cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt
Nam Chi nhánh Sông Nhuệ. 35
2.3.1. Các quy định về cơ sở cho vay, chính sách pháp lý và quy trình vay vốn tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam Chi nhánh Sông Nhuệ. .35
2.3.2. Tình hình doanh số cho vay tại Ngân hàng Công Thương Việt Nam chi
nhánh Sông Nhuệ 39
Thang Long University Library
2.3.3. Tình hình doanh số thu nợ tại Ngân hàng Công Thương Việt Nam chi nhánh
Sông Nhuệ 42
2.3.4. Tình hình dư nợ cho vay tại Ngân hàng Công Thương Việt Nam chi nhánh
Sông Nhuệ 44
2.4. Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Công Thương Việt Nam Chi
nhánh Sông Nhuệ 47
2.4.1. Chỉ tiêu định tính 47
2.4.1.1. Đảm bảo nguyên tắc cho vay: 47
2.4.1.2. Uy tín của ngân hàng: 48
2.4.1.3. Hoạt động kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro của ngân hàng: 48
2.4.2. Chỉ tiêu định lượng 49
2.4.2.1. Doanh thu từ lãi cho vay 49
2.4.2.2. Dư nợ quá hạn 52
2.4.2.3. Tỷ lệ nợ khó đòi 53
2.4.2.4. Vòng quay vốn tín dụng 54
2.4.2.5. Hiệu suất sử dụng vốn 56
2.5. Đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng của NHTMCP Công Thương VN-
Chi nhánh Sông Nhuệ. 57
2.5.1. Những kết quả đã đạt được 57
2.5.2. Những khó khăn và hạn chế 59
2.5.3 Nguyên nhân của hạn chế 60
Kết luận chương 2 63
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NQH Nợ quá hạn
PGĐ Phó giám đốc
SXKD Sản xuẩt kinh doanh
TSĐB Tài sản đảm bảo
CBNV Cán bộ nhân viên
VCSH Vốn chủ sở hữu
NHTMCPCT Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương
VNĐ Việt Nam đồng
Biểu đồ 2.6. Tỷ trọng cho vay của Vietinbank chi nhánh Sông Nhuệ giai đoạn 2011-2013 46
Thang Long University Library
LỜI MỞ ĐẦU
1-Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, hệ thống các ngân hàng thương mại ở
Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, lớn mạnh về mọi mặt, kể cả số lượng,
qui mô và chất lượng. Có thể nói quá trình đổi mới là một bước ngoặt to lớn giúp nền
kinh tế nói chung và hệ thống các ngân hàng nói riêng từng bước đi lên. Giai đoạn
2011-2012, ngành ngân hàng lao đao vì hậu quả của tình trạng tăng trưởng quá nóng
với các điều kiện tín dụng được nới lỏng quá mức trước đó. Hàng loạt các giải pháp đã
được đưa ra để hạ nhiệt tín dụng, nhưng cũng bởi thế tổng lợi nhuận toàn ngành ngân
hàng năm 2012 đã sụt giảm gần 50% so với năm 2011. Sang năm 2013, các giải pháp
tín dụng tiếp tục được điều hành linh hoạt hơn theo hướng “tái tạo” đường cong lãi
suất, mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng, phù hợp với
mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, đồng thời tiếp tục thực hiện các giải pháp nhằm
tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
ở mức hợp lý. Nhờ đó, cuối tháng 12/2013, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống gần sát
mục tiêu 12,51% ( Nguồn: Ông Lê Đức Thọ - chánh Văn phòng NHNN công bố vào
buổi họp báo ngày 21/1/2014 ). Điều này thể hiện nỗ lực rất lớn của ngành ngân hàng
bởi nếu nhìn vào tốc độ tăng tín dụng các tháng năm 2013 thì có thể thấy rằng, tín
dụng mới chỉ bắt đầu tăng trưởng dương từ quý II. Cơ cấu tín dụng đã từng bước hợp
lý, hiệu quả và an toàn hơn, đã tập trung được vốn vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh,
nhất là tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên. Nhờ đó, tăng trưởng kinh tế vẫn ở mức
hợp lý và các ngân hàng đã bắt đầu có lãi trở lại, ngay cả những ngân hàng nhỏ. Tuy
hoạt động ngân hàng ở nước ta gặp nhiều khó khăn và còn nhiều vấn đề tồn tại nhất là
trong khâu tín dụng của các NHTM nhưng do xác định được tầm quan trọng của tín
dụng và vai trò của ngân hàng Chính phủ và NHNN Việt Nam đã có nhiều giải pháp
để nâng cao chất lượng tín dụng trong toàn bộ hệ thống NHTM Việt Nam
Tuy nhiên việc nâng cao chất lượng tín dụng và an toàn trong hoạt động kinh
Nhuệ trong 3 năm : 2011, 2012 và 2013.
5 - Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu em đã sử dụng phương pháp thống kê kinh tế thích
hợp để thu thập số liệu. Thông tin thu thập được thông qua nhiều kênh như quá trình
thực tập trực tiếp tại ngân hàng, các báo cáo tài chính năm, báo cáo tín dụng… phương
pháp tổng hợp và phân tích số liệu một cách khoa học nhằm đánh giá tình hình và tìm
giải pháp cho quá trình nghiên cứu. Sử dụng các bảng biểu, biểu đồ để chứng minh và
rút ra kết luận.
6 - Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục, bảng biểu và sơ dồ, nội dung khóa
luận gồm làm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về chất lượng tín dụng của NHTM.
Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TMCP Công
Thương Việt Nam Chi nhánh Sông Nhuệ.
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng TMCP
Công Thương Việt Nam Chi nhánh Sông Nhuệ.
Thang Long University Library
1
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1. Tổng quan về tín dụng ngân hàng.
1.1.1. Khái niệm tín dụng.
Với bất kỳ một nền kinh tế nào cũng đều tồn tại các thành phần, các đơn vị kinh tế
thực hiện quá trình sản xuất và lưu thông, trong quá trình này đã phát sinh nhu cầu về vốn.
Do vậy tín dụng tồn tại là một yếu tố khách quan để làm đòn bẩy thúc đẩy sản xuất lưu
thông hàng hóa phát triển. Nó xuất phát từ gốc Latinh (CREDITUM) có nghĩa là “ Sự tin
tưởng, tín nhiệm”, trong thực tế cuộc sống thuật ngữ “ Tín dụng” được hiểu theo nhiều
nghĩa khác nhau. Còn theo quan niệm của người Việt Nam tín dụng biểu hiện mối quan
hệ vay mượn hoàn trả.
vốn cũng khác nhau. Từ đó dẫn đến ở cùng một thời gian sẽ có sự thiếu và thừa vốn
tạm thời, mâu thuẫn này sẽ làm cho các cá nhân đơn vị kinh tế tiến hành sản xuất kinh
doanh với hiệu quả chưa cao. Do hiện nay, các doanh nghiệp ở Việt Nam chủ yếu là
các DNVVN (theo số liệu điều tra Hà Nội năm 2012) có hơn 60% doanh nghiệp thiếu
vốn sản xuất, mở rộng kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm
để có thể cạnh tranh phát triển và đứng vững trên thị trường. Tuy nhiên, nguồn cung
ứng từ các nhà đầu tư còn hạn chế, vốn trong nhân dân thì không huy động được
nhiều. Từ thực tế này NHTM với vai trò là nguời trung gian sẽ tìm mọi cách huy động
mọi nguồn vốn còn nhàn rỗi để cho các đơn vị vay vốn nhưng trên cơ sở: Vay - Hoàn
trả. Ẩn dưới sự di chuyển các luồng vốn tạm thời từ người có vốn và người cần vốn là
quan hệ vay mượn. Trong mối quan hệ này, thường có 3 giai đoạn chính:
- Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay: giai đoạn đầu tiên này thì vốn tiền
tệ sẽ được các tổ chức trung gian tài chính là các NHTM chuyển từ người có vốn nhàn
rỗi sang người đi vay vốn.
- Sử dụng vốn: khi người đi vay nhận được quyền sử dụng lượng vốn đó sẽ
dùng cho những mục đích khác nhau như chi tiêu dùng, mở rộng sản xuất kinh doanh
hay mang đi đầu tư. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng, người đi vay chỉ dụng tạm thời
trong một khoảng thời gian nhất định lượng vốn chứ không có quyền sở hữu nó.
- Hoàn trả tín dụng: đây là giai đoạn kết thúc để hoàn thành một vòng quay vốn,
người đi vay phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng.
Hay nói rõ hơn, hoàn trả là bản chất của tín dụng ngân hàng giữa người cho
vay và người đi vay. Họ là những người khác nhau trong nền kinh tế, gặp nhau ở điểm
cân bằng giữa nhu cầu vay vốn tiền tệ và khả năng đáp ứng nhu cầu này theo những tổ
chức của pháp luật và những nguyên tắc tín dụng tương ứng. Hình thức tín dụng ngân
hàng là hình thức tín dụng chủ yếu của nền kinh tế thị trường và nó luôn đáp ứng nhu
cầu về vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt và kịp thời.
1.1.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là công cụ đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy sự tăng trưởng kinh
tế và điều hành nền kinh tế thị trường. Vai trò của tín dụng ngân hàng thể hiện trên các
khía cạnh sau:
lượng tiền cung ứng thì ngân hàng nhà nước có thể tăng hạn mức tín dụng của các
ngân hàng thương mại đối với nên kinh tế và ngược lại, Do vậy thông qua hình thức
tín dụng ngân hàng nhà nước có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng trong
lưu thông.
* Bốn là: Tín dụng ngân hàng còn làm tăng hiệu quả kinh tế.
Các DN hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sở hữu và vốn vay.
Một trong những nguồn để vay là từ ngân hàng, đó là nguồn tài trợ hiệu quả bởi vì nó
thỏa mãn nhu cầu về số lượng và thời hạn. Hơn nữa, để có thể vay vốn được từ ngân
hàng thì các DN cần phải nâng cao uy tín của mình đối với ngân hàng, đảm bảo được
các nguyên tắc tín dụng. Muốn vậy, trong các dự án kinh doanh của mình, DN phải
chọn dự án có mức sinh lãi cao nhấy. Để các dự án khả thi, DN phải tìm hiểu thị
trường khai thác thông tin để định lượng hoạt động kinh doanh của mình sao cho có
hiệu quả. Điều đó làm tăng hiệu quả kinh tế của các dự án.
4
Mặt khác,một trong những quy định của tín dụng ngân hàng là khâu giám sát sử
dụng vốn vay. Với việc giám sát này của ngân hàng, bắt buộc DN phải sự dụng vốn
vay đúng mục đích, phải nhạy bén với những thay đổi của thị trường, từ đó góp phần
nâng cao hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, vai trò tư vấn của cán bộ tín dụng sẽ giúp cho
DN lường trước được những khó khăn, vượt qua khó khăn để đứng vững, điều này
cũng sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế
Như vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng với sự phát triển
kinh tế xã hội của một đất nước. Tuy nhiên để tín dụng ngân hàng phát huy hết vai trò
của nó thì các nhà quản lý ngân hàng cũng như các cơ quan chức năng phải tạo ra một
hành lang pháp lý cũng như quy định chặt chẽ và tạo điều kiện thuận lợi cho cả người
cho vay và người đi vay. Thông qua chất lượng tín dụng có thể phần nào đánh giá
được ngân hàng thương mại đó có hoạt động tín dụng tốt hay không.
1.2. Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại.
1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng
lượng tín dụng tốt thì hoạt động tín dụng phải có hiệu quả và quan hệ tín dụng phải
thiết lập trên cơ sở tin cậy và uy tín trong hoạt động. Nói cách khác, chất lượng tín
dụng tỷ lệ thuận với hiệu quả và độ tin cậy trong hoạt động. Hiểu đúng bản chất về
chất lượng tín dụng, phân tích đánh giá đúng chất lượng tín dụng hiện tại cũng như xác
định chính xác các nguyên nhân của những tồn tại về chất lượng sẽ giúp ngân hàng tìm
được biện pháp thích hợp để có thể đứng vững trong nên kinh tế có sự cạnh tranh gay
gắt như ngày nay.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
Hiện nay, tín dụng vẫn chiếm khoảng 60% - 70% trong tổng tài sản có của các
ngân hàng thương mại (Nguồn: Số liệu báo cáo tình hình kinh tế-xã hội của Tổng cục
Thống kê năm 2013). Vì thế sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng phụ thuộc rất
nhiều vào tín dụng và chất lượng tín dụng. Việc đánh giá chất lượng tín dụng ở các
ngân hàng hiện nay thông qua các chỉ tiêu cơ bản sau:
1.2.2.1. Chỉ tiêu định tính
- Hoạt động tín dụng phải thực hiện đúng quy trình thủ tục, tuân thủ các
nguyên tắc:
Mọi tổ chức kinh tế hoạt động đều dựa trên các nguyên tắc nhất định để nhằm
hạn chế rủi ro đến mức tối đa cho tổ chức của mình. Do đặc thù ngân hàng là một tổ
chức kinh tế đặc biệt, hoạt động của nó ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính
trị, xã hội của đất nước, do vậy nguyên tắc cho vay là một trong những nguyên tắc
quan trọng nhất đối với mỗi ngân hàng. Khi cho vay phải tuân thủ các điều kiện như
lập hồ sơ cho vay, có phương án sản xuất kinh doanh, có báo cáo tài chính, có tài sản
thế chấp hợp pháp, sử dụng vốn đúng mục đích, hoàn trả tiền vay đầy đủ, đúng hạn…
kèm theo đó là việc kiểm tra trước, trong và sau khi vay.
- Uy tín của ngân hàng đối với khách hàng:
Sự hài lòng của khách hàng đối với các sản phẩm tín dụng mà ngân hàng cung
cấp về quy mô, lãi suất, phí, thời gian phục vụ. Để có được sự uy tín đối với khách
hàng, ngoài chất lượng sản phẩm tín dụng thì ngân hàng đó cần phải có những nhân
viên có nghiệp vụ chuyên môn tốt, khả năng ứng dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại
trong quá trình cung cấp tín dụng nhằm rút ngắn thời gian phục vụ nhưng vẫn đảm bảo
Chỉ tiêu này được tính trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 1 năm.
Sự tăng trưởng của nó qua các năm cho thấy chất lượng tín dụng của ngân hàng đang
được mở rộng và chất lượng tín dụng đang được cải thiện.
- Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng:
Dư nợ tín dụng kì này – Dư nợ tín dụng kỳ trước
Tốc độ tăng trưởng
dư nợ tín dụng =
Dư nợ tín dụng kỳ trước
*100%
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng. Nếu chỉ tiêu
này tăng dần qua các năm thì tốc độ tăng trưởng tín dụng ngày càng được nâng cao
Thang Long University Library
7
hay ngân hàng đang có xu hướng mở rộng hoạt động tín dụng.
- Nợ quá hạn:
Nợ quá hạn là khoản nợ (gồm tất cả gốc và lãi) mà khách hàng không trả được
khi đến hạn thanh toán ngân hàng không đồng ý gia hạn nợ. Số tiền này ngân hàng
chuyển thành nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn đối với những khoản nợ này (cao
hơn lãi suất thông thường). Nợ quá hạn được coi là chỉ tiêu quan trọng trong phản ánh
chất lượng cho vay vì nếu tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng cao, điều này biểu hiện chất
lượng hoạt động tín dụng tại ngân hàng thấp tức là mức độ rủi ro cao. Nếu tỷ lệ này
càng cao thì ngân hàng sẽ có khả năng mất vốn.
Để đánh giá chất lượng tín dụng trên cơ sở nợ quá hạn, người ta thường thông
qua tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ tổng dư nợ cho vay:
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
8
Cả hai tỷ lệ này đều giúp ngân hàng quản lý rủi ro các khoản vay. Tuy nhiên, có sự
khác biệt giữa hai tỷ lệ này là nợ quá hạn chỉ xem xét đến giá trị khoản nợ trong hạn, còn
nợ khó đòi xem xét các món vay mà phát sinh nợ quá hạn.
- Vòng quay vốn tín dụng
Chất lượng tín dụng thể hiện ở vòng quay vốn tín dụng được tính theo công
thức:
Doanh số trả nợ trong kỳ
Vòng quay vốn tín dụng =
Tổng dư nợ bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng, thời gian
thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm. Vòng quay vốn càng nhanh thì coi là tốt
và việc đầu tư càng được an toàn.
Trong đó :
Dư nợ đầu năm + Dư nợ cuối năm
Dư nợ bình quân =
2
Vòng quay vốn tín dụng phản ánh số vốn ngân hàng thu được do khách hàng trả
nợ đúng kỳ hạn, nó đảm bảo chất lượng tín dụng của khoản vay. Vòng quay vốn càng
lớn chứng tỏ số vốn ngân hàng thu được đúng hạn càng nhiều, tần suất sử dụng khoản
vốn đầu tư này để tái đầu tư càng lớn. Đồng thời, vòng quay vốn càng lớn thì nợ quá hạn
trong kỳ càng nhỏ, ngân hàng tránh được rủi ro mất vốn, đảm bảo được lợi nhuận trong
kỳ của mình. Một ngân hàng có vòng quay vốn lớn chứng tỏ chất lượng tín dụng tốt và
phát triển tương đối ổn định. Bởi vì ngân hàng hoạt động hiệu quả khi một đồng vốn cho
vay được đảm bảo bằng một hoặc nhiều đồng vốn thu về từ khách hàng tại một thời
điểm nhất định nên vòng quay vốn lớn hơn 1 là tốt, còn nhỏ hơn 1 là không tốt.
khác biệt với các ngành kinh doanh khác. Do đó hoạt động kinh doanh của ngân hàng
không những chịu sự tác động của các nhân tố từ chính bản thân ngành ngân hàng mà
còn chịu sự tác động của của các nhân tố khác như: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,
môi trường pháp lý của một quốc gia và chịu sự tác động về trình độ quản lý, năng lực
điều hành và hiệu quả kinh doanh của khách hàng. Những nhân tố trên làm ảnh hưởng
tích cực hay hạn chế tói hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đồng thời nó sẽ ảnh
hưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng như thế nào ?
1.2.3.1. Nhân tố không kiểm soát được
- Nhân tố kinh tế xã hội:
Hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn có quan hệ mật thiết với nền kinh tế.
Nếu một nền kinh tế ổn định, lạm phát thấp, không có khủng hoảng thì hoạt động của
DN đều có hiệu quả, DN sẽ hoàn trả được vốn vay ngân hàng đúng hạn cả lãi và gốc,
sẽ tạo ra môi trường thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng là mở rộng
đầu tư, tăng cường vốn tín dụng và có khả năng thu hồi vốn. Ví dụ khi nền kinh tế
có hiện tượng lạm phát tăng vọt, giá cả đồng tiền giảm sút, chỉ số giá cả tăng nhanh
gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh, tác động xấu đến khả năng thu hồi công nợ của
ngân hàng. Hay khi có sự biến động lớn trong tỷ giá do sự thay đổi chính sách tiền tệ
của Nhà nước, đồng nội tệ bị giảm giá, các doanh vốn bằng ngoại tệ mà không có
nguồn thu bằng ngoại tệ sẽ gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng. Hay như nếu có
sự phù hợp giữa lái suất cho vay của ngân hàng cới mức lợi nhuận của các DN sản
xuất kinh doanh và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân cũng ảnh hưởng lớn đến chất
lượng tín dụng ngân hàng. Với mức lãi suất cao, chi phí trả lãi lớn sẽ là yếu tố làm cho
giá thành sản phẩm, dịch vụ tăng cao, mà giá bán phụ thuộc cung cầu trên thị trường
10
nên khó tăng theo, khi đó các DN sẽ gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh. Vì
vậy, việc trả nợ vay ngân hàng sẽ gặp khó khăn, kéo theo chất lượng tín dụng của ngân
hàng đó sẽ bị giảm sút
Như vậy chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại sẽ chịu ảnh
hưởng của môi trường kinh tế mà nó hoạt động, vấn đề đối với các ngân hàng là phải
Việt nam là nước có khí hậu nhiệt đới gío mùa, thiên tai xảy ra thường xuyên,
ảnh hưởng rất lớn đến các ngành kinh tế, đặc biệt là các ngành có liên quan đến nông
Thang Long University Library
11
nghiệp, thuỷ hải sản. Từ đó gây rủi ro cho tín dụng ngân hàng khi đầu tư vào các
ngành này.
- Nhân tố môi trường chính trị - xã hội:
Một quốc gia có thể chế chính trị ổn định, đường lối chính sách phát triển kinh tế,
văn hoá xã hội được hoạch định rõ ràng, thì các hoạt động đầu tư nói chung và hoạt động
đầu tư tín dụng ngân hàng nói riêng mới được đảm bảo an toàn và có hiệu quả. Giúp ngân
hàng có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn từ hoạt động tín dụng.Ngược lại, nếu môi
trường chính trị – xã hội mà bất ổn thì các DN sẽ không dám mạnh dạn đầu tư mà chỉ duy
trì ở mức tái sản xuất giản đơn để bảo đảm an toàn vốn.
Tác động của môi trường chính trị - xã hội tới chất lượng hoạt động tín dụng
không thường xuyên, nhưng khi có những biến động về chính trị thì tác động của nó tới
các ngân hàng là vô cùng lớn. Một sự thay đổi hệ thống chính trị có thể làm cho các ngân
hàng mất phần lớn hoặc toàn bộ các khoản tín dụng của mình. Điều này sẽ đẩy các ngân
hàng dến bờ vực của sự phá sản và sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng.
1.2.3.2. Nhân tố kiểm soát được
a/ Về phía khách hàng: là những người trực tiếp sử dụng vốn vay ngân hàng để
phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nhu cầu đời sống của mình, vì vậy
mà chất lượng tín dụng ngân hàng sẽ chịu ảnh hưởng lớn từ phía khách hàng. Các
khách hàng lớn của ngân hàng thưởng là các DN, do vậy những nhân tố thuộc về phía
khách hàng tác động đến chất lượng tín dụng bao gồm:
- Vốn và năng lực tài chính của khách hàng:
Vốn và năng lực tài chính của khách hàng là cơ sở nền tảng cho hoạt động sản
xuất kinh doanh và khả năng tự trả nợ của DN. Năng lực tài chính của DN thể hiện ở
khối lượng vốn tự có và tỷ trọng vốn tự cỏ trong tổng nguồn vốn DN đang sử dụng, nó
còn thể hiện ở khả năng thanh toán của DN, tính lỏng của tài sản. Năng lực tài chính
mình. Do hạn chế về khả năng, họ không dự đoán đúng những biến động lên xuống
của nhu cầu thị trường hoặc do yếu kém trong quản lý, trong việc giới thiệu, quảng cáo
sản phẩm mà hoạt động của DN không thể phát triển hoặc do thiếu kinh nghiệm trên
thương trường mà DN dễ dàng bị gục ngã trong cạnh tranh… Tất cả những điều đó
khiến cho chất lượng tín dụng bị ảnh hưởng ngoài ý muốn của cả ngân hàng lẫn khách
hàng… Tuy nhiên trong một số trường hợp cho dù phương án sản xuất kinh doanh của
người đi vay đã được tính toán một cách chi tiết, khoa học, chính xác đến mức tối đa
thì công việc đầu tư vẫn luôn chứa đựng khả năng xảy ra rủi ro do những thay đổi bất
ngờ, ngoài ý muốn và bất khả kháng của các điều kiện sản xuất kinh doanh, gây tác
động xấu đến công việc làm ăn, mang lại rủi ro cho DN. Ví dụ các thiệt hại DN phải
gánh chịu do sự biến động của thị trường cung cấp như: khi giá cả nguyên vật liệu biến
động tăng vọt làm tăng giá thành công xưởng của sản phẩm, nếu giá bán của sản phẩm
không thay đổi nó sẽ làm cho thu nhập tạo ra trên một sản phẩm giảm, làm giảm tổng
lợi nhuận được của cả dự án, ảnh hưởng xấu tới việc trả nợ ngân hàng. Nếu đảm bảo
thu nhập của mình, DN nâng giá bán của sản phẩm lên thì điều này sẽ làm cho việc
tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn, khả năng thu hồi vốn sản xuất bị chậm trễ, dễ dàng vi
phạm việc trả nợ ngân hàng về mặt thời hạn.
- Sự trung thực của khách hàng
Nếu khách hàng trung thực, sử dụng vốn vay đúng mục đích thì xác suất xảy ra
rủi ro sẽ giảm đi đáng kể vì tính khả thi của dự án cũng đã được ngân hàng thẩm định
Thang Long University Library
13
một cách kỹ càng trước khi ra quyết định cho vay. Nhưng việc sử dụng vốn vay
sai mục đích của khách hàng đã góp phần không nhỏ vào việc đổ bể của các tổ
chức tín dụng.
Chẳng hạn như sử dụng vốn vay đầu tư vào tài sản cố định, vào bất động sản,
sau đó các tài sản này bị sụt giá dẫn đến việc DN không trả được nợ cho ngân hàng.
Các DN còn chiếm dụng vốn lẫn nhau dẫn đến các DN làm ăn nghiêm chỉnh gặp khó
khăn trong việc trả nợ ngân hàng.
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng Công Thương Việt Nam- Chi
nhánh Sông Nhuệ.
Ngày 17/11/1990, Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) ra quyết định số 402/CT của
HĐBT chuyển ngân hàng chuyên doanh Công Thương Việt Nam thành ngân hàng
Công thương Việt Nam và trở thành một trong bốn ngân hàng thương mại Nhà nước
lớn nhất Việt Nam gồm: ngân hàng công thương Việt Nam, ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam, ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam.
Ngân hàng Công thương Việt Nam ra đời vào tháng 3/1988. Chi nhánh Sông
Nhuệ thành lập vào tháng 7/1988 với tên gọi NHCT Hà Sơn Bình bao gồm trụ sở
chính ở Hà Đông và 1 Chi nhánh đặt tại thị xã Hòa Bình. Tháng 10/1991, Quốc hội
nước CHXHCNVN quyết định tách tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh: Sông Nhuệ và
Hòa Bình. NHCT Hà Sơn Bình cũng giải thể và thành lập NHCT Sông Nhuệ. Cùng
với sự phát triển của kinh tế đất nước nói chung và kinh tế Sông Nhuệ nói riêng, vào
các năm 2001, 2003, 2005, hội đồng quản trị NHCT Hà Sơn Bình quyết định thành lập
các Chi nhánh cấp 2 trực thuộc NHCT Hà Sơn Bình gồm: Chi nhánh Sông Nhuệ, Chi
nhánh Quang Trung, Chi nhánh Nguyễn Trãi và phòng giao dịch Xuân Mai.
Tháng 7/2006, Hội đồng quản trị NHCTVN quyết định nâng cấp các Chi nhánh
cấp 1 phụ thuộc NHCTVN. Tháng 1/2012, hội đồng quản trị NHCTVN quyết định
nâng cấp phòng giao dịch Xuân Mai thành Chi nhánh NHCT Láng Hòa Lạc trực thuộc
NHCTVN.
Thang Long University Library
15
Tháng 11/2012, NHCTHT mở thêm phòng giao dịch La Phù. Tháng 4/2013, mở
thêm phòng giao dịch số 2 ở khu công nghiệp Phú Nghĩa – Chương Mỹ. tháng 7/2014,
NHCT Sông Nhuệ được đổi tên thành NHTMCPCTVN – Chi nhánh Sông Nhuệ.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức quản lý của ngân hàng thương mại Công thương Việt Nam - Chi
nhánh Sông Nhuệ.
Sơ đồ 0.1. Cơ cấu tổ chức của ngân hàng:
doanh
Quầy
ngân
quỹ
Quầy
cho
vay
thu nợ
Bộ phận kiểm
soát
Quầy
huy
động
vốn
Phòng giao dịch NH Hà Đông
Tổ tín dụng Tổ kế toán ngân quỹ