Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Hồ Thị Thúy Nga
Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này tôi xin
chân thành cảm ơn quý Thầy Cô giáo trường Đại học
Kinh Tế Huế đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt
thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới c ô
giáo, Th.S Hồ Thò Thúy Nga đã tận tình trực
tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề
tài.
Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành của
mình đến các anh chò phòng Quán lý rủi ro và tập
thể cán bộ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Chi
nhánh Thừa Thiên Huế đã giúp đỡ, tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập.
Do hạn chế về mặt thời gian và kinh nghiệm bản
thân nên đề tài không tránh khỏi có những thiếu sót.
Rất mong sự thông cảm và ý kiến đóng góp của
quý thầy cô, cơ quan và các bạn để đề tài được hoàn
thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
SVTH: Ngơ Quỳnh Nga – K41 Kế tốn kiểm tốn
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Hồ Thị Thúy Nga
Huế, tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Ngô Quỳnh Nga
MỤC LỤC
- Cơng nghệ trong ngân hàng 31
TỔNG SỐ 38
2.1.7.4. Khái qt kết quả kinh doanh của ngân hàng qua 3 năm 2008, 2009,
TỔNG SỐ 38
SVTH: Ngô Quỳnh Nga – K41 Kế toán kiểm toán
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Hồ Thị Thúy Nga
TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trong các hoạt động của ngân hàng thương mại, hoạt động cho vay luôn chiếm tỷ
trọng đáng kể, mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng. Đồng thời rủi ro trong hoạt
động ngân hàng lại có xu hướng tập trung vào danh mục các khoản cho vay. Tình trạng
khó khăn về tài chính của ngân hàng thường phát sinh từ những khoản cho vay khó đòi,
từ đó dẫn đến khả năng mất thanh toán của ngân hàng do không thu hồi được vốn cho vay
để thanh toán các khoản huy động đầu vào. Để kiểm soát và ngăn ngừa rủi ro tín dụng thì
việc thiết kế một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu đối với hoạt động cho vay là vấn đề
cấp thiết, góp phần quan trọng trong việc hạn chế thất thoát vốn tín dụng của ngân hàng.
Nhận thấy được vai trò quan trọng trong việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ đối với
hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng, tôi đã mạnh dạn lựa chọn
đề tài “ Tìm hiểu công tác kiểm soát nội bộ quy trình cho vay khách hàng doanh
nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thừa Thiên Huế” để làm đề tài
cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
Đề tài này tập trung tìm hiểu quy trình cho vay khách hàng doanh nghiệp và các
hoạt động kiểm soát chủ yếu nhằm phát hiện và ngăn ngừa rủi ro phát sinh trong quá trình
cho vay tại Chi nhánh. Trên cơ sở những phân tích về tình hình thực trạng cụ thể, tôi đã
mạnh dạn đưa ra một số đánh giá, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng công
SVTH: Ngô Quỳnh Nga – K41 Kế toán kiểm toán
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Hồ Thị Thúy Nga
tác kiểm soát hoạt động cho vay tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thừa
Thiên Huế. Kết cấu của đề tài được mô tả tổng quan như sau:
- Phần I: Đặt vấn đề
- Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu (gồm có 3 chương)
Chương 1: Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ nói chung và
kiểm soát hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp nói riêng. Cụ thể: giới thiệu về
mục tiêu, nhiệm vụ và các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ, đồng thời đề cập
lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng, chiếm từ 1/2 đến 2/3 tổng thu nhập và có tính
quyết định trong sự phát triển và ổn định của các ngân hàng. Đồng thời đây cũng được
đánh giá là một trong những loại nghiệp vụ ngân hàng phức tạp và có độ rủi ro cao, do đó
muốn tồn tại và phát triển, các ngân hàng cần phải thiết lập một hệ thống kiểm soát tín
dụng chặt chẽ nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả quản lý điều hành trong hoạt
động tín dụng.
Tuy nhiên, hiện nay kiểm soát nội bộ nói chung và kiểm soát tín dụng nói riêng
đối với NHTM Việt Nam vẫn là lĩnh vực còn mới về cả phương diện lý luận cũng như
phương pháp, biện pháp triển khai trong thực tiễn; việc xây dựng khung cơ chế và một hệ
SVTH: Ngô Quỳnh Nga – K41 Kế toán kiểm toán
1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Hồ Thị Thúy Nga
thống kiểm soát nội bộ có hiệu lực hiệu quả đang còn là vấn đề nghiên cứu của các
NHTM.
Với mục tiêu trở thành Ngân hàng chất lượng – uy tín hàng đầu tại Việt Nam ,
BIDV luôn đề cao công tác kiểm soát rủi ro đặc biệt trong lĩnh vực tín dụng. Đặc biệt,
trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay, xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt
động tín dụng hiệu quả sẽ giúp Chi nhánh góp phần hạn chế những rủi ro trong kinh doanh,
đảm bảo mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững.
Nhận thức được sự cần thiết và vai trò của KSNB đối với hoạt động ngân hàng nói
chung và hoạt động cho vay nói riêng, cùng với kiến thức đã được trang bị trong quá trình
4 năm học tại nhà trường, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu công tác kiểm soát
nội bộ quy trình cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Thừa Thiên Huế” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ
- Tìm hiểu thực trạng việc kiểm soát hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp
tại chi nhánh Ngân hàng ĐT&PT Thừa Thiên Huế.
- Thông qua việc so sánh lý luận và thực tiễn, với những kiến thức được trang bị,
nêu lên một số đánh giá và đề xuất một số biện pháp để góp phần hoàn thiện công tác
Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu
Chương 1: Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm soát hoạt động
cho vay khách hàng doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay tại Chi
nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thừa Thiên Huế.
Chương 3: Các giải pháp tăng cường kiểm soát hoạt động cho vay tại Chi nhánh
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thừa Thiên Huế.
Phần III: Kết luận và kiến nghị
SVTH: Ngô Quỳnh Nga – K41 Kế toán kiểm toán
3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Hồ Thị Thúy Nga
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ KIỂM SOÁT
HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP
1.1. Những vấn đề chung về hệ thống kiểm soát nội bộ
1.1.1. Khái niệm
Hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ những chính sách và thủ tục kiểm soát do Ban
giám đốc của đơn vị thiết lập nhằm đảm bảo việc quản lý chặt chẽ và hiệu quả của các
hoạt động trong khả năng có thể. (IAS 400)
Kiểm soát nội bộ theo định nghĩa của COSO, là một quy trình chịu ảnh hưởng bởi
Hội đồng quản trị, các nhà quản lý và các nhân viên khác của một tổ chức, được thiết kế
để cung cấp một sự bảo đảm hợp lý trong việc thực hiện các mục tiêu sau:
- Hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động
- Tính chất đáng tin cậy của báo cáo tài chính
- Sự tuân thủ các luật lệ và quy định hiện hành
Còn theo Liên đoàn kế toán Quốc tế (IFAC), hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ
thống chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốn mục tiêu sau: bảo vệ tài sản
của đơn vị; bảo đảm độ tin cậy của các thông tin; bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp
lý và bảo đảm hiệu quả của hoạt động.
b. Nhiệm vụ:
- Ngăn ngừa các sai phạm trong hệ thống xử lý nghiệp vụ
- Phát hiện kịp thời các sai phạm trong quá trình xử lý nghiệp vụ
- Bảo vệ đơn vị trước những thất thoát có thể tránh
- Đảm bảo việc chấp hành chính sách kinh doanh
1.1.3. Sự cần thiết của hệ thống kiểm soát nội bộ
Vấn đề KSNB có ý nghĩa quan trọng đối với hầu hết các đơn vị. Ở các đơn vị nhỏ
thì tổ chức quản lý theo kiểu gia đình; ở các đơn vị có quy mô lớn, quyền hạn càng phân
chia cho nhiều cấp, các quan hệ giữa các bộ phận chức năng và các nhân viên càng trở
SVTH: Ngô Quỳnh Nga – K41 Kế toán kiểm toán
5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Hồ Thị Thúy Nga
nên phức tạp, quá trình truyền đạt và thu thập thông tin phản hồi càng trở nên khó khăn,
tài sản lại càng phân tán ở nhiều địa điểm và trong nhiều hoạt động khác nhau… do đó
đòi hỏi phải có một hệ thống KSNB hữu hiệu.
Trong một tổ chức bất kỳ, sự thống nhất và xung đột quyền lợi chung - quyền lợi
riêng của người sử dụng lao động với người lao động luôn tồn tại song hành. Nếu không
có hệ thống KSNB, làm thế nào để người lao động không vì quyền lợi riêng của mình mà
làm những điều thiệt hại đến lợi ích chung của toàn tổ chức, của người sử dụng lao động?
Làm sao quản lý được các rủi ro? Làm thế nào có thể phân quyền, ủy nhiệm, giao việc
cho cấp dưới một cách chính xác, khoa học chứ không phải chỉ dựa trên sự tin tưởng cảm
tính?
Một hệ thống KSNB vững mạnh sẽ đem lại cho tổ chức các lợi ích như: Giảm bớt
nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong sản xuất kinh doanh, chẳng hạn như sai sót vô tình gây thiệt
hại, các rủi ro làm chậm kế hoạch, tăng giá thành, giảm chất lượng sản phẩm Bảo vệ tài
sản khỏi bị hư hỏng, mất mát bởi hao hụt, gian lận, lừa gạt, trộm cắp. Đảm bảo tính chính
xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính. Đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội
quy, quy chế, quy trình hoạt động của tổ chức chức cũng như các quy định của luật pháp.
Đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu
đặt ra. Bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, cổ đông và gây dựng lòng tin đối với họ trong
đào tạo và kinh nghiệm phù hợp với nhiệm vụ được giao, và phải giám sát, huấn luyện họ
đầy đủ và thường xuyên.
Hội đồng quản trị và Ủy ban kiểm toán
Hội đồng Quản trị và Ủy ban kiểm toán là những thành viên có kinh nghiệm, uy tín
trong DN. Ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị, gồm những thành viên trong
và ngoài Hội đồng quản trị nhưng không tham gia vào việc điều hành DN.
Ủy ban kiểm toán có thể có những đóng góp quan trọng cho việc thực hiện các
mục tiêu của DN thông qua việc kiểm tra các hoạt động tuân thủ luật pháp, giám sát việc
lập BCTC. Do chức năng quan trọng như trên nên sự hữu hiệu của Hội đồng quản trị và
của Ủy ban kiểm toán có ảnh hưởng quan trọng đến môi trường kiểm soát. Các nhân tố
được xem xét để đánh giá sự hữu hiệu của Hội đồng quản trị hoặc Ủy ban kiểm toán gồm
SVTH: Ngô Quỳnh Nga – K41 Kế toán kiểm toán
7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Hồ Thị Thúy Nga
mức độ độc lập; kinh nghiệm và uy tín của các thành viên trong Hội đồng quản trị hoặc
Ủy ban kiểm toán; và các mối quan hệ của họ với bộ phận KSNB và kiểm toán độc lập.
Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý.
Triết lý quản lý thể hiện qua quan điểm và nhận thức của người quản lý, phong
cách điều hành lại thể hiện qua cá tính, tư cách và thái độ của họ khi điều hành đơn vị. Sự
khác biệt về triết lý quản lý và phong cách điều hành có thể ảnh hưởng lớn đến môi
trường kiểm soát và tác động đến việc thực hiện mục tiêu của đơn vị. Triết lý quản lý và
phong cách điều hành cũng được phản ánh trong cách thức nhà quản lý: cách thức tiếp
xúc và trao đổi trực tiếp với nhân viên hay cách thức điều hành công việc theo một trật tự
đã được xác định trong cơ cấu tổ chức của đơn vị.
Cơ cấu tổ chức.
Cơ cấu tổ chức thực chất là sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn giữa các bộ
phận trong đơn vị, nó góp phần rất lớn trong việc đạt được các mục tiêu. Điều này có
nghĩa là một cơ cấu tổ chức phù hợp sẽ là cơ sở cho việc lập kế hoạch, điều hành, kiểm
soát và giám sát các hoạt động của đơn vị. Tuy nhiên, điều này sẽ tùy thuộc vào quy mô
và tính chất hoạt động của đơn vị.
đánh giá những rủi ro trong phạm vi hoạt động kinh doanh của đơn vị, vì trong những vấn
đề kế toán tài chính và lập báo cáo có sự khác biệt rất lớn giữa các ngành (công nghiệp,
ngân hàng, bảo hiểm…), cũng như giữa các đơn vị cùng ngành.
1.1.4.3. Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những chính sách và thủ tục để đảm bảo cho các chỉ thị
của nhà quản lý được thực hiện. Các chính sách và thủ tục này giúp thực thi những hành
động với mục đích chính là giúp kiểm soát các rủi ro mà đơn vị đang hay có thể gặp phải.
Có nhiều loại hoạt động kiểm soát khác nhau có thể được thực hiện. Những hoạt động
kiểm soát chủ yếu trong đơn vị gồm:
Phân chia trách nhiệm đầy đủ:
Phân chia trách nhiệm là không cho phép một thành viên nào được giải quyết mọi
mặt của nghiệp vụ từ khi hình thành cho đến khi kết thúc.
SVTH: Ngô Quỳnh Nga – K41 Kế toán kiểm toán
9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Hồ Thị Thúy Nga
Mục đích phân chia trách nhiệm nhằm để các nhân viên kiểm soát lẫn nhau, nếu có
sai sót xảy ra sẽ được phát hiện nhanh chóng, đồng thời giảm cơ hội cho bất kỳ thành viên
nào trong quá trình thực hiện nhiệm vụ có thể gây ra và giấu đi sai phạm của mình.
Kiểm soát quá trình xử lý thông tin và các nghiệp vụ:
Để thông tin đáng tin cậy cần phải thực hiện nhiều hoạt động kiểm soát nhằm kiểm
tra tính xác thực, đầy đủ và việc phê chuẩn các nghiệp vụ. Khi kiểm soát quá trình xử lý
thông tin, cần đảm bảo rằng:
Phải có một hệ thống chứng từ, sổ sách tốt: Cần chú ý đến các vấn đề sau:
- Các chứng từ phải được đánh số liên tục trước khi sử dụng để có thể kiểm soát,
tránh thất lạc và dễ dàng truy cập khi cần thiết.
- Chứng từ cần được lập ngay khi nghiệp vụ vừa xảy ra, hoặc càng sớm càng tốt.
- Cần thiết kế đơn giản, rõ ràng dễ hiểu và có thể sử dụng cho nhiều công dụng.
- Tổ chức luân chuyển chứng từ khoa học, kịp thời: chứng từ chỉ đi qua các bộ phận
có liên quan đến nghiệp vụ, được xử lý nhanh chóng để chuyển cho bộ phận tiếp theo.
- Sổ sách cần phải đóng chắc chắn, đánh số trang, quy định nguyên tắc ghi chép, có
Soát xét lại việc thực hiện:
Hoạt động này chính là xem xét lại những việc đã được thực hiện bằng cách so
sánh số thực tế với số liệu kế hoạch, dự toán, kỳ trước, và các dữ liệu khác có liên quan
như những thông tin không có tính chất tài chính, đồng thời còn xem xét trong mối liên hệ
với tổng thể để đánh giá quá trình thực hiện. Soát xét lại quá trình thực hiện giúp nhà
quản lý biết được một cách tổng quát là mọi thành viên có theo đuổi mục tiêu của đơn vị
một cách hữu hiệu và hiệu quả hay không. Nhờ thường xuyên nghiên cứu về những vấn
đề bất thường xảy ra trong quá trình thực hiện, nhà quản lý có thể thay đổi kịp thời chiến
lược hoặc kế hoạch hay những điều chỉnh thích hợp.
1.1.4.4. Thông tin và truyền thông
SVTH: Ngô Quỳnh Nga – K41 Kế toán kiểm toán
11
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Hồ Thị Thúy Nga
Thông tin và truyền thông có nghĩa là các kế hoạch, môi trường kiểm soát, rủi ro,
các hoạt động kiểm soát và các việc thực hiện chúng phải được báo cáo lên cấp trên,
chuyển từ trên xuống dưới, ngang hàng, ngang cấp trong một DN.
Thông tin và truyền thông gồm hai thành phần gắn kết với nhau. Đó là hệ thống thu
nhận, xử lý, ghi chép thông tin và hệ thống báo cáo thông tin trong nội bộ và bên ngoài.
Thông tin:
Thông tin cần thiết cho mọi cấp trong DN để sản xuất kinh doanh và thỏa mãn các
mục tiêu về hoạt động kinh doanh, BCTC và tính tuân thủ. Mọi thông tin được sử dụng
trong DN có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Hệ thống thông tin:
Thông tin được thu nhập, xử lý bởi hệ thống thông tin. Thông tin có thể chính thức
hoặc không chính thức. Hệ thống thông tin không chỉ nhận dạng, nắm bắt các thông tin
cần thiết về tài chính, phi tài chính mà nó còn đánh giá và báo cáo về những thông tin đó
theo một trình tự để việc quản lý các hoạt động của DN có hiệu quả.
Chất lượng thông tin:
Chất lượng thông tin ảnh hưởng đến khả năng của nhà quản lý để ra quyết định và
kiểm soát hoạt động của DN. Chất lượng thông tin chỉ ra sự đầy đủ các dữ liệu thích hợp
Song song với phương tiện truyền thông từ trên xuống, các nhà quản lý cũng cần phải
lắng nghe các thông tin phản hồi từ dưới lên để hoạt động của DN đạt hiệu quả cao.
Truyền thông bên ngoài DN:
Việc truyền thông không chỉ cần thiết bên trong mà còn cả bên ngoài DN. Cổ
đông, người phân tích tài chính, người lập pháp cung cấp những yêu cầu của họ và họ có
thể hiểu được những khó khăn mà DN phải đối phó. Khách hàng và người cung cấp có
thể cung cấp những thông tin quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh, làm cho DN
có khả năng đáp ứng những nhu cầu ngày càng phát triển của thị trường.
1.1.4.5. Hệ thống giám sát
Giám sát là bộ phận cuối cùng của KSNB, là một quá trình đánh giá chất lượng
của hệ thống KSNB trong suốt thời kì hoạt động để có các điều chỉnh và cải tiến thích
SVTH: Ngô Quỳnh Nga – K41 Kế toán kiểm toán
13
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Hồ Thị Thúy Nga
hợp. Giám sát có một vai trò quan trọng, nó giúp KSNB luôn duy trì sự hữu hiệu qua các
thời kì khác nhau. Quá trình giám sát được thực hiện bởi những người có trách nhiệm
nhằm đánh giá việc thiết lập và thực hiện các thủ tục kiểm soát. Giám sát được thực hiện
ở mọi hoạt động trong DN và theo hai cách: Giám sát thường xuyên và giám sát định kì.
Giám sát thường xuyên:
Giám sát thường xuyên diễn ra ngay trong quá trình hoạt động của DN, do các nhà
quản lý và nhân viên thực hiện trách nhiệm của mình. Giám sát thường xuyên thường
được áp dụng cho những yếu tố quan trọng trong KSNB. Giám sát để đánh giá việc thực
hiện các hoạt động thường xuyên của nhân viên nhằm xem xét hệ thống KSNB có nên
tiếp tục thực hiện chức năng nữa hay không.
Đánh giá định kì
Đánh giá định kì được thực hiện thông qua chức năng KSNB và kiểm toán độc lập.
Qua đó phát hiện kịp thời những yếu kém trong hệ thống và đưa ra biện pháp hoàn thiện.
Phạm vi và tần suất giám sát phụ thuộc vào mức độ rủi ro.
Việc đánh giá hệ thống KSNB tự bản thân nó cũng là một quy trình. Người đánh
giá phải am hiểu mọi hoạt động của hệ thống KSNB, phải xác định được làm thế nào để
Theo TS Nguyễn Ninh Kiều (2007), các khái niệm cơ bản trong cho vay khách
hàng doanh nghiệp bao gồm:
1. Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách
hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả
thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
2. Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận
vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng
3. Kỳ hạn trả nợ là các khoảng thời gian trong thời hạn cho vay đã được thoả thuận
giữa tổ chức tín dụng và khách hàng mà tại cuối mỗi khoảng thời gian đó khách hàng phải
trả một phần hoặc toàn bộ vốn vay cho tổ chức tín dụng.
SVTH: Ngô Quỳnh Nga – K41 Kế toán kiểm toán
15
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Hồ Thị Thúy Nga
4. Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ là việc tổ chức tín dụng chấp thuận thay đổi kỳ hạn trả
nợ gốc và/hoặc lãi vốn vay trong phạm vi thời hạncho vay đã thoả thuận trước đó trong
hợp đồng tín dụng, mà kỳ hạn trả nợ cuối cùng không thay đổi.
5. Gia hạn nợ vay là việc tổ chức tín dụng chấp thuận kéo dài thêm một khoảng
thời gian trả nợ gốc và/hoặc lãi vốn vay vượt quá thời hạn cho vay đã thoả thuận trước đó
trong hợp đồng tín dụng.
6. Dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ hoặc dự án đầu tư,
phương án phục vụ đời sống là một tập hợp những đề xuất; trong đó có nhu cầu vốn, vay
vốn, cách thức sử dụng vốn và cách thức trả nợ vay trong một khoảng thời gian xác định.
1.2.1.2. Nguyên tắc cho vay
NHTM là các tổ chức kinh doanh tiền tệ thực hiện hoạt động “ đi vay để cho vay”.
Hơn thế nữa, các ngân hàng phải trả lãi khoản vốn mà mình huy động.
Bởi vậy, khi thực hiện hoạt động cấp tín dụng các ngân hàng phải luôn đảm bảo
các nguyên tắc nhất định, đây cũng chính là sự đảm bảo cho quá trình tồn tại và phát triển
của ngân hàng.Các nguyên tắc đó là:
Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng, chẳng hạn như giấy
phép thành lập, quyết định bổ nhiệm giám đốc, điều lệ hoạt động
- Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ hoặc dự án đâu tư
- Báo cáo tài chính của thời kỳ gần nhất
- Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay
- Các giấy tờ liên quan khác nếu cần thiết
1.2.1.3.2. Phân tích tín dụng
Phân tích tín dụng là phân tích khả năng tín dụng hiện tại và tiềm tàng của khách
hàng về sử dụng vốn tín dụng, khả năng hoàn trả và khả năng thu hồi vốn vay cả gốc và
lãi. Mục tiêu của phân tích tín dụng là tìm kiếm những tình huống có thể dẫn đến rủi ro
cho ngân hàng,tiên lượng khả năng kiểm soát những loại rủi ro đó và dự kiến các biện
pháp phòng ngừa và hạn chế thiệt hại có thê xảy ra. Mặt khác, phân tích tín dụng còn
quan tâm đến việc kiểm tra tính chân thực của hồ sơ vay vốn mà khách hàng cung cấp, từ
đó nhận định về thái độ trả nợ của khách hàng làm cơ sở quyết định cho vay.
1.2.1.3.3. Quyết định và ký hợp đồng tín dụng
SVTH: Ngô Quỳnh Nga – K41 Kế toán kiểm toán
17
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Hồ Thị Thúy Nga
Quyết định tín dụng là quyết định cho vay hoặc từ chối đối với một hồ sơ vay vốn
của khách hàng. Đây là khâu cực kỳ quan trọng trong quy trình tín dụng vì nó ảnh hưởng
rất lớn đến uy tín và hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng. Một điều không may là
khâu quan trọng này là khâu khó xử lý nhất và thường dễ phạm phải sai lầm nhất. Nhằm
hạn chế sai lầm, trong khâu quyết định cho vay ngân hàng thường chú trọng hai vấn đề:
(1) Thu thập và xử lý thông tin một cách đầy đủ và chính xác làm cơ sở để ra quyết định,
(2) trao quyền quyết định cho một hội đông tín dụng hoặc những người có năng lực phân
tích và phán quyết.
a) Cơ sở để ra quyết định tín dụng
Cơ sở để ra quyết định tín dụng trước hết dựa vào thông tin thu thập và xử lý hồ sơ
tín dụng do giai đoạn trước chuyển sang. Kế đến, dựa vào những thông tin khác hoặc
thông tin cập nhật khác có liên quan, thông tin đa dạng từ nhiều nguồn khác nhau đã được
được sử dụng đúng mục đích đã cam kết, kiểm soát rủi ro tín dụng, phát hiện và chấn
chỉnh kịp thời những sai phạm có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ sau này. Các
phương pháp giám sát tín dụng có thể áp dụng bao gồm:
• Giám sát hoạt động tài khoản của khách hàng tại ngân hàng
• Phân tích các báo cáo tài chính của khách hàng theo định kỳ
• Giám sát khách hàng thông qua việc trả lãi định kỳ
• Viếng thăm và kiểm soát địa điểm hoạt đông sản xuất kinh doanh hoặc nơi cư
ngụ của khách hàng đứng tên vay vốn
• Kiểm tra các hình thức bảo đảm tiền vay
• Giám sát hoạt động khách hàng thông qua mối quan hệ với khách hàng khác
• Giám sát khách hàng thông qua những thông tin thu thập khác
1.2.1.3.6. Thanh lý hợp đồng tín dụng
Thanh lý hợp đồng tín dụng có thể xảy ra do khách hàng vi phạm hợp đồng hoặc
do khoản vay đã đến hạn. Đây là khâu kết thúc của quy trình tín dụng. Khâu này gồm có
các việc quan trọng cần xử lý: (1) thu nợ cả gốc và lãi; (2) tái xét hợp đồng tín dụng; (3)
thanh lý hợp đồng tín dụng
SVTH: Ngô Quỳnh Nga – K41 Kế toán kiểm toán
19
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Hồ Thị Thúy Nga
a) Thu nợ
Ngân hàng tiến hành thu nợ khách hàng theo đúng những điều khoản đã cam kết
trong hợp đồng tín dụng.Tuỳ theo tính chất của khoản vay và tình hình tài chính của
khách hàng, hai bên có thể thoả thuận và lựa chọn một trong những hình thức thu nợ sau:
• Thu nợ gốc và lãi một lần khi đáo hạn
• Thu nợ gốc một lần khi đáo hạn và thu lãi theo định kỳ
• Thu nợ gốc và lãi theo nhiều kỳ hạn
Nếu đến hạn trả nợ mà khách hàng không có khả năng trả nợ thì ngân hàng có thể
xem xét cho gia hạn nợ hoặc chuyển sang nợ quá hạn để sau này có biện pháp xử lý thích
hợp nhằm đảm bảo thu hồi nợ.
b) Tái xét hợp đồng tín dụng