Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Uyên Thương
Lời Cảm Ơn
Trong quá trình thực tập và hoàn thành khóa
luận này, tôi đã nhận được sự giúp đở và sự chỉ
bảo hướng dẫn của quý thầy cô giáo, bạn bè và
người thân.
Đầu tiên tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám
hiệu nhà trường, Khoa Quản Trị Kinh Doanh, cùng
với toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học kinh
tế Huế đã truyền đạt những kiến thức vô cùng
quý báu và có ý nghĩa trong suốt thời gian bốn
năm học vừa qua cho tôi.
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng bết ơn sâu sắc
đến cô giáo Nguyễn Uyên Thương đã tận tình
dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình xây dựng đề cương, nghiên
cứu và hoàn thành đề tài tốt nghiệp.
Ngoài ra tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh
đạo, cán bộ, nhân viên ngân hàng TMCP Đầu tư
và phát triển Việt Nam chi nhánh bắc Quảng
Bình, đặc biệt là các anh chị nhân viên phòng tín
dụng đã tận tình nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá
trình thu thập số liệu, nắm bắt tình hình thực tế
tại chi nhánh và thị trường.
Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn những
người thân trong gia đình, toàn thể bạn bè đã
quan tâm, động viên, giúp đỡ và góp ý kiến chân
thành giúp tôi có thể hoàn thành tốt đề tài.
SVTH: Nguyễn Văn Tân
3
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Uyên Thương
DANH MỤC CÁC BẢNG
SVTH: Nguyễn Văn Tân
4
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Uyên Thương
DANH MỤC SƠ ĐỒ
SVTH: Nguyễn Văn Tân
5
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Uyên Thương
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện đất nước đang thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nhằm phát huy được hết tiềm lực kinh tế đất nước thì nước ta đòi hỏi phải giải quyết
hàng loạt các khó khăn mà các thành phần kinh tế gặp phải liên quan đến nhiều vấn đề.
Trong đó khó khăn lớn nhất, cơ bản nhất, phổ biến nhất làm tiền đề cho các khó khăn
là thiếu vốn sản xuất. Vậy các thành phần kinh tế này phải tìm vốn ở đâu trong điều
kiện thị trường vốn ở Việt Nam. Vì vậy, phải giải quyết khó khăn về vốn cho các
thành phần kinh tế đã và đang là vấn đề cấp bách mà Đảng, Nhà nước, các tổ chức tín
dụng… phải quan tâm giải quyết. Từ đó ta thấytín dụng ngày nay đã trở thành một hoạt
động quan trọng không thể thiếu trong nền kinh tế của mỗi quốc gia.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay có rất nhiều con đường hấp thụ và phân bổ
nguồn vốn nhưng một điều không thể phủ nhận là việc huy động và phân bổ nguồn
vốn thông qua trung gian tài chính – Ngân hàng thương mại vẫn là một kênh có hiệu
quả nhất. Nền kinh tế của một đất nước chỉ có thể phát triển với tốc độ cao và ổn định
khi có chính sách tài chính, tiền tệ đúng đắn và hệ thống ngân hàng hoạt động đủ
mạnh, có hiệu quả cao, có khả năng thu hút tập trung các nguồn vốn và phân bổ nguồn
vốn đến đúng địa chỉ - đây chính là hai mặt của tín dụng ngân hàng. Do đó việc nghiên
cứu chất lượng tín dụng hay nghiên cứu chất lượng huy động vốn và chất lượng cho
vay là một điều tất yếu.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Bắc Quảng Bình
tiền thân là chi điểm Bắc Quảng Bình được thành lập tháng 4/1965 nay chính thức
được đổi tên thành Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Bắc Quảng Bình trực
thuộc Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Quảng Bình. Trong những năm qua,
chi nhánh đã từng bước hoạt động ổn định và phát triển đi lên. Để chi nhánh ngày càng
phát triển hơn nữa, việc phân tích tình hình hoạt động của chi nhánh để đưa ra các giải
pháp hợp lý là điều rất cần thiết. Qua quá trình thực tập tại ngân hàng TMCP Đầu tư và
Phát triển Việt Nam – chi nhánh Bắc Quảng Bình tôi nhận thấy nguồn thu chủ yếu của
ngân hàng là từ hoạt động tín dụng. Xuất phát từ thực tế đó, cùng với những kiến thức
quan hệ tác động qua lại và ràng buộc lẫn nhau chứ không ở riêng lẽ và biệt lập. Các
sự vật không chỉ được xem xét ở trong một thời điểm cố định mà là một chuỗi thời
gian nhất định để rút ra những nhận xét có tính khoa học.
- Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập, xử lý và phân tích số liệu sơ cấp và số
liệu thứ cấp.
+ Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ phòng kế hoạch - tổng hợp, phòng tổ chức hành chính, phòng quản lý rủi ro…của Chi nhánh Ngân hàng BIDV bắc Quảng Bình.
+ Số liệu sơ cấp: Được thu thập qua quan sát, phỏng vấn trực tiếp nhân viên làm
việc tại ngân hàng TMCP BIDV bắc Quảng Bình.
- Phương pháp xử lý số liệu
Tổng hợp và chọn lọc những thông tin, dữ liệu thu thập liên quan đến đề tài. cụ
thể là các phương pháp:
+ Phân tích theo chiều ngang
Sử dụng phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối hoặc bằng số tương đối
+ Phân tích theo chiều dọc (phân tích theo quy mô chung)
Với báo cáo quy mô chung, từng khoản mục trên báo cáo được thể hiện bằng một tỉ
lệ kết cấu so với một khoản mục được chọn làm gốc có tỷ lệ là 100%.
+ Phương pháp liên hệ - cân đối: Khi tiến hành phân tích chúng ta cần chú ý đến
những mối quan hệ, tính cân đối cần thiết và hữu dụng trong quản lý tài chính ở từng
thời kỳ, từng khoản mục tài chính, từng hoàn cảnh kinh tế không nên quá chú trọng vào
lý thuyết sẽ làm cho việc phân tích tản mạn và không hữu ích.
+ Phương pháp phân tích, đối chiếu: Dựa trên số liệu có sẵn để tìm ra những ưu
điểm, nhược điểm trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong nước nhằm tìm ra
những rủi ro và giải pháp khắc phục hạn chế rủi ro.
+ Phương pháp so sánh: Đây cũng là những phương pháp dựa trên những số liệu
có sẵn để tiến hành đối chiếu (về tương đối, tuyệt đối) thường là so sánh giữa 2 năm để
SVTH: Nguyễn Văn Tân
9
GVHD: Nguyễn Uyên Thương
1.1. Khái quát về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng có vị trí
quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường ở các nước. Có nhiều khái niệm khác
nhau về ngân hàng thương mại:
Theo Ngân hàng thế giới: Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi chủ yếu
dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi được rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiền
gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm). Gồm các ngân hàng là: Ngân hàng thương mại, chị
tham gia vào các hoạt động nhận tiền gửi, cho vay ngắn hạn, trung dài hạn; Ngân hàng
đầu tư, hoạt động buôn bán chứng khoán và bảo lãnh phát hành; Ngân hàng nhà ở,
cung cấp tài chính cho lĩnh vực phát triển nhà ở và nhiều loại ngân hàng khác nữa. Tại
một số nước còn có ngân hàng tổng hợp, kết hợp hoạt động ngân hàng thương mại với
hoạt động ngân hàng đầu tư và đôi khi thực hiện cả dịch vụ bảo hiểm.
Tại Mỹ: NHTM là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, chuyên cung cấp
dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Tại Pháp: NHTM là những xí nghiệp và cơ sở nào thường xuyên nhận tiền bạc
của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác và sử dụng số tiền đó cho
chính họ trong các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng và cung cấp dịch vụ tài chính.
Tại Việt Nam: Khái niệm NHTM được quy định theo pháp luật.
Theo điều 4, luật các tổ chức tín dụng, ngày 16 tháng 06 năm 2010, Ngân hàng
thương mại là loại ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu
lợi nhuận.
Như vậy, NHTM là tổ chức được hình thành theo quy định của pháp luật, kinh
doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi dưới nhiều
hình thức khác nhau
1.1.2. Các chức năng của NHTM
Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện
các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ
để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi củ khách hàng
tiền thu bán hàng và các thu khác theo lệnh của họ. với chức năng này, các NHTM cung
cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy
nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng... tùy theo nhu cầu, khách hàng có
thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Chức năng này vô hình chung đã
thúc đẩy lưu thong hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó
góp phần phát triển kinh tế.
1.1.3. Các hoạt động cơ bản của NHTM
1.1.3.1. Nghiệp vụ nguồn vốn (Tài sản nợ - nguồn vốn)
Nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân
ngân hàng cũng như đối với bản thân xã hội. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương
mại được phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép
SVTH: Nguyễn Văn Tân
12
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Uyên Thương
để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng cho vay đối
với nền kinh tế.
Thành phần nguồn vốn của ngân hàng thương mại gồm:
Vốn điều lệ
nguồn tài nguyên to lớn nhất, bao gồm:
+ Tiền gửi không kì hạn của các tổ chức cá nhân
+ Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn
SVTH: Nguyễn Văn Tân
13
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Uyên Thương
+ Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn
+ Tiền phát hành kì phiếu, trái phiếu
+ Các khoản tiền gửi khác
Đối với tiền gửi của cá nhân và đơn vị, ngoài lãi suất thì nhu cầu giao dịch với
những tiện lợi nhanh chóng và an toàn là yếu tố cơn bản để thu hút nguồn tiền này.
Đối với tiền gửi tiết kiệm, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu thì lãi suất là yếu tố
quyết định và người gửi tiết kiệm hay mua kỳ phiếu đều nhằm mục đích kiếm lời.
Vốn đi vay
Nguồn vốn đi vay có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của ngân hàng
thương mại. Thuộc loại này bao gồm:
+ Vốn vay trong nước:
Vay ngân hàng nhà nước: NHNN sẽ tiếp vốn cho NHTM thông qua biện pháp
chiết khấu, tái chiết khấu nếu các hồ sơ tín dụng cùng các chứng từ xin tái chiết khấu
có chất lượng. Làm như vậy, NHNN sẽ trở thành chỗ dựa và là người cho vay cuối
cùng đối với ngân hàng thương mại.
Vay các NHTM khác thông qua thị trường liên ngân hàng.
+ Vốn vay ngân hàng nước ngoài.
Dự trữ
Hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm mục đích kiếm lời, song cần phải bảo
đảm an toàn để giữ vững được long tin của khách hàng. Muốn có được sự tin cậy về
phía khách hàng, trước hết phải bảo đảm khả năng thanh toán: đáp ứng được nhu cầu
rút tiền của khách hàng. Muốn vậy các ngân hàng phải để dành một phần nguồn vốn
không sử dụng nó để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán. Phần vốn để dành này gọi
là dự trữ. NHNN được phép ấn định một tỉ lệ dự trữ bắt buộc theo từng thời kì nhất
định, việc trả lãi cho tiền gửi dự trữ bất buộc do chính phủ quy định. Dự trữ bao gồm:
-
Dự trữ sơ cấp: Bao gồm tiền mặt, tiền gửi tại NHNN, tại các ngân hàng khác.
Dự trữ thứ cấp: (cấp hai) là dự trữ không tồn tại bằng tiền mà bằng chứng khoán,
nghĩa là các chứng khoán ngắn hạn có thể bán để chuyển thành tiền một cách thuận
lợi. thuộc loại này bao gồm:
+ Tín phiếu kho bạc
+ Hối phiếu đã chấp nhận
+ Các giấy nợ ngắn hạn khác.
Gọi là dự trữ thứ cấp bởi nó chỉ được sử dụng khi các khoản mục dự trữ sơ cấp
bị cạn kiệt. Khi quản lý dự trữ bắt buộc, NHNN có thể áp dụng 1 trong 3 biện pháp:
+ Phương pháp phong tỏa: Theo đó toàn mức dự trữ bắt buộc phải gửi vào một
tài khoản tại NHNN và sẽ bị phong tỏa để đảm bảo thực hiện đúng mức dự trữ.
+ Phương pháp bán phong tỏa: theo đó một phần của mức dự trữ bắt buộc sẽ
được quản lý và phong tỏa tại một tài khoản riêng ở NHNN.
+ Phương pháp không phong tỏa: Theo phương pháp này tiền dự trữ được tính
và thực hiện hàng ngày trên cơ sở số dư thực tế về tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi
có kì hạn. toàn bộ mức dự trữ sẽ không bị phong tỏa, nó có thể tồn tại dưới hình thức
tiền mặt hay tiền gửi NHNN hay dưới dạng chứng khoán ngắn hạn là tùy ngân hàng
thương mại, tuy nhiên đến cuối mỗi tháng, NHNN sẽ kiểm tra việc thực hiện dự trữ
bắt buộc, nếu các NHTM không thực hiện đúng sẽ bị phạt (cảnh cáo, phạt tiền nếu tái
kết thúc hợp đồng thuê người đi thuê được quyền mua hoặc kéo dài thêm thời hạn thuê
hoặc trả lại thiết bị cho bên cho thuê.
+ Bảo lãnh ngân hàng: Trong loại hình nghiệp vụ này khách hàng được ngân
hàng cấp bảo lãnh cho khách hàng nhờ đó khách hàng sẽ được vay vốn ở ngân hàng
khác hoặc thực hiện hợp đồng kinh tế đã ký kết.
Đầu tư: Khoản mục đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau khoản mục cho vay,
nó mang lại khoản thu nhập lớn và đáng kể của ngân hàng thương mại. Trong
nghiệp vụ này, ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định
khác để đầu tư dưới các hình thức như:
+ Hùn vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các công ty; hùn vốn mua cổ phần chỉ
được phép thực hiện bằng vốn của ngân hàng.
+ Mua trái phiếu chính phủ, chính quyền đại phương, trái phiếu công ty...
SVTH: Nguyễn Văn Tân
16
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Uyên Thương
Tất cả hoạt động đầu tư chứng khoán đều nhằm mục đích mang lại thu nhập,
mặt khác nhờ họat động đầu tư mà các rủi ro trong hoạt động ngân hàng sẽ được
phân tán, mặt khác đầu tư vào trái phiếu chính phủ thì mức độ rủi ro sẽ rất thấp.
Tài sản có khác
Những khoản mục còn lại của tài sản có trong đó chủ yếu là tài sản cố định
nhằm: xây dựng hoặc mua thêm nhà cửa để làm trụ sở văn phòng, trang thiết bị, máy
móc, phương tiện vận chuyển... Ngoài ra còn các khoản phải thu, các khoản khác.
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Uyên Thương
khác biệt đó là quan hệ tín dụng này xảy ra giữa một bên là ngân hàng, các tổ chức tín
dụng khác với một bên là các tổ chức kinh tế, các cá nhân trong nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng phổ biến nhất hiện nay, nó không
những góp phần giải quyết được những yêu cầu cấp bách của tín dụng thương mại
hiện nay mà còn có vai trò rất lớn trong việc cung cấp vốn tạo động lực cho nền kinh
tế phát triển.
Các khái niệm liên quan tới hoạt động tín dụng
- Dư nợ: Là chỉ tiêu phản ánh số nợ mà Ngân hàng đã cho vay và chưa thu được
vào một thời điểm nhất định. Để xác định đuợc dư nợ, Ngân hàng sẽ so sánh giữa hai
chỉ tiêu doanh số cho vay và doanh số thu nợ.
- Nợ xấu:là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Điều 6 hoặc
Điều 7 quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và quyết định sửa đổi bổ sung số
18/2007/QĐ-NHNN.
- Dựphòng rủi ro: là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất
có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam
kết. Dự phòng rủi ro bao gồm: Dự phòng cụ thể và Dự phòng chung.
1.1.4.2. Nội dung của tín dụng ngân hàng
Hoạt động đi vay (Hoạt động huy động vốn)
Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng
nhất của ngân hàng. Hoạt động huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp
cho ngân hàng nhưng nó là hoạt động rất quan trọng, không có hoạt động huy động
vốn xem như không có hoạt động ngân hàng. Một ngân hàng khi được cấp giấy phép
thành lập phải có vốn điều lệ theo quy định. Tuy nhiên vốn điều lệ chỉ đủ tài trợ cho
tài sản cố định như trụ sở, văn phòng, máy móc, thiết bị cần thiết cho hoạt động chứ
cầu về phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển. đối với các tổ chức
kinh tế, tín dụng cũng phải đáp ứng các mục đích cụ thể trong quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh để thúc đẩy các tổ chức này hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh của mình.
+ Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả vốn gốc và lãi vay theo đúng thời hạn
đã cam kết trong hợp đồng tín dụng: Nguyên tắc này dề ra nhằm đảm bảo cho các
ngân hàng thương mại tồn tại và hoạt động bình thường. Bởi nguồn vốn cho vay của
ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn huy động. Đó là một bộ phận tài sản của các chủ sở
hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng, ngân hàng phải có nghĩa vụ đáp ứng
các nhu cầu rút tiền của khách mà họ yêu cầu. nếu các khoản tín dụng không được
hoàn trả đúng hạn thì nhất định sẽ ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả của ngân hàng.
+ Việc đảm bảo tiền vay phải thực hiện theo quy định của chính phủ: Quá trình
cung ứng vốn tín dụng của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế sẽ làm tăng sức
mua của xã hội, làm tăng khối lượng tiền trong nền kinh tế, làm tăng áp lực đối với
lượng hàng hóa ở trên thị trường. Ngoài ra do tính chất vận động của vốn tín dụng gắn
liền với sự vận động của vật tư hàng hóa, gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh
của các đơn vị. Do đó cần thực hiện nguyên tắc đảm bảo giá trị vật tư hàng hóa tương
đương cho những khoản tín dụng đang thực hiện. Bảo đảm tiền vay có thể thực hiện
bằng thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, hoặc bảo đảm bằng chính tài sản
được tạo ra do sử dụng vốn vay hoặc bảo đảm bằng tín chấp.
- Điều kiện vay vốn:
+ Địa vị pháp lý của khách hàng vay vốn: Khách hàng vay vốn phải có năng lực
pháp lý, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo Luật dân sự.
+ Có khả năng tài chính và trả nợ đúng hạn theo hợp đồng tín dụng đã kí.
+ Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
SVTH: Nguyễn Văn Tân
19
hàng (thường áp dụng cho hình thức vay ngắn hạn).
+ Trả theo định kì: Khách hàng sẽ tiến hành trả nợ gốc cho ngân hàng theo định
kỳ trả hàng tháng, trả 3 tháng 1 lần, 6 tháng 1 lần...khi tiến hành ký kết hợp đồng vay.
- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay
+ Cho vay mua xe
+ Cho vay trả góp mua nhà
+ Cho vay trả góp xây dựng sửa chữa nhà cửa
+ Cho vay sản xuất kinh doanh
SVTH: Nguyễn Văn Tân
20
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Uyên Thương
+ Cho vay tín chấp đối với CBCNV
+ Cho vay bổ sung vốn lưu động
1.1.5. Chất lượng tín dụng
1.1.5.1. Khái niệm chất lượng tín dụng
Để có thể tồn tại, phát triển và dành ưu thế trong cạnh tranh, thích ứng với thị
trường và sự yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, các doanh nghiệp luôn phải
tiến hành đa dạng hoá các sản phẩm, dich vụ của mình nhằm thu hút được khách
hàng. Chính sách sản phẩm mà trong đó tập trung nhiều vào việc bảo đảm và nâng cao
chất lượng sản phẩm là một biện pháp thiết thực, hữu hiệu nhất cho hầu hết các doanh
nghiệp hiện nay.
Có thể nói, chất lượng của một sản phẩm hay một dịch vụ đều được biểu hiện ở
mức độ thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng và lợi ích về mặt tài chính cho người
tại về chất lượng sẽ giúp cho ngân hàng tìm được biện pháp quản lý thích hợp để có
thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường. Trong luận văn này, nội dung chỉ tập
trung phân tích về chất lượng tín dụng trên góc độ NHTM.
1.1.5.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
Chỉ tiêu sử dụng vốn:
Hệ số sử dụng vốn =
Đây là chỉ tiêu hiệu quả phản ánh chất lượng tín dụng, cho phép đánh giá tính
hiệu quả trong hoạt động tín dụng của một ngân hàng. Chỉ tiêu này càng lớn thì càng
chứng tỏ ngân hàng đã sử dụng một cách hiệu quả nguồn vốn huy động được.
Chỉ tiêu dư nợ:
Đây là một chỉ tiêu định lượng, xác định cơ cấu tín dụng trong trường hợp dư nợ
được phân theo thời hạn cho vay (ngắn, trung, dài hạn). Chỉ tiêu này còn cho thấy
biến động của tỷ trọng giữa các loại dư nợ tín dụng của một ngân hàng qua các thời kỳ
khác nhau. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ mức độ phát triển của nghiệp vụ tín dụng
càng lớn, mối quan hệ với khách hàng càng có uy tín.
Chỉ tiêu nợ quá hạn
Chỉ tiêu nợ quá hạn là một chỉ số quan trọng để đo lường chất lượng nghiệp vụ
tín dụng. Các ngân hàng có chỉ số này thấp đã chứng minh được chất lượng tín dụng
cao của mình và ngược lại.
Thông thường thì tỷ lệ nợ quá hạn tốt nhất là ở mức
thuật nghiệp vụ cơ bản, chỉ rõ cách làm, trình tự các bước từ khi bắt đầu đến khi kết
thúc một giao dịch thuộc chức năng, nhiệm vụ của cán bộ tín dụng và lãnh đạo ngân
SVTH: Nguyễn Văn Tân
23
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Uyên Thương
hàng có liên quan. Quy trình tín dụng là yếu tố quan trọng, nếu nó được tổ chức khoa
học, hợp lý sẽ cho phép bảo đảm thực hiện các khoản vay có chất lượng.
- Kiểm soát nội bộ: đây là hoạt động mang tính thường xuyên và cần thiết đối
với mọi ngân hàng. Công tác kiểm tra nội bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng
càng thường xuyên, chặt chẽ sẽ càng làm cho hoạt động tín dụng đúng hướng, thực
hiện đúng các nguyên tắc, yêu cầu thể lệ trong qui chế tín dụng cũng như qui trình tín
dụng. Kiểm soát nội bộ là biện pháp mang tính chất ngăn ngừa, hạn chế những sai sót
của cán bộ tín dụng, giúp cho hoạt động tín dụng kịp thời sửa chữa, tạo điều kiện
thuận lợi nâng cao chất lượng tín dụng.
- Tổ chức nhân sự: con người luôn là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong
mọi hoạt động kinh doanh nói chung và tất nhiên nó cũng không loại trừ khỏi hoạt động
của một ngân hàng. Muốn nâng cao được hiệu quả trong kinh doanh, chất lượng trong
hoạt động tín dụng, ngân hàng cần phải có một đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi, được đào
tạo có hệ thống, am hiểu và có kiến thức phong phú về thị trường đặc biệt trong lĩnh
vực tham gia đầu tư vốn, nắm vững những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt
động tín dụng. Trong bố trí sử dụng, người cán bộ tín dụng cần phải được sàng lọc kỹ
càng và phải có kế hoạch thường xuyên bồi dưỡng những kiến thức cần thiết để bắt kịp
với nhịp độ phát triển và biến đổi của nền kinh tế thị trường. Ngoài ra, họ còn phải có
sản, sử dụng vốn vay không đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh,
phương án kinh doanh,…Việc khách hàng gian lận tất yếu sẽ dẫn đến những rủi ro
cho ngân hàng.
Uy tín của khách hàng cũng là một yếu tố đáng quan tâm, uy tín của khách hàng
là tiêu chí để đáng giá sự sẵn sàng trả nợ và kiên quyết thực hiện các nghĩa vụ cam kết
trong hợp đồng từ phía khách hàng. Uy tín của khách hàng được thể hiện dưới nhiều
khía cạnh đa dạng như: chất lượng, giá cả hàng hoá, dịch vụ, sản phẩm, mức độ chiếm
lĩnh thị trường, chu kỳ sống của sản phẩm, các quan hệ kinh tế tài chính, vay vốn, trả
nợ với khách hàng, bạn hàng và ngân hàng. Uy tín được khẳng định và kiểm nghiệm
bằng kết quả thực tế trên thị trường qua thời gian càng dài càng chính xác. Do đó,
ngân hàng cần phân tích các số liệu và tình hình trong suốt quá trình phát triển của
khách hàng với những thời gian khác nhau mới có kết luận chính xác.
+ Năng lực, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng
Chất lượng tín dụng phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức, kinh nghiệm quản
lý kinh doanh của người vay. Đây chính là tiền đề tạo ra khả năng kinh doanh có hiệu
quả của khách hàng, là cơ sở cho khách hàng thực hiện cam kết hoàn trả đúng hạn nợ
ngân hàng cả gốc lẫn lãi. Nếu trình độ của người quản lý còn bị hạn chế về nhiều mặt
như học vấn, kinh nghiệm thực tế,…thì doanh nghiệp rất dễ bị thua lỗ, dẫn đến khả
năng trả nợ kém, ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng của ngân hàng.
- Nhóm nhân tố thuộc môi trường
SVTH: Nguyễn Văn Tân
25