Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Điều 1 - Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam ghi rõ: “Mụi trường bao
gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với
nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại,
phát triển của con người và thiờn nhiờn”.
Qua định nghĩa trên ta thấy được môi trường có vai trò rất quan trọng
và ảnh hưởng trực tiếp tới con người. Vì vậy, bảo vệ môi trường là việc được
toàn cầu quan tâm và là vấn đề cấp bách. Ngày nay, việc phát triển kinh tế và
sự gia tăng dân số đã làm chất lượng môi trường bị đe dọa nghiêm trọng, đòi
hỏi chúng ta phải có những biện pháp bảo vệ môi trường cụ thể và kịp thời.
Bảo vệ môi trường không chỉ là việc của các cơ quan chức năng mà là trách
nhiệm của toàn thể cộng đồng. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống
của chúng ta và gìn giữ cho sự phát triển bền vững của các thế hệ tương lai.
Một trong những vấn đề nan giải nhất của Việt Nam hiện nay là công
tác quản lý rác thải. Dân số tăng nhanh, tập trung phần lớn tại các đô thị dẫn
đến việc đô thị hóa tăng mạnh, nhu cầu của người dân được cải thiện cũng
đồng nghĩa với lượng rác thải ngày càng tăng và thay đổi liên tục. Trong quá
trình sinh hoạt, một khối lượng chất thải khổng lồ chưa qua xử lý hoặc xử lý
thô sơ được con người ném vào môi trường gây ô nhiễm. Vì vậy, phát triển
kinh tế, văn hóa - xã hội luôn đi đôi với việc quan tâm tới vấn đề rác thải, góp
phần cải thiện môi trường sống trong sạch, lành mạnh.
Cùng với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nước, thành
phố Múng Cỏi cũng đang phát triển mãnh mẽ, sự chuyển mình đó tạo nhiều
công ăn việc làm, đời sống người dân được nâng cao. Nhưng bên cạnh mặt
tích cực đó xuất hiện nhiều vấn đề đáng quan tâm như: Nước thải chưa qua xử
lý, khói bụi, rác thải nói chung… Trong đó, phải kể đến là lượng rác thải phát
sinh ngày càng nhiều nếu không có biện pháp thu gom, xử lý sẽ gây ô nhiễm
môi trường ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống, sức khỏe cộng đồng, làm mất
cảnh quan văn hóa đô thị và nông thôn.
2.1.1. Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ môi trường 2005 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, chính thức có hiệu
lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2006.
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường.
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của Chính phủ về việc
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày
09/8/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Bảo vệ Môi trường.
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản
lý chất thải rắn.
2.1.2. Cơ sở lí luận
2.1.2.1. Khái niệm về chất thải
Chất thải là sản phẩm được phát sinh ra trong quá trình sinh hoạt của
con người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, du lịch, giao
thông, sinh hoạt tại các gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hang, khách
sạn. Ngoài ra còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các
phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy… Chất thải kim loại, hóa chất
và các loại vật liệu khác.[5]
2.1.2.2. Khái niệm về chất thải rắn
Chất thải rắn được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động
của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu
dụng hay khi không muốn dùng nữa .[6]
3
2.1.2.3. Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân,
hộ gia đình, nơi công cộng.[13]
Ví dụ như: Thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, gạch ngói, đất
đá, gỗ, kim loại, cao su, chất dẻo, các loại cành cây, lá cây, vải, giấy, rơm rạ,
Chất thải rắn sinh hoạt sinh ra từ hoạt động hàng ngày của con người.
Rác sinh hoạt thải ra ở mọi nơi mọi lúc trong phạm vi thành phố hoặc khu dân
cư, từ các hộ gia đình, khu thương mại, chợ và các tụ điểm buôn bán, nhà
hàng, khách sạn, công viên, khu vui chơi giải trí, các viện nghiên cứu, trường
học, các cơ quan nhà nước…
Cuộc cách mạng về công nghiệp đã mang lại nhiều lợi ích cho con
người như nâng cao mức sống, công tác phục vụ ngày càng tốt hơn, nhưng
đồng thời cũng sinh ra một lượng chất thải rắn khá lớn. Những năm đầu của
thập kỷ 80, chất thải rắn công nghiệp đặc biệt là chất thải độc hại đã trở thành
vấn đề môi trường đang được quan tâm hàng đầu. Cho đến những năm 1990,
khi các thông tin khoa học đang trình bày các vấn đề có thể xảy ra thì chất
thải rắn đã liên tục gây ảnh hưởng lớn đến môi trường và nhiều nước đã phải
đầu tư không nhỏ để giải quyết vấn đề này bằng các chương trình môi trường
đặc biệt .
Nguyên vật liệu
Chế biến
Thu hồi và tái chế Chế biến lần 2
Tiêu thụ
Thải bỏ
Chất thải
Chất thải
5
* Phân loại chất thải rắn
Các loại chất thải rắn thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân loại
theo nhiều cách [6]
- Theo vị trí hình thành: người ta phân biệt rác hay chất thải rắn trong
nhà, ngoài nhà, trên đường phố, chợ…
- Theo thành phần hóa học và vật lý: người ta phân biệt theo các thành
phần hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại, da ,
giẻ vụn, cao su, chất dẻo…
- Môi trường đất
Rác thải sinh hoạt nằm rải rác khắp nơi không được thu gom sẽ lưu giữ
lại trong đất, một số loại chất thải khó phân hủy như túi nilon, vỏ lon,
hydrocacbon làm thay đổi cơ cấu và ảnh hưởng tới hệ vi sinh vật đất.
Nhiều loại chất thải như xỉ than, vôi vữa… làm cho đất bị đóng cứng,
khả năng thấm nước, hút nước kém, đất bị thoái hóa.
- Môi trường nước
Lượng rác thải rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mưa các chất
thải này sẽ theo dòng nước chảy và hòa lẫn trong nước, qua cống rãnh, ra ao
hồ, sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nước mặt và các thủy vực. Khi các thủy
vực bị ô nhiễm hoặc chứa nhiều rỏc thỡ cú nguy cơ ảnh hưởng đến các loài
thủy sinh vật, do hàm lượng oxy hòa tan trong nước giảm, khả năng nhận ánh
sáng của các tầng nước kém, dẫn đến ảnh hưởng tới khả năng quang hợp của
thực vật thủy sinh và làm giảm sinh khối của các thủy vực.
Ở cỏc bói chụn lấp rác thải chất ô nhiễm trong nước rác là tác nhân gây
ô nhiễm nguồn nước ngầm trong khu vực và các nguồn nước ao hồ, sông suối
lân cận. Tại các bãi rác, nếu không tạo được lớp phủ bảo đảm hạn chế tối đa
nước mưa thấm qua thì cũng có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt.
- Môi trường không khí
Các trạm hoặc bãi trung chuyển rác xen kẽ với khu vực dân cư là nguồn
gây ô nhiễm môi trường không khí do mùi hôi từ rác, bụi cuốn lên khi xỳc rỏc,
bụi khói, tiếng ồn và các khí thải độc hại từ các xe thu gom, vận chuyển rác.
Tại cỏc bói chụn lấp chất thải rắn thì mùi hôi thối, mựi khớ metan, các
khí độc hại từ các chất thải nguy hại gây ô nhiễm không khí.
* Tác hại của rác thải sinh hoạt đối với sức khỏe con người
Tác hại của rác thải lên sức khỏe con người thông qua ảnh hưởng của
chúng lờn cỏc thành phần môi trường. Môi trường bị ô nhiễm tất yếu sẽ tác
động đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn.
Tại các bãi rác, nếu không áp dụng theo đúng các quy định về kỹ thuật
chôn lấp và xử lý thì bãi rác trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống
6 lần, cụ thể ở các nước phát triển là 2,8kg/người/ngày; ở các nước đang phát triển
là 0,5 kg/người/ngày. Chi phí quản lý cho rác thải ở các nước đang phát triển có
thể lên đến 50 % ngân sách hàng năm. Cơ sở hạ tầng tiêu huỷ an toàn rác thải
8
thường rất thiếu thốn. Khoảng 30% - 60% rác thải đô thị không được cung cấp
dịch vụ thu gom.[1]
Tiêu chuẩn tạo rác trung bình theo đầu người đối với từng loại chất thải
rắn mang tính đặc thù của từng địa phương và phụ thuộc và mức sống, văn
minh dân cư ở mỗi khu vực. Tuy nhiên, dù ở khu vực nào cũng có xu hướng
chung của thế giới là mức sống càng cao thì lượng chất thải phát sinh càng
nhiều. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB,2004), tại các thành phố
lớn như New York tỷ lệ phát sinh chất thải rắn là 1,8 kg/người/ngày, Singapo,
Hồng Kụng là 0,8-10 kg/người/ngày[1]
Bảng 2.1: Lượng phát sinh chất thải rắn ở một số nước
Tên nước
Dân số đô thị hiện nay
(% tổng số)
LPSCTRĐT hiện nay
(kg/người/ngày)
Nước thu nhập thấp 15,92 0,40
Nepal 13,7 0,50
Bangladesh 18,3 0,49
Việt Nam 20,8 0,55
Ấn Độ 26,8 0,46
Nước thu nhập trung bình 40,8 0,79
Indonesia 35,4 0,76
Philippines 54,0 0,52
Thái Lan 20,0 1,10
Malaysia 53,7 0,81
Nước có thu nhập cao 86,3 1,39
về tỷ lệ, cao nhất không phải là thành phần hữu cơ như các nước khác mà là
thành phần chất thải vô cơ (giấy các loại chiếm đến 38%), điều này cũng dể lý
giải đối với nhịp điệu phát triển và tập quán của người Mỹ là việc thường
xuyên sử dụng các loại đồ hộp, thực phẩm ăn sẵn cựng cỏc vật liệu có nguồn
gốc vô cơ. Trong thành phần rác thải sinh hoạt thực phẩm chỉ chiếm 10,4% và
tỷ lệ các loại kim loại cũng khá cao là 7,7%. Như vậy trong rác thải sinh hoạt
Mỹ các loại có thể qua phân loại, xử lý để tái sinh sử dụng chiếm tỷ lệ khá
cao (các loại khó hoặc không phân giải được như kim loại, thuỷ tinh, gốm, sứ)
chiếm khoảng hơn 20%.[4]
Hiện nay có rất nhiều các phương pháp khác nhau để xử lý rác thải. Tỷ
lệ rác thải được xử lý theo phương pháp khác nhau của một số nước trên thế
giới được giới thiệu ở bảng sau:
10
Bảng 2.2: Tỷ lệ CTR xử lí bằng các phương pháp khác nhau ở một số nước
ĐVT: %
STT Nước Tái chế Chế biến phân vi sinh Chôn lấp Đốt
1 Canađa 10 2 80 8
2 Đan Mạch 19 4 29 48
3 Phần Lan 15 0 83 2
4 Pháp 3 1 54 42
5 Đức 16 2 46 36
6 Ý 3 3 74 20
7 Thụy Điển 16 34 47 3
8 Thụy Sĩ 22 2 17 59
9 Mỹ 15 2 67 16
(Nguồn: Đỗ Thị Lan và cs, 2007)[3].
2.1.3.2. Hiện trạng quản lý rác thải tại Việt Nam
Trong 20 năm qua, Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể về
phát triển kinh tế - xã hội. Từ năm 2005 đến nay, GDP liên tục tăng, bình
quân đạt trên 7%/năm. Năm 2005, tốc độ này đạt 8,43%, là mức tăng trưởng
để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị.
Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị
đặc biệt và đô thị loại I tương đối cao (0,84 - 0,96kg/người/ngày); đô thị loại
II và loại III có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là
tương đương nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát
sinh CTRSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65
kg/người/ngày.
Nhìn chung, lượng chất thải rắn đô thị phụ thuộc vào 2 yếu tố chính: sự
phát triển của nền kinh tế và dân số. Theo thống kê mức chất thải rắn ở các
nước đang phát triển trung bình là 0,3 kg/ người/ ngày. Tại các đô thị ở nước
ta, trung bình mỗi ngày mỗi người thải ra khoảng 0,5 kg - 0,8 kg rác. Khối
lượng rác tăng theo sự gia tăng của dân số. Rác tồn đọng trong khu tập thể,
trong phố xá phụ thuộc vào yếu tố như: địa hình, thời tiết, hoạt động của
người thu gom… Rất khó xác định thành phần CTR đô thị, vì trước khi tập
trung đến bãi rác đã được thu gom sơ bộ. Tuy thành phần CTR ở các đô thị là
khác nhau nhưng đều có chung 2 đặc điểm.[2]
12
- Thành phần rác thải hữu cơ khú phõn huỷ, thực phẩm hư hỏng, lá cây,
cỏ trung bình chiếm khoảng 30 - 60 %, đây là điều kiện tốt để chôn, ủ hay chế
biến CTR thành phân hữu cơ.
- Thành phần đất, cát, vật liệu xây dựng và các chất vô cơ khác trung
bình chiếm khoảng 20 - 40%.
Bên cạnh đó, thành phần và khối lượng CTR thay đổi theo các yếu tố
sau đây: điều kiện kinh tế - xã hội, thời tiết trong năm, thói quen và thái độ
của xã hội, quản lý và chế biến trong sản xuất, chính sách của nhà nước về
chất thải [2].
Theo báo cáo môi trường quốc gia, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đã tăng
từ 0,9 kg lên 1,2 kg/người/ngày ở các thành phố lớn, từ 0,5 kg lên 0,65
kg/người ngày tại các đô thị nhỏ. Dự báo, tổng lượng chất thải rắn phát sinh
có thể tăng lên đến 25 triệu tấn vào năm 2010, 35 triệu tấn vào năm 2015, 45
20 người, so với các nước trong khu vực ASEAN như: Thái Lan là 30 người,
Campuchia là 55 người, Malaysia là 100 người, Singapore là 330 người. Đối
với các nước phát triển thì con số này còn cao hơn nhiêu, ví dụ như: Canada
là 155 người, Anh là 204 người. Ngoài ra do hệ thống chính sách, pháp luật
về bảo vệ môi trường vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa tương thích kịp
thời với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Các quy định về thu phí bảo
vệ môi trường đối với nước thải, chất thải rắn mặc dù đã được Chính phủ ban
hành song còn mang tính hình thức, số kinh phí thu được mới chỉ bằng 1/10
so với tổng kinh phí mà Nhà nước phải chi cho các dịch vụ thu gom và xử lý
chất thải. Các chế tài xử phạt vi phạm hành chính cũn quỏ thấp, chưa đủ sức
răn đe, phòng ngừa. Bên cạnh đú, cỏc cơ quan chức năng còn lúng túng trong
xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường do đó công tác
quản lý rác thải còn nhiều lỏng lẻo.[20]
2.1.3.3. Tình hình quản lý rác thải tại tỉnh Quảng Ninh
Đến nay, các loại chất thải rắn chưa được phân loại nên tỷ lệ các thành
phần chưa thể thống kê được. Tuy nhiên, có thể đánh giá dựa vào đặc điểm
của từng khu vực như sau: Thành phố Hạ Long, Múng Cỏi là khu dân cư và
du lịch phát triển nên chất thải chủ yếu là chất thải sinh hoạt, vật liệu xây
dựng, chất thải công nghiệp chiếm tỷ lệ rất ít. Tại thị xã Cẩm Phả, Uụng Bớ,
Đụng Triều có hoạt động khai thác than nên chất thải rắn chủ yếu là chất thải
sinh hoạt, chất thải mỏ chiếm tỷ trọng tương đối lớn.
14
Việc thu gom, vận chuyển chất thải sinh hoạt chỉ tập trung tại các trung
tâm của huyện, thị xã và thành phố do Công ty môi trường đô thị địa phương
đảm nhiệm. Theo thống kê, tỷ lệ thu gom chất thải tại đô thị đạt khoảng 60 –
70%, tại nông thôn đạt 40 – 50%. Việc thu gom chất thải chưa được thực hiện
ở cỏc vựng sõu, vựng xa, chất thải tại đây chủ yếu do dân cư tập trung tại
vườn rồi đốt hoặc ủ làm phân bón gây ô nhiễm môi trường.
Theo thống kê, trung bình mỗi ngày tại khu vực vịnh Hạ Long phát sinh 5m
3
và ảnh hưởng tới chất lượng đất, nguồn nước của dân cư.
Chất thải công nghiệp, chủ yếu là bãi thải than. Từ năm 1955 đến 2003
các mỏ đó búc khoảng 853,415 triệu m
3
đất đá, trong đó năm 1995 – 2004 là
475 triệu m
3
, năm 2005 là 150 triệu m
3
đất đá. Khối lượng đất đá khổng lồ
này gây ảnh hưởng xấu đến cảnh quan môi trường, đặc biệt là các bãi thải
nằm dọc quốc lộ 18A như bãi thải than Cọc 6, Đèo Nai, không chỉ gây ô
nhiễm môi trường nước mặt và nước biển ven bờ vịnh Hạ Long mà còn ảnh
hưởng nghiêm trọng đến môi trường hệ sinh thái.
Tỷ lệ các đơn vị y tế được trang bị lò đốt chất thải còn thấp, khoảng dưới
40%. Chất thải y tế nguy hại mặc dù đã được xử lý nhưng chưa triệt để do gặp
khó khăn trong vận hành. Do đó, ô nhiễm môi trường do chất thải y tế đến sức
khoẻ cộng đồng là điều không thể tránh khỏi.
16
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Rác thải sinh hoạt tại thành phố Múng Cái – tỉnh Quảng Ninh.
- Công tác thu gom và quản lý rác thải sinh hoạt của thành phố Múng
Cái – tỉnh Quảng Ninh
* Phạm vi nghiên cứu: Những vấn đề liên quan tới công tác thu gom, quản lý
chất thải sinh hoạt tại thành phố Múng Cái – tỉnh Quảng Ninh.
3.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu
* Địa điểm nghiên cứu: Khu vực thành phố Múng Cái – tỉnh Quảng Ninh.
chuyển thông qua các cơ quan của thành phố Múng Cỏi.
- Tìm hiểu qua sách báo, mạng internet…
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Phương pháp khảo sát thực địa để thấy được tình hình chung về rác
thải trên địa bàn.
- Phỏng vấn bằng phiếu điều tra nhằm thu thập ý kiến của các hộ gia
đình về tình hình quản lý rác thải sinh hoạt tại địa phương.
3.4.3. Phương pháp chuyên gia
- Hình thức thực hiện phương pháp này thông qua các buổi gặp gỡ, trao
đổi và thảo luận với các cán bộ tại địa phương và giáo viên hướng dẫn nhằm
tháo gỡ những thắc mắc.
3.4.4. Phương pháp xác định khối lượng và thành phần rác thải
* Phương pháp xác định lượng rác thải được thu gom: tiến hành theo dõi việc
tập kết rác thải tại các điểm tập kết rác thải của từng phường, xã để đếm số xe
đẩy tay chứa rác trong một ngày, tuần và trong thỏng. Cỏc xe đẩy tay được
chở đến điểm tập kết vào đúng giờ quy định và cho lên xe chở rác chuyên
dùng của công ty môi trường đô thị. Với phương pháp đếm số xe và cân để
xác định thành phần, tỷ lệ rác thải sẽ giúp biết được khối lượng rác thải phát
sinh hàng ngày. Do lượng rác thải thường là ổn định từ các nguồn thải, rất ít
bị biến động. Nên tiến hành xác định khối lượng và sau đó tính trung bình.
18
* Phương pháp xác định lượng rác thải bỡnh quõn/người/ngày và thành phần
rác thải tại các phường, xã:
- Đối với rác hộ gia đình và khu dân cư: mỗi phường, xã lựa chọn ngẫu
nhiên khoảng 10 hộ để theo dõi được thuận lợi và dễ dàng. Việc lựa chọn các
hộ theo tiêu chí cân đối về tỷ lệ giữa các hộ là công nhân, viên chức (50%);
hộ kinh doanh, buôn bán (40%); hộ làm nghề khác (10%). Trên cơ sở số liệu
điều tra của từng UBND các phường, xã về tỷ lệ nghề nghiệp của người dân
trên địa bàn.
+ Tiến hành phát cho các hộ 2 túi màu khác nhau để phân loại rác ngay
gom (nếu có thể). Rồi ước tính khối lượng rác được thu gom, phát sinh và sau
đó tính trung bình lượng rỏc/ngày/thỏng.
- Đánh giá về lợi ích tái chế, tái sử dụng rác thải: Điều tra về lượng rác
thải có thể tái chế tại các bãi rác của thành phố: điều tra, phỏng vấn trực tiếp
những người nhặt rác (khoảng 15 – 20 người), và những chủ hộ thu mua rác ở
khu vực gần bãi rác. Sau đó tính trung bình khối lượng, chủng loại các thành
phần rác có thể tái chế và giá mua (bán) từng loại. Mặt khác căn cứ vào tỷ lệ
từng loại rác có thể tái chế trong tổng lượng rác phát sinh để ước tính khối
lượng thành phần cỏc rỏc tái chế rác tái chế. Sau đó ước tính hiệu quả mang
lại của rác thải sinh hoạt.
* Phương pháp xác định thành phần rác thải: Căn cứ vào đặc điểm chung của
các phường, xã ta chọn các điểm tập kết rác tại 2 phường, và 2 xã để phân loại
rác, rồi cân từng thành phần sau đó tính tỷ lệ. Mỗi phường, xã ta cân và phân
loại thí điểm tại 1 điểm tập kết.
3.4.5. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
+ Tổng hợp tất cả các số liệu thu thập được từ các phương pháp trên.
+ Xử lý số liệu bằng Excel.
20
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Múng
Cái – tỉnh Quảng Ninh
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Thành Phố Múng Cỏi là một thành phố vùng biên giới nằm ở Đông
Bắc của Tỉnh Quảng Ninh, cũng là địa đầu của phía Đông Bắc Việt Nam.
Thành Phố Múng Cỏi cú diện tích đất tự nhiên 51497 ha, trải rộng từ tọa độ
21
0
10
vực này có dạng địa hình bị chia cắt mạnh, tạo nhiều cảnh quan đẹp và thảm
thực vật phong phú.
+ Vùng trung du ven biển: trồng lúa, hoa màu, chăn nuôi, thả cá, tôm, cua…
+ Vùng Đảo và núi thấp: độ dốc từ 10
0
– 15
0
, có diện tích tự nhiên
khoảng 5000 ha, chiếm 9,8% diện tích tự nhiên.
Trong đất liền, 71% diện tích tự nhiên là đồi núi, càng về phía Nam địa
hình Múng Cỏi càng thấp dần, vùng ven Biển là một bãi triều rộng.
4.1.1.3. Điều kiện khí tượng
(Số liệu quan trắc từ Trạm Múng Cỏi – Vĩ độ: 21
0
31’; Kinh độ: 107
0
58’)
[19]
21
a) Đặc điểm khí hậu
Khu vực nghiên cứu thuộc thị xã Múng Cỏi mang đặc điểm trung của
khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của khí hậu biển nên tương đối ôn
hoà, là điều kiện lý tưởng cho môi sinh và đặc biệt là du lịch và nghỉ dưỡng.
b) Nhiệt độ không khí
Theo số liệu quan trắc nhiệt độ tại trạm Múng Cỏi trong vòng 5 năm gần
đây từ 2004 – 2008 cho thấy: Nhiệt độ trung bình hàng năm: từ 21,4
0
C – 23,4
0
C
năm 2007
năm 2008
Hình 4.1. Biểu đồ lượng nước mưa quan trắc từ năm 2004 đến năm 2008
(Nguồn: Trung tâm khí tượng thuỷ văn Quốc gia, 2009)[16]
22
d) Chế độ gió
Mùa khô: từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng
của gió mùa Đông Bắc, chủ yếu theo hướng Bắc và Đông Bắc. Mỗi thỏng cú
từ 3 đến 4 đợt, mỗi đợt từ 5 – 7 ngày.
Mùa mưa: từ tháng 4 đến tháng 9, chủ yếu là gió Nam và Đông Nam.
Tốc độ gió trung bình năm là 3,3 – 3,6 m/s.
Tần suất bão đổ bộ vào Quảng Ninh khoảng 2,8%. Trung bình 1 năm
có 1,5 cơ bão. Sức gió từ cấp 8 đến cấp 10, mạnh nhất đến cấp 12, nhưng xác
suất thấp (khoảng 15 – 18 năm một lần). Bão thường theo hướng Tây, Tây
Bắc. Tháng có nhiều bão nhất là tháng 8.
4.1.1.4. Điều kiện thủy văn, hải văn
(Số liệu quan trắc từ trạm Cụ Tụ – Vĩ độ: 20058’; Kinh độ: 107004’)
[18]
a) Thủy văn
Hệ thống sông suối của thành phố Múng Cỏi gồm có hai sụng chớnh: Sụng
Ka Long, Sông Tràng Vinh.
* Sông Ka Long:
- Bắt nguồn từ Trung Quốc, có 5 nhánh lớn chảy qua Việt Nam, qua
Múng Cỏi chia thành 2 nhánh là Ka Long và Bắc Luân.
* Sông Tràng Vinh:
- Bắt nguồn từ các đỉnh núi cao (700 – 800 m), chảy qua Tràng Vinh rồi ra biển.
b) Hải văn
* Chế độ sóng và hướng sóng
Kết quả nghiên cứu của Trung tâm khí tượng Quốc gia những năm gần
đây (2004 – 2008) cho thấy:
/ ngày và phân bố đều trong thị xã.
* Tài nguyên rừng: hiện có khoảng 18431,71 ha đất lâm nghiệp, phong phú về
chủng loại, chiếm 35,68% diện tích tự nhiên của thành phố.
* Khoáng sản: Trên địa bàn thành phố Múng Cỏi cú cỏc loại khoáng sản sau
đây: Đá Granit (Lục Phủ), cao lanh (Kim Tinh, Vĩnh Thực), Titan (Trà Cổ,
Bình Ngọc, Vĩnh Thực) và cát sỏi dùng cho xây dựng.
* Tài nguyên biển: Với chiều dài bờ biển 50km, có vùng biển rộng, diện tích
bãi triều lớn, thuận lợi cho việc phát triển nghề đánh bắt, nuôi trồng và chế
biến thuỷ, hải sản (hiện nay đã khoanh nuôi được 410 ha). Nằm trong quần
24
thể du lịch sinh thái Hạ Long, Cát Bà, Trà Cổ, có bãi cát mịn, sóng được gió
lớn mang từ biển vào một nét riêng biệt, độc đáo đã tạo nên tài nguyên biển ở
Múng Cỏi hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển các điểm du lịch biển lý tưởng.
* Tài nguyên du lịch và nhân văn: Múng Cái là nơi có nhiều phong cảnh đẹp
nổi tiếng, khí hậu trong lành, có bờ biển trải dài 17km bằng phẳng với bãi cát
mịn màng; có cửa khẩu Quốc tế nên có khả năng thu hút nhiều du khách trong
và ngoài nước. Trên địa bàn thị xã còn nhiều chùa triền: chựa Khỏnh Linh,
chùa Xuân Lan, nhà thờ Trà Cổ, cựng với các danh thắng khác với những nét
đặc trưng riêng tạo nên một quần thể du lịch độc đáo, đa dạng mà ít nơi có thể
sánh kịp, làm tăng thêm sự chú ý đối với du khách.
* Cảnh quan môi trường: Về hệ thống công viên – cây xanh: ngoài khu vực
công viên bờ Đụng sụng Ka Long diện tích 55.000m
2
và một số diện tích
vườn hoa trong trung tâm, hiện tại thị xã còn thiếu những khu công viên vui
chơi giải trí, công viên chuyên đề, quảng trường, tượng đài, là những chức
năng rất cần thiết cho một đô thị phát triển, đặc biệt một đô thị cửa khẩu quốc
tế với nhiều tiềm năng phát triển du lịch.
Bảng 4.2. Diện tích các vườn hoa của thị xã Múng Cỏi
STT Vườn hoa Diện tích (m