Thực trạng công tác thu gom, quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố cẩm phả tỉnh quảng ninh - Pdf 34

1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Điều 1 - Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam ghi rõ: “Môi trường bao gồm
các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao
quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con
người và thiên nhiên”.
Qua định nghĩa trên ta thấy được môi trường có vai trò rất quan trọng và ảnh
hưởng trực tiếp tới con người. Vì vậy, bảo vệ môi trường là việc được toàn cầu quan
tâm và là vấn đề cấp bách. Ngày nay, việc phát triển kinh tế và sự gia tăng dân số đã
làm chất lượng môi trường bị đe dọa nghiêm trọng, đòi hỏi chúng ta phải có những
biện pháp bảo vệ môi trường cụ thể và kịp thời. Bảo vệ môi trường không chỉ là việc
của các cơ quan chức năng mà là trách nhiệm của toàn thể cộng đồng. Bảo vệ môi
trường chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta và gìn giữ cho sự phát triển bền vững
của các thế hệ tương lai.
Một trong những vấn đề nan giải nhất của Việt Nam hiện nay là công tác quản
lý rác thải. Dân số tăng nhanh, tập trung phần lớn tại các đô thị dẫn đến việc đô thị hóa
tăng mạnh, nhu cầu của người dân được cải thiện cũng đồng nghĩa với lượng rác thải
ngày càng tăng và thay đổi liên tục. Trong quá trình sinh hoạt, một khối lượng chất
thải khổng lồ chưa qua xử lý hoặc xử lý thô sơ được con người ném vào môi trường
gây ô nhiễm. Vì vậy, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội luôn đi đôi với việc quan tâm
tới vấn đề rác thải, góp phần cải thiện môi trường sống trong sạch, lành mạnh.
Nhờ hiểu được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, thành phố Cẩm Phả
trong những năm gần đây đã có các chính sách, biện pháp bảo vệ và giải quyết các vấn
đề môi trường như: tuyên truyền giáo dục, thu gom, xử lý và áp dụng các công nghệ
tiên tiến vào sản xuất sạch hơn.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên cùng với sự hướng dẫn của Thầy giáo Mai
Quang Tuấn - giảng viên trường ĐH Tài nguyên & Môi trường, tôi tiến hành thực hiện
đề tài: “Thực trạng công tác thu gom, quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Cẩm
Phả - tỉnh Quảng Ninh”.

- Rác thải sinh hoạt tại thành phố Cẩm Phả – tỉnh Quảng Ninh.

- Công tác thu gom và quản lý rác thải sinh hoạt của thành phố Cẩm Phả – tỉnh
Quảng Ninh


Phạm vi nghiên cứu: Những vấn đề liên quan tới công tác thu gom, quản lý chất
thải sinh hoạt tại thành phố Cẩm Phả – tỉnh Quảng Ninh.

2.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu
• Địa điểm nghiên cứu: Khu vực thành phố Cẩm Phả – tỉnh Quảng Ninh.
• Thời gian nghiên cứu: Thực hiện từ ngày 29 tháng 12 năm 2014 đến ngày 13
tháng 3 năm 2015.
2.3. Nội dung nghiên cứu
Trong những năm gần đây, quá trình đô thị hóa đang diễn ra một cách mạnh
mẽ, kéo theo rất nhiều vấn đề liên quan. Đặc biệt là các vấn nạn môi trường, gây
ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người, làm mất mĩ quan đô thị. Trong bài báo cáo
này ta sẽ đề cập đến thực trạng thu gom, quản lí rác thải sinh hoạt tại thành phố
Cẩm Phả - Quảng Ninh. Chất thải sinh hoạt thải ra ngày càng một tăng nhanh đã và
đang trở thành vấn đề vô cùng bức thiết. Rác thải sinh hoạt là một trong những
nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường không khí, môi trường đất, môi trường
nước… mà chưa giải quyết triệt để được.
Bản báo cáo được thực hiện trên việc tìm tòi, thống kê, phân tích các số liệu để
lựa chọn ra phương pháp phù hợp nhất đối với thực trạng chất thải sinh hoạt tại
thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Đưa ra được những biện pháp phù hợp trong
công tác thu gom và quản lý chất thải rắn nói chung và rác thải sinh hoạt nói riêng
Tuyên truyền, giáo dục cho cộng đồng tầm quan trọng của môi trường khi nó đã
và đang ngày càng ô nhiễm nhằm phát động phong trào toàn dân chung tay bảo vệ
môi trường như vứt rác đúng nơi quy đinh, thực hiện việc phân loại rác, thực hiện
theo đúng quy định của nhà nước về bảo vệ môi trường sống.

* Phương pháp xác định lượng rác thải bình quân/người/ngày và thành phần
rác thải tại các phường, xã:
- Đối với rác hộ gia đình và khu dân cư: mỗi phường, xã lựa chọn ngẫu nhiên
khoảng 10 hộ để theo dõi được thuận lợi và dễ dàng. Việc lựa chọn các hộ theo tiêu
chí cân đối về tỷ lệ giữa các hộ là công nhân, viên chức (50%); hộ kinh doanh, buôn
bán (40%); hộ làm nghề khác (10%). Trên cơ sở số liệu điều tra của từng UBND các
phường, xã về tỷ lệ nghề nghiệp của người dân trên địa bàn.
+ Tiến hành phát cho các hộ 2 túi màu khác nhau để phân loại rác ngay tại
nguồn và để rác thải lại để cân.
+ Đến từng hộ gia đình thí điểm cân rác vào giờ cố định trong ngày 1lần/ngày.
+ Số lần cân rác của mỗi hộ gia đình lặp lại 3 lần/tháng (cân trong 4 tháng). Giữa các
ngày cân rác trong tuần, trong tháng có sự luân chuyển để cân được vào các ngày đầu tuần,
giữa tuần, cuối tuần trong tháng. Rác sau khi thu gom, cân thì được đổ vào xe thu gom vào
các điểm tập trung rác của từng phường, xã.
+ Từ kết quả cân thực tế rác tại các hộ gia đình, tính được lượng rác thải trung
bình của 1 hộ/ngày, và lượng rác thải bình quân/người/ngày.
+ Phân loại rác tập trung tại bãi rác khu dân cư tiến hành phân loại rác trong 1
tháng, mỗi tuần 2 lần vào 2 ngày cố định trong tuần thu gom, cân trọng lượng rác thải
vô cơ, hữu cơ quy thành tỷ lệ % trọng lượng.
- Đối với rác tại các chợ: Dựa trên việc nghiên cứu điều tra về đặc điểm các chợ
ở từng phường, xã: số lượng các chợ, thời gian họp chợ, chu kỳ họp chợ là thường
ngày hay theo phiên và từ đó làm như sau:
+ Nếu phường, xã nào được thu gom rác thải tập trung thì tiến hành đếm số xe
đẩy tay chở rác trong ngày, tháng. Sau đó ước tính khối lượng trung bình lượng
rác/ngày/tháng, sẽ biết được lượng phát sinh và thu gom.
+ Nếu phường, xã nào chưa tổ chức thu gom rác: sau mỗi lần họp chợ, khi rác
được thu gom thành đống thì tiến hành cân và tính khối lượng trung bình/ngày/thùng.
- Đối với rác tại các cơ quan công sở, trường học: Do các đặc điểm nghề nghiệp
và tính chất công việc, nên thành phần là khá giống nhau. Đầu tiên tiến hành điều tra
về số lượng các cơ quan, trường học, ở các phường, xó cỏc thông tin về: số nhân viên,

Hiện nay cơ quan chuyên trách về vấn đề vệ sinh môi trường của thành phố là
công ty cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Cẩm Phả.

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN KIỂM SOÁT
BAN GIÁM ĐỐC

PHÒNG
KẾ HOẠCH
XÂY DỰNG

ĐỘI
XỦ LÝ
RÁC

PHÒNG
KINH DOANH

ĐÔI
XE VẬN
CHUYỂN

ĐỘI
VỆ SINH
CẨM
THỦY

PHÒNG
KẾ TOÁN
TÀI VỤ

- Công nhân kỹ thuật 11 người


8
- Tổ chức biên chế nhân lực của công ty gồm có: Ban giám đốc, cỏc phũng ban
chuyên môn nghiệp vụ, và các tổ đội sản xuất.

Bảng 3.2. Tổ chức nhân lực của công ty
TT

Đơn vị

Đơn vị tính

Số người

I

BỘ PHẬN QUẢN LÝ

Người

27

1

Ban Giám đốc

Người


Người

10

II

BỘ PHẬN SẢN XUẤT

Người

156

1

Đội xe vận chuyển

Người

21

2

Đôi quản lý công viên cây xanh

Người

29

3


3.2. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Cẩm Phả –
tỉnh Quảng Ninh
3.2.1. Điều kiện tự nhiên
3.2.1.1. Vị trí địa lý
Thành Phố Cẩm Phả là một thành phố nằm ở Đông Bắc của Tỉnh Quảng Ninh,
cũng là địa đầu của phía Đông Bắc Việt Nam. Thành Phố Cẩm Phả cú diện tích đất tự
nhiên 486,45 km2,có tọa độ địa lí từ 20o58'10 - 21o12' vĩ độ bắc, 107o10' 107o23'50kinh độ đông. Phía Bắc giáp huyện Ba Chẽ và huyện Tiên.Phía đông của
thành phố giáp với huyện Vân Đồn, Phía tây giáp huyện Hoành Bồ và thành phố Hạ
Long, phía nam giáp thành phố Hạ Long và huyện Vân Đồn.


9
3.2.1.2. Địa hình
Thành Phố Cẩm Phả thuộc địa hình đồi núi trung du ven biển ,cú độ cao trung
bình 7 – 10 m so với mực nước biển ,thấp dần từ phía Bắc xuống phía Nam. Địa hình
khá phức tạp tạo thành 3 vùng rõ rệt: Vùng núi cao phía Bắc; vùng Trung Du Ven
Biển và vùng Đảo với những điều kiện địa hình khác nhau:
+ Vùng Núi cao Phía Bắc: chủ yếu là đồi núi có độ cao từ 300 – 866 m, độ dốc
từ 250 – 450, diện tích 19.100 ha, chiếm 37% diện tích tự nhiên. Khu vực này có dạng
địa hình bị chia cắt mạnh, tạo nhiều cảnh quan đẹp và thảm thực vật phong phú.
+ Vùng trung du ven biển: trồng lúa, hoa màu, chăn nuôi, thả cá, tôm, cua…
+ Vùng Đảo và núi thấp: độ dốc từ 100 – 150, có diện tích tự nhiên khoảng 5000
ha, chiếm 9,8% diện tích tự nhiên.
Trong đất liền, 71% diện tích tự nhiên là đồi núi, càng về phía Nam địa hình Múng
Cỏi càng thấp dần, vùng ven Biển là một bãi triều rộng.
3.2.1.3. Điều kiện khí tượng
(Số liệu quan trắc từ Trạm Cẩm Phả – Vĩ độ: 21031’; Kinh độ: 107058’)[19]
a) Đặc điểm khí hậu
Khu vực nghiên cứu thuộc thành phố Cẩm Phả mang đặc điểm trung của khí hậu
nhiệt đới nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của khí hậu biển nên tương đối ôn hoà, là điều kiện

là tháng 8.
3.2.1.4. Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên đất: Với diện tích tự nhiên là 51.654,76 ha, được chia thành 10 nhóm đất
chính: Đất cát, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất có tầng sét, đất xám, đất vàng đỏ, đất
tầng mỏng. Thành Phố Cẩm Phả có nguyên liệu đất sét tốt để sản xuất ra các loại sản
phẩm đất nung như: gạch, ngói, sành, sứ…
* Tài nguyên nước: đảm bảo chất lượng cung cấp nước sinh hoạt.
- Nguồn nước mặt: lượng nước các con sông ở Cẩm Phả khá phong phú và
phân phối tương đối đều theo không gian.


11
- Nguồn nước ngầm: tổng trữ lượng nước ngầm của Cẩm Phả cũng rất lớn, có
khoảng 1500m3/ ngày và phân bố đều trong thị xã.
* Tài nguyên rừng: hiện có khoảng 18431,71 ha đất lâm nghiệp, phong phú về chủng
loại, chiếm 35,68% diện tích tự nhiên của thành phố.
* Khoáng sản: Trên địa bàn thành phố Cẩm Phả có các loại khoáng sản sau đây: Đá
Granit, cao lanh, Titan than đá và cát sỏi dùng cho xây dựng.
* Tài nguyên biển: Với chiều dài bờ biển 50km, có vùng biển rộng, diện tích bãi triều
lớn, thuận lợi cho việc phát triển nghề đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thuỷ, hải sản
(hiện nay đã khoanh nuôi được 410 ha). Nằm trong quần thể du lịch sinh thái Hạ Long,
có bãi cát mịn, sóng được gió lớn mang từ biển vào một nét riêng biệt, độc đáo đã tạo
nên tài nguyên biển ở Cẩm Phả hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển các điểm du lịch
biển lý tưởng.
* Tài nguyên du lịch và nhân văn: Cẩm Phả là nơi có nhiều phong cảnh đẹp nổi tiếng,
khí hậu trong lành, có bờ biển trải dài 17km bằng phẳng với bãi cát mịn màng; Trên
địa bàn thị xã còn nhiều chùa triền, cùng với các danh thắng khác với những nét đặc
trưng riêng tạo nên một quần thể du lịch độc đáo, đa dạng mà ít nơi có thể sánh kịp,
làm tăng thêm sự chú ý đối với du khách.
3.2.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội

1,98

1,86

1,74

1,7

1,28

1,2

1,1

(Nguồn: UBND Thành phố Cẩm Phả, 2010)[17]
Mật độ dân số phân bố không đều trên địa bàn thành phố, công tác dân số kế
hoạch hóa gia đình đảng ủy đã thường xuyên chỉ đạo các ban ngành đoàn thể đẩy
mạnh công tác tuyên truyền chính sách dân số đến các tầng lớp nhân dân nhất là các


12
đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ. Vì vậy nhận thức của nhân dân về công tác dân số đó
cú những chuyển biến tích cực. Tỷ lệ tăng dân số hàng năm là 0,6%/năm.
3.2.2.2.Diễn biến đô thị hóa
Với tốc độ đô thị hóa nhanh. Thành phố Cẩm Phả được đặt trong mối quan hệ
mật thiết với vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ: Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh –
Hải Dương góp phần vào hoạt động hàng hóa xuất nhập khẩu, đẩy mạnh giao lưu kinh
tế với các khu vực khác trong cả nước và quốc tế.
3.2.2.3. Mạng lưới giao thông
- Đường bộ: Hiện tại Cẩm Phả được kết nối với các địa phương khác theo

nhất của tỉnh Quảng Ninh.
- Bình quân thu nhập GDP/người /năm tăng trưởng cao
+ Năm 2005 GDP/người /năm là 1000 USD
+ Năm 2010 GDP/người /năm là 1010-1500 USD
Bảng 3.4. Tỷ lệ đóng góp GDP của các ngành kinh tế của thành phố Cẩm Phả

2008

2009

2010

18 %

16 %

15 %

Công nghiệp – xây dựng

10,2 %

11,4 %

10-25 %

Thương mại – dịch vụ

71,8 %


tấn/năm.
- Tình hình phát triển du lịch của địa phương
Thành phố Cẩm Phả có nhiều phong cảnh đẹp, nổi tiếng, khí hậu trong lành, có
khả năng thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.
Bãi biển với chiều dài bờ biển 17km bằng phẳng, có rừng phi lao có thể xây
dựng khu nghỉ mát, du lịch quốc gia. Đây là một trong những khu du lịch nằm trong
chiến lược phát triển đến năm 2025 của thành phố Cẩm Phả.
Hiện nay, cơ sở vật chất thiết yếu cho phát triển du lịch đảm bảo lâu dài bền
vững góp phần tăng trưởng kinh của thành phố Cẩm Phả.
Tuy nhiên, ngành du lịch của thành phố Cẩm Phả cũn gặp những trở ngại lớn
do cơ sở vật chất yếu kém và chưa phát triển các hệ thống khách sạn nhà hàng, khu vui
chơi giải trí, văn hóa, giao thông, phương tiện vận tải chưa đáp ứng được nhu cầu.
Nhiều điểm du lịch hấp dẫn chưa được đầu tư khai thác có hiệu quả.


15
PHẦN 4
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU GOM, QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT
TẠI THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
4.1. Thực trạng công tác thu gom rác thải sinh hoạt tại thành phố Cẩm Phả - tỉnh
Quảng Ninh
4.1.1. Nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt tại thành phố Cẩm Phả - tỉnh Quảng
Ninh
Cùng với sự phát triển kinh tế chung của cả nước trong những năm gần đây
thành phố Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh được coi là thành phố trẻ năng động đó có
những bước phát triển nhanh chóng trong nền kinh tế, văn hoá, xã hội về nhiều mặt
khác nhau. Tốc độ đô thị hoá tăng nhanh, cuộc sống của người dân ngày được nâng
cao dẫn đến nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên ngày càng lớn kéo theo lượng chất
thải rắn nói chung và lượng rác thải sinh hoạt nói riêng phát sinh ngày một nhiều. Và
đấy chính là một trong những nguồn gây ô nhiễm tới cảnh quan môi trường, ảnh

rửa, bột giặt. chất tẩy trắng,
thuốc diệt côn trùng…
- Cao su; gỗ
2

Từ

- Nhà kho

- Nhà hàng

khu

- Khách sạn - Chợ

- Giấy

- Nhựa

- Thủy tinh - Kim loại


16
thương mại

3

4

5


- Gỗ

- Tháo dỡ công trình xây
dựng

- Sắt thép

- Xây dựng các công trình
giao thông vận tải

- Gạch ngói

- Dọn rác vệ sinh đường
phố, công viên, khu vui
chơi giải trí…

- Rác

- Cành cây

- Giấy vụn

- Vỏ chai

- Xác động vật

- Vải, rẻ rách

Từ dịch vụ

- Đồng ruộng

- Phân rác

động

- Ao vườn

- Rơm rác

nông nghiệp

- Chuồng trại

- Bao bì (đóng gói, bảo quản…)

- Thu hoạch nông sản

- Thức ăn thừa

(Nguồn: Công ty môi trường và Công trình đô thị Cẩm Phả, 2011)[11]


17

Bảng 4.2. Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại các nguồn
Nguồn

Khối lượng
(tấn/năm)

0,32

23137,345

100

Nguồn khác
Tổng

(Nguồn: Công ty môi trường và Công trình đô thị Cẩm Phả, 2011)[11]
Từ bảng trên ta thấy: Rác thải sinh hoạt từ các hộ gia đình chiếm tỷ lệ lớn nhất
(56,32%). Như vậy lượng rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Cẩm Phả chủ yếu
tại các hộ gia đình. Nếu chúng ta làm tốt công tác tuyên truyền và phân loại được rác
từ các hộ gia đình đây sẽ là nguồn tài nguyên có giá trị.
Nguồn phát sinh rác thải tại các chợ cũng tương đối lớn (18,31 %) do Thành phố
Cẩm Phả cú 5 chợ lớn và nhiều chợ nhỏ ở các Phường, Xã hoạt động buôn bán trao đổi
hàng hóa diễn ra tấp nập với nhiều chủng loại mặt hàng.
Nguồn thải từ các quán ăn, khách sạn, dịch vụ công cộng… chiếm một phần
không nhỏ lượng rác thải sinh hoạt của thành phố (20,07%). Do phục vụ nhu cầu ăn
nghỉ của khách du lịch và lượng người buôn bán, lượng khách qua lại cửu khẩu Cẩm
Phả.
4.2.2. Lượng chất thải phát sinh và thành phần rác thải sinh hoạt tại thành phố
Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh
4.2.2.1 Lượng phát sinh rác thải sinh hoạt của thành phố Cẩm Phả - tỉnh Quảng
Ninh

Bảng 4.3. Tổng lượng rác thải sinh hoạt trong các năm gần đây của thành phố
Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh




2102,92

4

2012,08

2033,19

5

1941,37

2056,24

6

1921,93

1962,04

7

1907,36

2016,92

8

1854,48


23137,345

6029,9

(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Cẩm Phả)[15]
Dựa vào tổng lượng rác thải sinh hoạt tại thành phố Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh
ta thấy lượng rác trong các năm không có sự biến đổi nhiều nhưng có chiều hướng gia
tăng rõ rệt.
Qua bảng 4.7 ta cũng thấy có sự biến động về lượng rác phát sinh trong cỏc thỏng
của các năm. Lượng rác tăng nhiều và cỏc thỏng tết và mùa hè. Đây cũng là điều dễ hiểu
vì:
Vào những tháng giáp tết lượng hàng hóa được mua nhiều và các hộ gia đình
dọn dẹp nhà cửa chuẩn bị tết, do đó lượng rác tăng so với cỏc thỏng khỏc. Công tác
dọn dẹp cảnh quan chào đón năm mới, các loại hình quảng cáo thu hút sự mua sắm
cũng làm phát sinh lượng lớn rác trong các tháng.
Vào những tháng sau tết một lượng lớn vật dụng trang trí của các hộ gia đình,
công sở được thải bỏ cũng làm tăng lượng rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố.
Thành phố Cẩm Phả là thành phố du lịch và những tháng mùa hè lượng khách
du lịch tới thăm quan và nghỉ dưỡng thúc đẩy quá trình thương mại phát triển mạnh,
các loại hình giải trí hoạt động mạnh của các nhà hàng khách sạn làm lượng rác sinh
hoạt tại địa bàn thành phố phát sinh nhiều thể hiện lượng rác phát sinh trong các tháng
này lớn hơn nhiều so với các tháng trong năm.


19
Qua cột số liệu quý I ta thấy lượng rác có xu hướng ngày càng tăng do sự phát
triển mạnh mẽ của nền kinh tế và việc quan tâm tâm, chú trọng hơn vào việc thu gom
chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố.
Bảng 4.4. Lượng rác thải phát sinh tại các hộ gia đình


Phường Cẩm Thạch

1511

6346

1,54

9,77

3

Phường Cẩm Đông

1285

5654

1,47

8,31

4

Phường Cẩm Tây

301

1414


Phường Cẩm Phú

280

1260

1.32

1,66

8

Tổng

5554

24034

1,45

35,7

(Nguồn: Công ty môi trường và Cụng trình đô thị Cẩm Phả, 2011)[11]
Qua bảng số liệu ta thấy được lượng rác phát sinh chủ yếu tại các khu vực đông
dân cư với mật độ dân số đông và sống liền kề nhau thuận lợi việc giao thông và thu
gom rác thải sinh hoạt. Dân số ở các khu vực này có thu nhập cao, sống nhờ vào việc
buôn bán tại các chợ, và các loại hình dịch vụ. Dân số các khu vực này đa phần là dân
số trẻ việc tiêu thụ các mặt hàng thực phẩm, và các mặt hàng phục vụ cho sinh hoạt gia
đình lớn do đó lượng rác thải sinh hoạt phát sinh hàng ngày cao hơn nhiều so với các


Phim cuộn, túi chất dẻo, chai lọ chất dẻo, các đầu
vòi bằng chất dẻo, dây bện

f) Da và cao su
g) Túi nylon

Bóng, giầy, ví, băng cao su…
Túi đựng thức ăn, vỏ bánh kẹo…

2. Các chất không cháy
a) Các kim loại sắt

Vỏ hộp, dây điện, hàng rào, dao, nắp lọ

b) Các kim loại phi sắt
c) Thủy tinh

Vỏ hộp nhôm, giấy bao gói, đồ đựng, Chai lọ, đồ
đựng bằng thủy tinh, bóng đèn …

d) Đá và sành sứ

Vỏ trai, ốc, xương, gạch đá, gốm …

3. Các chất hỗn hợp

Đá cuội, cát, đất, tóc …



5,69

4.7

4

Kim loại

3,4

2,8

5

Thủy tinh

1,2

0,8

6

Đất, cát và các loại khác

10,1

8.65

(Nguồn: Phòng quản lý đô thị thành phố Cẩm Phả)[14]
Qua bảng số liệu trên ta thấy các điểm phát sinh rác thải giữa các mùa là khác

Công nhân xuất phát từ các địa điểm đặt thùng rồi đẩy thùng 660L đi thu gom
tại các nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt đến khi đầy thùng đẩy xe về các điểm tập kết
rác tạm thời và đổi xe mới tiếp tục công tác thu gom rác đến khi hết rác thải tại các
nguồn phát sinh. Các xe cuốn ép rác xuất phát từ đội xe của công ty chạy theo lộ trình
cùng với 2 công nhân thu gom. Khi đến điểm tập kết rác tạm thời xe cuốn rác lên
thùng. Khi thùng đầy rác xe vận chuyển tới bãi rác và tiếp tục lộ trình của mình kết
thúc công việc khi hết rác tại các điểm tập kết rác tạm thời.
* Phương tiện thu gom
Gồm có 205 xe thu gom rác đẩy tay, xe cuốn ộp rỏc loại 7 m 3 có 3 chiếc, loại 4
m3 có 1 chiếc, loại 2,5 m3 có 3 chiếc.
- Thời gian làm việc 3 ca/ngày đêm
+ Sáng 5h đến 8h30’
+ Trưa 10h đến 13h 30’
+ Tối 17h đến 21h30’
Đảm bảo xúc hết không tồn đọng rác trong ngày. Đặc biệt là các phường trung
tâm như: Cẩm Thủy, Cẩm Thạch, Cẩm Tây, Cẩm Đông, Cẩm Trung phải sạch rác
trước 6h30’ sáng.
* Thực trạng thu gom, vận chuyển rác
Thực hiện thu gom và vận chuyển:
- Tổng số cung đường: 74 tuyến, với tổng chiều dài 37.490 m
- Tổng chiều dài vỉa hè: 71.180 m


23
- Tổng diện tích lòng đường và vỉa hè: 738.625 m2
Trong đó:
+ Diện tích lòng đường: 346.905 m2
+ Diện tích vỉa hè 391.720 m2
- Tổng diện tích quét dọn: 133.254 m2



6.300,83

6.029,9

95,7%

(Nguồn: Phòng Tài Nguyên và Môi trường thành phố Cẩm Phả)[15]
Qua bảng số liệu về tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt tại thành phố Cẩm Phả giúp
chúng ta thấy được tỷ lệ thu gom rác hàng năm tăng lên do có sự quan tâm của các cơ
quan quản lý và sự đầu tư trang thiết bị. Tuy nhiên lượng rác thải sinh hoạt chưa được
thu gom vẫn còn lớn đòi hỏi cần có sự quản lý tốt hơn nữa tiến tới một thành phố
không còn lượng rác thải sinh hoạt không được thu gom. Tạo môi trường sạch sẽ, gìn
giữ môi trường trong lành cho thế hệ tương lai.
Lượng rác thải sinh hoạt chưa được thu gom chủ yếu là do quá trình vận chuyển
rơi vãi, lượng rác thải còn sót lại các điểm tập kết tạm thời vì lẫn cùng với đất đá. Và ý
thức của người dân chưa cao, đổ rác không đúng giờ, không đúng nơi quy định, đổ rác
tại vườn nhà mình và tại các ao hồ gây khó khăn cho quá trình thu gom của công nhân
môi trường.
Tại các khu dân cư chưa có các thùng chứa rác thải, lượng rác thải sinh hoạt của
người dân được đựng vào túi nilon và vứt bên vỉa hè rất dễ phát tán khi có gió và động
vật tha đi.
Lượng rác phát sinh và lượng rác thải thu gom mỗi ngày tùy thuộc vào từng
thời điểm, thời tiết và những ngày nghỉ lễ tết, hội hè mà lượng rác thải phát sinh cũng
như lượng rác thải thu gom sẽ thay đổi theo.
Các điểm tập kết tập thời để xe ép rác tới vận chuyển tới các bãi rác của thành
phố:


24

2009

150

5

2010

156

7

Quý I/2011

156

7

(Nguồn: Công ty môi trường và Công trình đô thị Cẩm Phả, 2011)[11]
4.3. Thực trạng quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Cẩm Phả - tỉnh Quảng
Ninh
4.3.1. Tình hình quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Cẩm Phả - tỉnh Quảng
Ninh bằng các biện pháp kinh tế - xã hội
4.3.1.1. Công tác thực hiện ban hành các văn bản quản lý nhà nước về rác thải
Thành phố Cẩm Phả đã thực hiện tốt các văn bản pháp luật của nhà nước và của
tỉnh Quảng Ninh về quản lý nhà nước về môi trường nói chung và quản lý rác thải
nói riêng. Cụ thể có các văn bản pháp lý sau:
- Quyết định số 4252/QĐ - UBND ngày 25/12/2009 của UBND tỉnh Quảng Ninh
về việc phê duyệt quy hoạch quản lý chất thải rắn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010 và
định hướng đến năm 2020.

- Hộ dân 10.000/tháng.
- Cơ quan hành chính: 50.000 và 100.000 tùy thuộc vào lượng rác của cơ quan.
- Khách sạn - Nhà nghỉ: 120.000, 160.000 và 240.000 số tiền vệ sinh phụ thuộc
vào quy mô và lượng rác phát sinh.
- Kinh doanh ăn uống: 120.000 và 200.000 số tiền vệ sinh phụ thuộc vào lượng
rác phát sinh và quy mô của nhà hàng.
- Kinh doanh khác: bao gồm các cửa hàng tạp hóa, thời trang… 30.000 và
50.000 tùy thuộc vào lượng rác và quy mô của cửa hàng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status