1
đại học thái nguyên
Trờng đại học s phạm
Đồng Văn Quân
lịch sử triết học đề cơng bài giảng
(Dùng cho chuyên ngành giáo dục chính trị)
đến lẽ phải. Như vậy với tính cách là một hình thái ý thức xã hội triết học
phải bao gồm hai yếu tố cơ bản là yếu tố nhận thức và yếu tố nhận định.
Khái quát lại có thể định ngh
ĩa về triết học như sau: Triết học là một
hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai
trò của con người trong thế giới ấy.
Triết học ra đời từ nhu cầu của thực tiễn và để phục vụ cho nhu cầu
sống của con người. Sự ra đời của triết học bắt nguồn từ hai nguồ
n gốc là
nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.
- Nguồn gốc nhận thức là sự hình thành, phát triển của năng lực tư
duy trừu tượng khái quát của con người.
3
- Nguồn gốc xã hội của nó là sự phát triển của phân công lao động xã
hội thành lao động chân tay và lao động trí óc trong xã hội có giai cấp. Cho
nên ngay từ khi mới ra đời triết học đã mang tính giai cấp, phục vụ cho lợi
ích của một giai cấp nhất định
2. Đối tượng của triết học
Đối tượng của triết học được hình thành, biến đổi dần dần qua các giai
đoạn lịch sử khác nhau.
Dướ
i thời Cổ đại, với nền triết học tự nhiên ở phương Tây, triết học
bao gồm tất cả những tri thức mà con người có được: toán học, vật lý học,
thiên văn học, siêu hình học nên chưa có sự phân biệt đối tượng của triết
học với đối tượng của khoa học. Đây là cơ sở hình thành nên quan niệm coi
triết học là “khoa học của mọi khoa học”.
Dưới thời Trung cổ, do sự thống trị của tôn giáo, triết học tự nhiên
được thay thế bằng triết học Kinh viện nên nó phát triển một cách chậm
chạp. Thực chất đây là giai đoạn phủ định nền văn minh cổ đại. Đối tượng
và siêu hình, khả tri và bất khả tri luận…).
- Trước hết, sự hình thành và phát triển của triết học luôn gắn với
những điều kiện kinh tế xã hội cụ thể, gắn với các cuộc đấu tranh giai cấp
nhất định. Các trường phái triết học trong lịch sử luôn là nền tảng thế giới
quan của các giai cấ
p, tầng lớp xã hội nhất định. Cghủ nghĩa duy vật là đại
diện tư tưởng cho những lực lượng tiến bộ, còn chủ nghĩa dyt tâm đại biểu
cho những lực lượng phản động (VD cụ thể).
- Sự hình thành và phát triển của triết học luôn gắn liền với sự phát
triển của khoa học tự nhiên và xã hội. Ăngghen đã khẳng định: Mỗi khi khoa
họ
c tự nhiên phát triển nó đều đòi hỏi chủ nghĩa duy vật phải có sự thay đổi
hình thức tồn tại của mình. Triết học phải dựa trên cơ sở khái quát các tri
thức khoa học cụ thể. Khoa học luôn là một trong những tiền đề của triết
học.
5
- Lịch sử triết học là lịch sử hình thành và đấu tranh qua lại giữa các
đường lối, trường phái triết học như: duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu
hình, khả tri và bất khả tri luận, duy cảm và duy lí… Các trường phái triết
học không chỉ phủ định, bài trừ nhau mà chúng còn kế thừa lẫn nhau. Cuộc
đấu tranh xuyên suốt lịch sử triết học là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy
vật và chủ nghĩa duy tâm.
III. VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC, CÁC TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC
1. Vấn đề cơ bản của triết học
Theo Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết
học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”.
Giải quyết vấn đề cơ bản vừa là cơ sở để giải quyết các vấn đề khác,
vừa là tiêu chuẩn để phân
triển. Đây là đỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật, là chủ nghĩa
duy vật triệt để.
- Chủ
nghĩa duy tâm: trường phái này cho rằng ý thức, tinh thần mới
là cái có trước, sinh ra và quyết định vật chất. Chủ nghĩa duy tâm tồn tại
dưới hai hình thức là chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm
chủ quan.
+ Chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng có tồn tại một lực lượng tinh
thần khách quan có trước giới tự nhiên, là nguyên nhân sinh ra giới tự nhiên và
chi phối toàn bộ thế giới (linh hồn thế giới, ý niệm tối cao, ý niệm tuyệt
đối ).
+ Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng chính cảm giác cá nhân của
mỗi người đã sinh ra thế giới hiện thực xung quanh, do đó thế giới không
tồn tại khách quan mà phụ thuộc vào cảm giác của mỗi người.
- Nhị nguyên luận là một trường phái triết học không cơ bản, một
đường lối trung gian. Trường phái này cho rằng thế giới bắt nguồn từ hai
nguồn gốc khác nhau là nguồn gốc vật ch
ất và nguồn gốc tinh thần cho nên
vật chất và ý thức – không cái nào có trước có sau, không cái nào sinh ra cái
nào, không cái nào quyết định cái nào.
7
b. Thuyết có thể biết và thuyết không thể biết
- Thuyết có thể biết (khả tri luận) là một đường lối cơ bản trong nhận
thức luận. Theo thuyết này thì thế giới là có thể nhận thức, con người có thể
biết được bản chất của thế giới. Đa số các nhà duy vật đi theo đường lối này,
ngoài ra còn có nhiều nhà duy tâm cũng có quan điểm khả tri.
- Thuyết không thể biế
t (bất khả tri luận), ngược lại cho rằng con
người không có khả năng nhận thức bản chất của thế giới, mọi tri thức đều là
biện ch
ứng thời kỳ này đã thữa nhận rằng các sự vật hiện tượng trong thế
giới không ngừng sinh thành biến hoá vô tận. Đây là kết quả quan sát trực
tiếp nên còn thể hiện tính trực quan ngây thơ.
- Phép biện chứng duy tâm do Hêghen xây dựng một cách tự giác, có
hệ thống nhưng trên nền tảng của chủ nghĩa duy tâm cho nên còn mang tính
thần bí khó hiểu và chưa triệt để. Mác gọi đây là phép biện chứng “ lộn
đầu
xuống đất”
- Phép biện chứng duy vật do Mác và Ăngghen sáng lập trên cơ sở kế
thừa phép biện chứng của Hêghen, tẩy rửa nó khỏi chủ nghĩa duy tâm, đặt
cho nó “ đứng bằng chân”. Đây là đỉnh cao trong sự phát triển của phương
pháp biện chứng - phép biện chứng triệt để.
V. VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
Vai trò của triết học được thể hiện bằng chức năng của nó. Triết học
có nhiều chức năng khác nhau như chức năng nhận thức, chức năng đánh
giá, chức năng giáo dục Nhưng quan trọng nhất là chức năng thế giới quan
và chức năng phương pháp luận.
1.Chức năng thế giới quan củ
a triết học
Những vấn đề mà triết học đặt ra và tìm cách giải quyết trước hết là
vấn đề thế giới quan. Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con
9
người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con
người trong thế giới đó.
Trong thế giới quan có sự thống nhất giữa tri thức và niềm tin. Tri
thức là cơ sở trực tiếp làm hình thành thế giới quan nhưng tri thức chỉ gia
nhập thế giới quan khi nó biến thành niềm tin.
2.Chức năng phương pháp luận của triết học
Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống những quan
điểm chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.
Có ba loại phương pháp luận là phương pháp luận ngành, phương pháp luận
chung và phương pháp luận chung nhất.
Tri
ết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất. Mỗi
quan điểm lý luận của triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác
lập phương pháp, là lý luận về phương pháp.
3. Vai trò của triết học đối với khoa học cụ thể
Triết học bắt nguồn từ các khoa học cụ thể, là kết quả khái quát từ
những tri thức khoa học c
ụ thể.
Ngượpc lại chính triết học lại trở thành cơ sở lý luận và cơ sở phương
pháp luận cho các khoa học cụ thể phát triển.
NỘI DUNG THẢO LUẬN VÀ ÔN TẬP
1. Vấn đề cơ bản của triết học và các đường lối triết học?
2. Sự đối lập giữa hai phương pháp biện chứng và siêu hình? 11
CHƯƠNG II. LỊCH SỬ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
triều và chiến tranh chống sự xâm lăng từ bên ngoài. Thời cổ đại của Ấn Độ
kéo dài đến thế kỷ thứ 10 sau Công nguyên.
Những đặc điểm nổi bật về kinh tế - xã hội thời kỳ cổ đại ở Ấn Độ là:
+ Sự tồn tại bền vững, dai dẳng của chế độ công xã nông thôn với sở
hữu nhà nước về đất đai.
+ Xã hội được phân hoá thành những dẳng cấp chính: tăng lữ (
Brahman), quý tộc (Ksatriya), bình dân (Vaisya) và tiện nô (Ksudra).
+ Sự thống trị của tôn giáo trên tất cấcc lĩnh vực của đời sống xã hội.
c. Điều kiện về văn hoá
Ấn Độ cổ đại có nền văn hoá, khoa học phát triển tương đối rực rỡ,
với nhiều giá trị để lại cho đời sau như: toán học, y học, kiến trúc, tâm lý
học, triết học
Văn hoá Ấn Độ cổ, trung được chia thành ba thời kỳ: Văn minh Sông
Ấn (TK XXV Tr.CN - TK XV Tr.CN), văn minh Vêda ( TK XV Tr.CN -
TK VII Tr.CN), văn minh Hậu Vêda (từ TK VII Tr.CN).
2. Đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại
Triết học Ấn Độ cổ đại hình thành và phát triển chủ yếu là từ TK VII
Tr.CN Trở về sau. Ở thời kỳ này xuất hiện hai nhóm với các trường phái
khác nhau:
- Các trường phái chính thố
ng thừa nhận quyền uy của kinh Vêda:
Samkhya, Mimansa, Vedalta, Yoga, Nyaya, Vaisesika.
- Các trường phái không chính thống phủ nhận quyền uy của kinh
Vêda: Lôkayata, Jaina, Đạo phật.
- Đặc điểm chung của triết học ấn Độ cổ, trung đại là:
+ Sự đan xen giữa triết học và tôn giáo.
+ Sự đan xen giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
13
+ sự kế tục lần nhau giữa các học phái và sự kế tục các tư tưởng của
14
Bộ sử thi này kể về việc hoàng tử Rama cùng người em cùng cha khác
mẹ, tướng khỉ Hanuman chiến đấu cứu người vợ yêu quý, sinh đẹp là nàng
Sita. Nhưng sau đó long nghi kị, ghen tuông đã giết chết nàng Sita khi đang
mang trong bụng đứa con của Rama.
Tư tưởng chủ yếu trong Ramayana là triết lí đạo đức – nhân sinh về
cái thiện, cái ác, đức hy sinh, lòng quả cảm, bổn phận tự nhiên và những
mâu thuẫn trong mỗi người giữa cái cao thượng và th
ấp hèn.
Bộ sử thi này còn chứa đựng những yếu tố duy vật tự phát như không
thừa nhận linh hồn bất tử, cho rằng con người ta sinh ra từ đất và khi chết đi
lại trở về với đất; tin vào cảm giác, chỉ những gì được cảm giác chứng thực
thì mới đáng tin cậy.
b. Sử thi Mahabharata
Bộ sử thi này kể về câu chuyện cuộc chiến kéo dài 18 ngày đêm giữ
a
5 hoàng tử dòng họ Pandava với 100 anh em dòng họ Kaurava. Họ đều là
than tộc, con cháu của Bharata, chỉ vì tranh giành đất đại mà chem. giết lẫn
nhau. Câu chuyện phản ánh quá trình hình thành các quốc gia chiếm hữu nô
lệ ở Ấn Độ cổ đại. Trong sử thi có lồng ghép những sự tích thần linh, ẩn dụ
triết học, phương châm sử thế…trong đó có phần lắp ghép triết học quan
trọng nhất là Bhagavad-Gita (Chí tôn ca).
Đây là lời khuyên của người
đánh xe Krishna, hiện thân của thần
Vishnu, mach bảo cho dũng sĩ Arjuna trong đêm trước trận chiến, thuyết giải
về lẽ trời, bổn phận… Ở đó thừa nhận linh hồn là bất tử, thế giới vạn vật chỉ
là ảo ảnh phù du, Tinh thần tuyệt đối tối cao mới là bản thể đích thực, cho
nên con người phải hành động theo bổn phận (Dharma) một cách nhiệt
thành, vô t
ư, dốc sức chime nghiệm nội tâm mới tìm ra chân bản, có lòng tin
kỳ mang lập trường nhất nguyên duy tâm. Phái này cho rằng: Tồn tại là ý
thức thuần tuý, là sự thống nhất tuyệt đối giữa Brahman (linh hồn thế giới)
16
với Atman (linh hồn cá thể); thế giới vật chất là ảo giả, không thực do vô
minh sinh ra. Phái Vedalta hậu kỳ có quan điểm duy tâm khách quan, thừa
nhận sự tồn tại khách quan của cả Brahman lẫn Atman, trong đó Atman là
bộ phận của Brahman.
4. Trường phái Yoga
Tư tưởng của phái Yoga là sự kết hợp giữa tư tưởng của Samkhya với
thần, nhưng thần của họ không phải là lực lượng sáng tạo ra th
ế giới, mà chỉ
là sự siêu thoát của con người. Phái này đưa ra một hệ thống các phương
pháp tu luyện mà về sau được nhiều phái khác vận dụng (luyện Yoga).
5. Trường phái Nyaya - Vaisesika
Lúc đầu hai phái này độc lập nhưng có nhiều điểm tương đồng, về sau
sáp nhập làm một. Trường phái này có hai đóng góp quan trọng là nguyên tử
luận và lôgic học.
Nguyên tử luận: Theo thuyết này thì thế giới là thế giới vật chất. Thế
giới vật chất vô cùng phong phú, đa dạng, nhưng tất cả đều được tạo nên từ
bốn dạng vật chất đầu tiên là đất, nước, lửa và không khí; các dạng vật chất
này lại được tạo nên từ các nguyên tử (Anu). Nguyên tử là những hạt vật
chất bất biến, vĩnh viễn, khác nhau về khối lượng, hình dáng và tồn tại trong
không gian và thời gian. Ngoài nguyên tử còn có vô số những linh hồn cá
th
ể (Ya) mà đặc tính của chúng là ước vọng, ý chí, buồn vui, giận hờn Để
điều khiển sự kết hợp giữa các nguyên tử hay giữa nguyên tử và linh hồn cần
phải có một lực lượng thứ ba là thần Isvara.
Lôgic học: Phái này thừa nhận sự tồn tại khách quan của đối tượng
Phái này cho rằng mọi cái đều được tạo nên từ bố
n yếu tố vật chất đầu
tiên là đất, nước, lửa và không khí. Tính đa dạng của vạn vật là do cách thức
kết hợp khác nhau mà nên. Con người cũng được tạo nên từ bốn yếu tố trên,
nên không có linh hồn bất tử. Họ ví cơ thể tạo ra ý thức cũng giống như từ
gạo nấu ra rượu, nhưng rượu khác gạo ở chỗ nó có chất say. Từ quan điểm
duy vật trên những người thuộc phái Lokayta kêu gọi phải sống hết mình,
18
hưởng lac: “hãy ăn đi, hãy uống đi cho dù ngày mai sẽ chết” bởi lẽ “kẻ điên
khùng cũng như nhà hiền triết, chết đi rồi thân nát ra thành tro bụi, sẽ tan đi
hết chẳng để lại gì”.
8. Trường phái Phật giáo “Buddha”
Người sáng lập ra đạo Phật là Siddharta (Tất Đạt Đa), về sau được
gọi là Sakyamuni (Phật Thích ca mầu ni). Ông sống vào những năm (563 -
483 Tr.CN).
a. Quan niệm của Đạo Phật về
thế giới
Quan niệm về thế giới của đạo Phật được thể hiện bằng bốn tư tưởng
chính là:
+ “Vô tạo giả”: Theo đạo Phật thì mọi cái xảy ra đều có nguyên nhân
của mình, cho nên không có nguyên nhân đầu tiên và cũng không có kết quả
cuối cùng. Do đó đạo Phật không thừa nhận lực lượng sáng tạo thế giới,
không thừa nhận thần thánh. Đây là một tôn giáo vô thần.
+ “Vô ngã”:
Mọi cái trong thế giới đều là sự giả hợp của các yếu tố
do nhân duyên hợp nhau mà thành. Ngay cả con người cũng do “ngũ uẩn”
hợp lại mà nên. “ngũ uẩn” (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) hội lại thì có ta, tan
ra thì không còn ta, cho nên không có cái tôi vĩnh viễn. Thế giới “vạn pháp”
và đời người chỉ là ảo giả, do vô minh mà thành ra “có”, còn bản chất của nó
“Niết bàn”, tức là trạng thái tịch diệt, tĩnh lặng, trống rỗng, minh sáng,
không sinh, không diệt.
+ “Đạo đế”: Đạo Phật chỉ ra tám con đường diệt khổ gọi là “bát
chính đạo”, gồm: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp,
Chính mệnh, Chính tinh tiến, Chính niệm, Chính định.
Tám con đường trên có thể tóm lại trong ba con đường gọi là “Tam
học”: Giới, Định, Tuệ; được dùng để đối lại ba nguyên nhân chính gây khổ
là “Tam
độc”: Tham, Sân, Si.
Sau khi xuất hiện, đạo Phật phát triển nhanh chóng, phân chia ra thành
nhiều chi phái khác nhau. Kinh điển đạo Phật được gọi là kinh Tam tạng. Từ
thế kỷ thứ IX SCN đạo Phật bắt đầu suy tàn ở Ấn Độ và đến cuối thế kỷ thứ
20
XII thì hoàn toàn sụp đổ dưới sự tấn công của đạo Hồi, được du nhập từ Ả
Rập vào. Trước khi bị diệt vong ở Ấn Độ, đạo Phật đã kịp lan truyền sang
các nước khác: lên phía Bắc với phái Bắc tông ( Phật giáo Đại Thừa); xuống
phía Nam với phái Nam tông ( Phật giáo Tiểu Thừa). Ngày nay đạo Phật là
một trong ba tôn giáo lớn nhất thế giới với hàng trăm triệu tín đồ.IV. KẾT LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ, TRUNG ĐẠI
Ấn Độ cổ đại là một trong những nền văn minh sớm của nhân loại.
Triết học Ấn Độ cổ đại có truyền thống phát triển lâu đời với rất nhiều
trường phái triết học tôn giáo. Thông qua những trường phái này diễn ra
cuộc đấu tranh giữa các xu hướng như duy vật và duy tâm, tôn giáo và vô
thần, lạc quan và bi quan… Các trường phái này vừa cạnh tranh lẫn nhau,
vừa kế tục nhau, làm hình thành nhiều phạm trù triết h
ọc – tôn giáo có tính
đặc trưng như bản thể không, nhân quả, giải thoát…
Bắc châu Á, có hai miền khác biệt. Miền Bắc có lưu vực sông Hoàng Hà,
khí hậu lạnh lẽo, đất đai khô cằn, cây cố
i thưa thớt, ít sản vật; phía Nam có
lưu vực sông Dương Tử, khí hậu ôn hoà, đất đai màu mỡ, nhiều sản vật.
Về kinh tế - xã hội: Thời cổ đại ở Trung Quốc được bắt đầu từ triều
đại nhà Hạ ( TK XXI Tr.CN - TK XVII Tr.CN); kế đến là triều đại nhà
Thương hay là Ân - Thương( TK XVII - TK XI Tr.CN); cuối cùng là nhà
Chu (TK XI- TK III Tr.CN). Nhà Chu gồm hai giai đoạn là Tây Chu(TK XI
- TK VIII Tr.CN) và Đông Chu(TK VIII - TK III Tr.CN).
Thời Đông Chu, hay còn gọi là thời Xuân thu - Chiến quốc, là th
ời kỳ
hình thành và phát triển các trường phái triết học. Đây là thời kỳ quá độ từ
chế độ Chiếm hữu nô lệ lên chế độ Phong kiến ở Trung Quốc. Thời kỳ này
có rất nhiều biến động chính trị, chiến tranh xảy ra liên miên, các chư hầu
nổi lên tranh giành lẫn nhau và lấn át nhà Chu làm cho thể chế nhà Chu dần
dần suy tàn. Nền kinh tề nông nghiệp phát triển mạnh mẽ: đã biết dùng gia
súc để
kéo cày, công cụ bằng sắt được sử dụng rộng rãi, đã biết làm thuỷ lợi
22
một cách hệ thống. Ở thời Chiến Quốc chế độ mua bán đất đai xuất hiện,
ruộng đất đần dần tập trung trong tay một số người, họ tiến hành phát canh
thu tô làm nảy nở quan hệ sản xuất phong kiến. Năm 221 Tr.CN nhà Tần
tiêu diệt nhà Chu để thiét lập nên một quốc gia phong kiến tập quyền ở
Trung Quốc, đất nước chuyển sang thời trung đại.
Về vă
n hoá, khoa học: Trung Quốc cổ đại có một nền văn hoá phát
triển rực rỡ. Thời Xuân thu – Chiến quốc được coi là thời kỳ “bách gia chư
tử” (trăm nhà trăm thầy), “bách gia minh tranh” (trăm nhà đua tiếng). Thời
kỳ này nổi lên khoảng mười trường phái triết học lớn nhỏ khác nhau đua
thiên tai, dịch bệnh. Sĩ Bá cho rằng dự
a vào quỷ thần để giải thích biện hộ
cho hành vi của mình là tội ác lớn nhất. Tử Sản cho rằng đạo trời thì xa, đạo
người thì gần nên bàn về đạo trời là ba hoa, sáo rỗng. Bá Văn Dương giải
thích hiện tượng địa trấn năm 780 Tr.Cn theo quan điểm âm-dương. Tác
phẩm nổi tiếng thể hiện lập trường duy vật, vô thần và biện chứng chất phác
thời kỳ này là Kinh Dị
ch.
III. TRIẾT HỌC THỜi KỲ XUÂN THU - CHIẾN QUỐC
1. Âm - Dương gia
Phái Âm - Dương do Châu Diễn sáng lập vào khoảng TK III Tr.CN,
trên cơ sở thống nhất hai học thuyết: Âm - Dương và Ngũ hành với nhau.
Thuyết Âm - Dương: Dương nguyên nghĩa là ánh sáng mặt trời. Âm là
thiếu ánh sáng mặt trời. Theo nghĩa rộng thì Âm và Dương được hiểu là
những lực lượng đối lập nhau nhưng lại quy định, ràng buộc nhau, nương
tựa vào nhau, trong cái này
đã có cái kia và ngược lại như: sáng và tối, trời
và đất, nóng và lạnh, đực và cái Sự tương tác giữa hai lực Âm và Dương
24
sinh ra thế giới vạn vật. Trong Kinh Dịch có ghi rằng từ Thái cực (cân bằng,
thống nhất Âm và Dương) sinh Lưỡng nghi (Âm và Dương), từ Lưỡng nghi
sinh Tứ tượng(Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm), từ Tứ
tượng sinh Bát quái (Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài), từ Bát
quái sinh vạn vật. Âm và Dương mà hoà hợp, đạt đến đạo trung hoà thì vạn
vật sinh sôi, nảy nở; Âm và Dương mà xung khắc thì vạn vật biến đổ
i, huỷ
diệt. Như vậy thuyết Âm - Dương lấy tự nhiên để giải thích cho tự nhiên nên
nó mang màu sắc duy vật. Nhưng về sau thuyết này được dùng để giải thích
ếu xoay quanh ba vấn đề lớn là trời, mệnh và quỷ thần.
- Về trời: Khổng tử có quan niệm dao động về trời. Theo Ông, vạn vật
không ngừng biến đổi, sinh diệt theo đạo của mình. Đạo đó được ông gọi là
“thiên lý”, được hiểu là sự tương tác giữa hai lực âm và dương, là quy luật tự
nhiên, cho nên trời chỉ là giới tự nhiên, vận hành theo bốn mùa: “trời có nói
gì đâu mà bốn mùa vẫn cứ v
ận hành, trăm vật sinh ra mãi”. Nhưng đạo hay
thiên lý là cái mầu nhiệm, toàn năng, chi phối toàn thể vũ trụ mà ông không
hiểu được, cho nên ông lại ví trời như thần: “có tội với trời thì còn cầu đảo
vào đâu được nữa”.
- Về mệnh trời: Khổng Tử cho rằng vạn vật không ngừng biến hoá
theo những nguyên lý màu nhiệm, sâu kín, không ai cưỡng lại được, và ông
gọi đó là thiên mệnh “sống chết tại mệ
nh, giàu sang là ý của trời’. Nhưng
ông vẫn khuyên người ta không nên nhắm mắt theo mệnh mà mỗi người
phải tự nỗ lực làm việc mới mong có mệnh tốt.
- Về quỷ thần: Khổng Tử tin là có quỷ thần. Theo ông quỷ thần do khí
thiêng tạo thành, nó có ở mọi nơi và chứng kiến mọi việc con người làm.
Nhưng ông lại cho rằng quỷ thần không can thiệp vào công việc của con
người, cho nên khuyên người ta kính thần mà không nên g
ần gũi quỷ thần.
* Quan niệm về nhận thức: Nhận thức luận của Khổng tử chủ yếu
hướng vào lĩnh vực chính trị, đạo đức, ít quan tâm đến các vấn đề tự nhiên.
Ông đưa ra rất nhiều phạm trù đạo đức quan trọng như nhân, lễ, nghĩa, trí,
tín, dũng, cung, khoan, mẫn, huệ, trung, hiếu… Ông cho rằng năng lực nhận