Luận văn thạc sỹ: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH một thành viên Thăng Long GTC - Pdf 25

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Nói đến hoạt động sản xuất kinh doanh, dù dưới hình thái kinh tế xã hội nào,
vấn đề được nêu ra trước tiên cũng là hiệu quả. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục
tiêu phấn đấu của một nền sản xuất, là thước đo về mọi mặt của nền kinh tế quốc dân,
cũng như của từng đơn vị sản xuất.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, vốn sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp Nhà nước hầu hết được Nhà nước tài trợ thông qua cấp phát vốn,
đồng thời Nhà nước quản lý về giá cả sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch, lãi Nhà nước thu
- lỗ Nhà nước bù. Do vậy các doanh nghiệp Nhà nước hầu như không quan tâm đến
hiệu quả sử dụng vốn mà chỉ quan tâm đến các chỉ tiêu Nhà nước giao. Chính vì thế
dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kém hiệu quả, không bảo
toàn và phát triển được vốn hiện có. Chuyển sang kinh tế thị trường, các doanh nghiệp
Nhà nước cùng tồn tại với các loại hình doanh nghiệp khác, có quyền tự chủ trong các
hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp đã năng động thích nghi với tình
hình mới, phát huy được tính chủ động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh. Nhưng
cũng còn nhiều doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả, gặp nhiều khó khăn trong quản lý
và sử dụng vốn. Vốn bị mất dần sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận luôn là mục tiêu lớn nhất của mọi doanh
nghiệp. Để không ngừng tăng lợi nhuận mà vẫn đảm bảo chất lượng dịch vụ, sản phẩm
tốt, giá thành hợp lý, doanh nghiệp vẫn đứng vững trong cạnh tranh, đòi hỏi các doanh
nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ và hiệu quả sản xuất kinh doanh, trong đó
quản lý và sử dụng vốn là vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định.
Với sự cạnh tranh khốc liệt, đặc biệt sau khi nước ta gia nhập WTO, hội nhập
ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, để các doanh nghiệp có thể tồn tại, đứng vững,
phát triển trên thị trường thì hiệu quả vốn là vấn đề nóng hổi cần được quan tâm. Là tế
bào của nền kinh tế, các doanh nghiệp làm ăn có lãi sẽ thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng
và ngược lại. Để đạt được mục tiêu trên, một trong những vấn đề cần quan tâm hàng
đầu ở các doanh nghiệp hiện nay chính là hiệu quả sử dụng vốn. Vốn là một trong
1
những yếu tố đặc biệt quan trọng trong quá trính sản xuất kinh doanh. Hiệu quả sử

Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng trong hiệu quả sử dụng vốn, thời gian
qua đã có rất nhiều học viên của viện Mở có nhiều công trình nghiên cứu về hiệu quả
sử dụng vốn của các doanh nghiệp Việt Nam. Những công trình này bao gồm: Luận
văn thạc sĩ “ Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Dịch vụ thương mại và
công nghiệp” của Tác giả Vũ Quốc Huy - năm 2013; “ Giải pháp nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh tại Khách sạn Bộ Tài chính - Sầm Sơn - Thanh Hoá ” của Tác giả
Trịnh Hùng Long – năm 2013; “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ
phần xây lắp điện Hải Phòng”của Tác giả Phạm Thắng Cảnh – năm 2013, “Nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn của tập đoàn Hợp Nhất Việt Nam” của Tác giả Nguyễn Nhật Linh – năm
2012
Những công trình trên đã giải quyết được nhiều vấn đề cơ bản có liên quan tới
hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp, có thể tóm tắt như sau:
- Phân tích, luận giải bản chất của hiệu quả sử dụng vốn, các chỉ tiêu phản ánh
hiệu quả sử dụng vốn;
- Đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn (ở tầm vĩ mô cũng
như ở một số doanh nghiệp cụ thể) và ảnh hưởng, tác động chung của chúng tới hiệu
quả và việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, trong đó có hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp;
- Đề xuất các biện pháp để doanh nghiệp áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả kinh
doanh, đặc biệt là hiệu quả sử dụng vốn của mình.
Mặc dù hướng đề tài nghiên cứu không phải là mới, nhưng cho đến hiện tại
chưa có tác giả nào nghiên cứu về vấn đề sử dụng vốn tại Công ty TNHH một thành
viên Thăng Long GTC. Qua thực tế công tác tại Công ty TNHH một thành viên Thăng
Long GTC, tôi đã nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của vốn đối với hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để sử dụng có hiệu quả vốn
giúp doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả theo hướng bền vững, bảo toàn và phát triển
nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn Nhà nước trong doanh nghiệp.
Chính vì thế, tôi đã vận dụng các kiến thức, phương pháp luận mà các tác giả đi
trước đã nghiên cứu để áp dụng trong quá trình nghiên cứu tại chính đơn vị mình đang
3

Hệ thống hoá cơ sở lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn ở doanh nghiệp
trong điều kiện kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay.
Phân tích, đánh giá đúng thực trạng sử dụng vốn tại Công ty TNHH một thành
viên Thăng Long GTC trong giai đoạn 2011 - 2013.
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH
một thành viên Thăng Long GTC.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng về sử dụng vốn tại Công ty TNHH một thành viên Thăng
Long GTC.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH một
thành viên Thăng Long GTC.
5
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. MỘT SỐ NHẬN THỨC CẦN THIẾT VỀ VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm vốn
Vốn là một khối lượng tiền tệ nào đó được ném vào lưu thông nhằm mục đích
kiếm lời. Tiền được sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau, cuối cùng là để mua sắm
tư liệu sản xuất và trả công cho người lao động, để thực hiện một chu kỳ sản xuất kinh
doanh hay một dịch vụ nào đó với mục đích thu về số tiền lớn hơn số tiền ban đầu bỏ
ra. Vì vậy vốn mang lại thặng dư cho doanh nghiệp. Quan điểm này đã chỉ rõ mục tiêu
của quản lý là sử dụng vốn nhưng mang tính trừu tượng, hạn chế về ý nghĩa đối với
hạch toán và phân tích quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Theo C.Marx, vốn là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư. Từ đó vốn
được xem xét dưới giác độ giá trị là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Để tiến
hành sản xuất, nhà tư bản ứng tiền ra để mua tư liệu sản xuất, sức lao động. Các yếu

Nguồn gốc sâu xa của vốn kinh doanh là một bộ phận của thu nhập quốc dân
được tái đầu tư để phân biệt vốn đất đai, vốn nhân lực.
Vốn kinh doanh tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh là tài sản vật chất:
(TSCĐ và tài sản dự trữ), và tài sản tài chính (Tiền, các khoản tương đương với tiền,
chứng khoán…) là cơ sở đề ra các biện pháp quản lý vốn kinh doanh của doanh nghiệp
một cách có hiệu quả. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự tiến bộ
khoa học kỹ thuật thì TSCĐ không chỉ dừng lại ở máy móc thiết bị mà ngày càng phát
triển phong phú đa dạng, giữa vai trò quan trọng trong việc tạo ra khả năng sinh lời của
doanh nghiệp: như nhãn hiệu, bản quyền phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ…
Trong quá trình vận động, vốn không tách rời chủ sở hữu, mỗi đồng vốn phải
được gắn với một chủ sở hữu nhất định. Trong nền kinh tế thị trường chỉ có thể xác
định được vốn chủ sở hữu thì đồng vốn mới sử dụng hợp lý không gây lãng phí và đạt
kết quả cao. Vốn có giá trị về mặt thời gian. Một đồng vốn ngày hôm nay có giá trị cao
7
hơn một đồng vốn ngày mai. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc tính toán lựa
chọn phương án đầu tư và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
Vốn được quan niệm là một loại hàng hoá đặc biệt trong nền kinh tế thị trường.
Những người có vốn có thể cho vay và những người cần vốn có thể đi vay, có nghĩa là
mua quyền sử dụng vốn của người có quyền sở hữu.
Vốn đưa vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời, đem lại lợi nhuận
cho doanh nghiệp trong tương lai. Vốn được biểu hiện bằng tiền, để biến đổi thành vốn
thì đồng tiền đó phải vận động sinh lời. Trong quá trình vận động vốn có thể thay đổi
hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải
là đồng tiền. Đồng tiền phải quay về nơi xuất phát với giá trị lớn hơn đó là mục tiêu
kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào, vì thế vốn phải được tích luỹ đến mức độ nhất
định.
1.1.2. Phân loại vốn trong doanh nghiệp
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tiêu hao các loại vật tư,
nguyên vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị, trả lương nhân viên… Đó là chi phí mà
doanh nghiệp bỏ ra để đạt được mục tiêu kinh doanh. Nhưng vấn đề đặt ra là chi phí

luỹ lại thành quỹ khấu hao, quỹ khấu hao này được sử dụng để tái đầu tư TSCĐ nhằm
duy trì năng lực sản xuất cho doanh nghiệp.
Bộ phận thứ hai: là phần giá trị còn lại của vốn cố định được cố định trong
TSCĐ, đó chính là giá trị còn lại của TSCĐ.
+ Vốn cố định hoàn thành một vòng luân chuyển sau nhiều chu kỳ sản xuất. Sau
mỗi chu kỳ sản xuất, phần VCĐ được luân chuyển vào giá trị sản phẩm dần tăng lên,
tương ứng với phần đầu tư ban đầu vào TSCĐ giảm xuống. Cho đến khi TSCĐ hết thời
gian sử dụng, giá trị TSCĐ được chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất thì
VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển.
Trong các doanh nghiệp, VCĐ là bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng tương
đối lớn trong toàn bộ vốn đầu tư nói riêng, vốn sản xuất kinh doanh nói chung. Quy mô
của VCĐ và trình độ quản lý sử dụng VCĐ là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến trình
độ trang bị kỹ thuật của sản xuất kinh doanh. Nên việc sử dụng VCĐ có ảnh hưởng
trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
* Vốn lưu động
9
Vốn lưu động (VLĐ) là số vốn ứng trước để thỏa mãn nhu cầu về đối tượng lao
động (tài sản lưu động – TSLĐ) cho quá trình sản xuất kinh doanh [6], [11]. Nói cách
khác, vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động của doanh nghiệp. Khác
với tư liệu lao động, đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất. Phần
lớn các đối tượng lao động thông qua quá trình chế biến để hợp thành thực thể của sản
phẩm, một số khác bị mất đi như các loại nhiên liệu.
Cùng với sự vận động của tài sản lưu động, vốn lưu động tham gia vào quá trình
sản xuất và chuyển qua nhiều hình thái khác nhau: Khởi đầu vòng tuần hoàn, vốn lưu
động từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vật tư hàng hóa dự trữ. Qua giai đoạn
sản xuất, vật tư được đưa vào chế tạo các bán thành phẩm, thành phẩm. Kết thúc vòng
tuần hoàn, sau khi sản phẩm được tiêu thụ, vốn lưu động lại trở về hình thái tiền tệ ban
đầu của nó.
Vốn lưu động được phân loại như sau:
- Theo vai trò của vốn: vốn lưu động gồm vốn lưu động trong khâu dự trữ sản

Trong hai loại vốn này vốn cố định chu chuyển được một vòng thì số lưu động đã
chuyển được nhiều vòng. Việc phân loại theo cách thức này giúp doanh nghiệp thấy
được cơ cấu, tỷ trọng của từng loại vốn. Từ đó doanh nghiệp chọn cho mình một cơ
cấu vốn hợp lý.
1.1.2.2. Căn cứ vào nguồn hình thành vốn
Trong nền kinh tế thị trường muốn tiến hành sản xuất, doanh nghiệp phải huy
động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Xét trên phương diện nguồn hình thành, vốn được
chia thành vốn chủ sỡ hữu và nợ phải trả.
* Vốn chủ sở hữu ( hay còn gọi là vốn tự có)
Là vốn do doanh nghiệp sở hữu hoặc đại diện cho chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu
có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau tùy theo từng loại hình doanh nghiệp
[4], [11].
- Vốn do nhà nước cấp: Các doanh nghiệp nhà nước được ngân sách cấp một
phần hoặc toàn bộ vốn khi bắt đầu hoạt động, có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn
do nhà nước cấp. Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp có thể được ngân sách nhà
11
nước cấp bổ sung hoặc được tài trợ vốn thông qua việc cấp tài sản, tín dụng ưu đãi hay
giảm thuế, giảm phí…
- Vốn tự có: Là phần vốn do chủ doanh nghiệp, chủ đầu tư bỏ ra để đầu tư vào
kinh doanh khi doanh nghiệp mới thành lập hoặc đầu tư dự án.
- Vốn cổ phần: Hình thành do phát hành cổ phiếu trên thị trường khi sáng lập
công ty. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có thể tăng vốn cổ phần bằng cách
phát hành thêm cổ phiếu ra thị trường. Tuy nhiên, cần thận trọng tính toán đến các yếu
tố thuộc về môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư để việc phát hành thêm cổ phiếu
đạt hiệu quả cao.
- Vốn tự bổ sung: Sau mỗi kỳ kinh doanh, doanh nghiệp có thể tự bổ sung vốn
từ các nguồn như quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ phát triển sản xuất,… trích từ lợi
nhuận hàng năm, hoặc từ chênh lệch giá được để lại, hay từ việc điều chỉnh lại cơ cấu
tài sản cố định của doanh nghiệp.
Quy mô vốn chủ sở hữu càng lớn sẽ là điều kiện để doanh nghiệp hoạt động một

hưởng bởi lãi suất tiền vay.
Thông thường, doanh nghiệp phải kết hợp cả hai nguồn vốn trên để đảm bảo đủ
vốn cho nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh, và cách phân loại này giúp cho các
nhà quản lý có thể xác định được mức độ an toàn trong công tác huy động vốn, tổ chức
sử dụng vốn sao cho vừa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh,
vừa đảm bảo an toàn về mặt tài chính với chi phí sử dụng vốn bình quân là thấp nhất.
1.2.2.3. Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn
* Vốn thường xuyên
Là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho toàn bộ tài sản cố định
của mình. Nguồn vốn vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn của doanh
nghiệp [6], [11].
Trong đó, nợ dài hạn là các khoản dài hạn hơn một năm hoặc phải trả sau một
kỳ kinh doanh, không phân biệt đối tượng cho vay và mục đích vay [6], [11].
* Vốn tạm thời
13
Đây là nguồn vốn dùng để tài trợ cho tài sản lưu động tạm thời của doanh
nghiệp [6], [11]. Nguồn vốn vay bao gồm: vay ngân hàng, tạm ứng, người mua vừa trả
tiền,…
Việc phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn giúp doanh nghiệp thấy
được yếu tố thời gian về vốn mà mình nắm giữ, từ đó lựa chọn nguồn tài trợ cho tài sản
của mình một cách thích hợp tránh tình trạng sử dụng nguồn vốn tạm thời để tài trợ cho
tài sản cố định.
1.1.2.4. Căn cứ vào hình thái biểu hiện
* Vốn hữu hình: bao gồm tiền và các loại giấy tờ có giá và những loại tài sản biểu
hiện bằng hiện vật khác nhau như đất đai,
* Vốn vô hình:
Là giá trị những tài sản vô hình như: vị trí địa lý của doanh nghiệp, bí quyết và
công nghệ chế tạo sản phẩm, mức độ uy tín của nhãn hiệu, sản phẩm trên thị trường,
Vốn vô hình có vai trò quan trọng trong việc tạo ra khả năng sinh lời của doanh
nghiệp. Vì khi góp vốn liên doanh, pháp luật cho phép các hội viên có thể góp vốn liên

từ khi thành lập doanh nghiệp thiết lập các dự án đầu tư, và song hành với sự sống còn
của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp sử dụng vốn tốt thì nó sẽ mang lại lợi nhuận cao và ngược lại
nếu việc sử dụng vốn trì trệ, bất cập thì nó sẽ kìm hãm quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Như vậy để nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng vốn, doanh nghiệp
phải tuân thủ một trong các nguyên tắc sau:
- Sử dụng vốn có mục đích rõ ràng
- Sử dụng vốn có lợi và tiết kiệm nhất
- Sử dụng vốn một cách hợp pháp
- Kiểm tra các chỉ tiêu tài chính về an toàn và hiệu quả
- Tính toán hiệu quả đầu tư
- Mở rộng thị trường thông qua các chính sách bán hàng
- Kiểm tra tốt các chi phí hoạt động
1.2.2. Vốn quyết định sự ổn định, đảm bảo tính liên tục trong quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Vốn là yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và xác lập vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Điều này càng thể hiện rõ trong
15
nền kinh tế thị trường hiện nay với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp phải
không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đầu tư hiện đại hóa công nghệ… tất cả những yếu
tố này muốn đạt được đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đủ lớn.
Đảm bảo đủ nguồn vốn sẽ giúp cho doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản
xuất kinh doanh một cách thường xuyên liên tục, doanh nghiệp có thể chớp được
thời cơ và có lợi thế cạnh tranh.
Để tiến hành tái sản xuất mở rộng sau một chu kỳ kinh doanh, vốn của doanh
nghiệp phải sinh lời, tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi đảm bảo vốn của doanh
nghiệp được bảo toàn và phát triển. Vốn là yếu tố quan trọng quyết định đến việc
mở rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp, là cơ sở để doanh nghiệp tiếp tục đầu
tư thâm nhập vào thị trường tiềm năng, từ đó tăng khối lượng tiêu thụ, nâng cao uy
tín của mình trên thương trường. Trong cơ chế bao cấp trước đây mọi nhu cầu về

1.3.1. Quản lý và sử dụng vốn cố định
Tài sản cố định là bộ phận tài sản có giá trị rất lớn, mang tính chất đầu tư lâu dài
của doanh nghiệp. Cải tiến việc sử dụng tài sản cố định có thể làm cho cùng một số
máy móc thiết bị giống nhau nhưng lại giúp hoàn thành khối lượng công việc lớn hơn;
từ đó, giúp tiết kiệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Mặt khác, cải tiến việc sử dụng tài
sản cố định còn có thể giúp hạ thấp được giá thành sản phẩm và chi phí lưu thông.
Quản lý tài sản cố định bắt đầu từ việc xác định nhu cầu về tài sản cố định, lập
phương án mua, lựa chọn, theo dõi cả về hiện vật và giá trị, xác định khi nào cần nâng
cấp, sửa chữa, thay mới,… Để sử dụng TSCĐ có hiệu quả, doanh nghiệp trước hết phải
xác định quy mô và chủng loại tài sản cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh. Các
quyết định đưa ra đòi hỏi doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ càng dựa trên cơ sở các
nguyên tắc và quy trình phân tích dự án đầu tư. Mua sắm quá nhiều TSCĐ mà không
sử dụng hết là sự lãng phí vốn, song nếu phương tiện không đủ so với lực lượng lao
động sẽ làm giảm năng suất lao động. Nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn cố định có thể
thấy các nguyên nhân của việc sử dụng vốn cố định không có hiệu quả thường là đầu tư
tài sản cố định quá mức cần thiết, tài sản cố định không sử dụng chiếm tỉ trọng lớn, sử
dụng tài sản cố định với công suất thấp hơn mức cho phép,…
Do đặc điểm của tài sản cố định nên việc quản lý tài sản cố định gắn liền với
việc quản lý quỹ khấu hao tài sản cố định. Xây dựng và thực hiện các phương án khấu
17
hao tiên tiến, khoa học không chỉ đảm bảo cho doanh nghiệp không ăn dần vào vốn, có
mức giá thành sản phẩm hợp lý, mà còn là điều kiện để bù đắp, sửa chữa, nâng cấp và
sớm đổi mới máy móc thiết bị, củng cố phát triển năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Để quản lý và sử dụng hiệu quả số tiền trích khấu hao, doanh nghiệp cần dự kiến phân
phối sử dụng tiền trích khấu hao trong kỳ. Nói chung, điều này tùy thuộc vào cơ cấu
nguồn vốn đầu tư ban đầu để hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp.
Đối với các tài sản cố định được mua sắm từ nguồn vốn chủ sở hữu, doanh
nghiệp được chủ động sử dụng toàn bộ số tiền khấu hao lũy kế thu được để tái đầu tư,
đổi mới tài sản của mình. Khi chưa có nhu cầu đầu tư tái tạo lại tài sản cố định, doanh
nghiệp có thể sử dụng linh hoạt số tiền khấu hao thu được để phục vụ các yêu cầu kinh

gia hạn thanh toán nên phải trả lãi cao hơn, …
- Dự đoán và quản lý các luồng nhập, xuất ngân quỹ
Công việc này thường thể hiện ở việc tiến hành lập các bảng kế hoạch dòng
tiền. Bảng kế hoạch dòng tiền vừa được lập tổng hợp cho từng năm, tháng, vừa chi tiết
cho từng tháng và tuần; trong đó, thể hiện rõ dự kiến về các nguồn tiền doanh nghiệp
có thể thu và các khoản mà doanh nghiệp phải chi tiêu. Trên cơ sở so sánh các luồng
nhập và xuất ngân quỹ, doanh nghiệp có thể thấy được mức dư hay thâm hụt ngân quỹ;
từ đó thực hiện các biện pháp cân bằng thu chi ngân quỹ như tăng tốc độ thu hồi các
khoản nợ phải thu, khéo léo trì hoãn các khoản nợ đang trong quá trình thanh toán, vay
vốn ngân hàng,… trong trường hợp thâm hụt hoặc thực hiện các khoản đầu tư trong
thời hạn cho phép để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong trường hợp thặng dư ngân
quỹ.
1.3.2.2. Quản lý vốn tồn kho dữ trự
Tồn kho dự trữ của doanh nghiệp là những tài sản mà doanh nghiệp lưu giữ
để sản xuất hoặc bán ra sau này. Trong các doanh nghiệp tài sản tồn kho dự trữ
thường ở ba dạng: nguyên vật liệu; nhiên liệu dự trữ sản xuất; các sản phẩm dở
dang và bán thành phẩm, các thành phẩm chờ tiêu thụ. Tùy theo ngành nghề kinh
doanh mà tỷ trọng các loại tài sản dự trữ trên có khác nhau.
19
Việc quản lý tồn kho dự trữ trong các doanh nghiệp là rất quan trọng, không
phải chỉ vì trong doanh nghiệp tồn kho dự trữ chiếm một tỷ trọng đáng kể trong
tổng tài sản của doanh nghiệp mà điều quan trọng là nhờ xác định được mức tồn
kho dự trữ hợp lý giúp doanh nghiệp tiến hành kinh doanh thuận lợi, giúp doanh
nghiệp tránh được việc trả giá cao hơn cho việc đặt hàng với số lượng nhỏ và
những rủi ro trong việc chậm trễ hoặc ngừng trệ sản xuất do thiếu vật tư, thậm chí
phải cắt giảm bớt đơn đặt hàng do không sản xuất được. Nếu doanh nghiệp tính
toán không hợp lý có thể dẫn đến tình trạng dự trữ quá nhiều so với nhu cầu, sẽ
không thực hiện được nguyên tắc tiết kiệm chi phí vì dự trữ lớn dẫn đến ứ đọng vật
tư làm giảm giá, hỏng hóc, biến chất, làm tăng chi phí lưu kho, dẫn đến tình trạng
sử dụng vật tư lãng phí, giảm tốc độ chu chuyển vốn lưu động.

gia hạn nợ, chấp nhận thanh toán từng phần, chấp nhận thanh toán bằng hàng hóa hoặc
yêu cầu tòa án kinh tế giải quyết.
1.4. HIỆU QUẢ VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
1.4.1. Khái niệm và phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng vốn
1.4.1.1. Khái niệm
Để đánh giá trình độ quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, người ta sử dụng thước đo là hiệu quả kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh
trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất. Hiệu quả kinh doanh còn được thể
hiện sự vận dụng khéo léo của các nhà quản trị doanh nghiệp giữa lý luận và thực tế
nhằm khai thác tối đa các yếu tố của quá trình sản xuất như máy móc, thiết bị nguyên
vật liệu, nhân công để nâng cao lợi nhuận.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu mang tính thường xuyên và bắt buộc
đối với doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng vốn thể hiện hiệu quả kinh doanh nói chung và
trình độ quản lý vốn nói riêng. Hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp là chỉ tiêu phản ánh kết quả tổng hợp nhất quá trình sử dụng các loại vốn. Đó là
sự tối thiểu hoá vốn cần sử dụng và tối đa hoá kết quả hay khối lượng nhiệm vụ sản xuất
kinh doanh trong giới hạn nguồn nhân lực, vật lực, phù hợp với kinh tế nói chung [4] ,
[11].
21
Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hoá thông qua hệ thống chỉ tiêu về khả năng
sinh lời độ luân chuyển vốn… Nó phản ánh quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của quá
trình sản xuất kinh doanh thông qua thước đo tiền tệ [4],[11].
Ta có công thức là:
G
Hv = ─── (1)
V
Trong đó:
Hv: Là hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp

So sánh chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh
chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến động cả về số tương đối và tuyệt đối
của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp.
* Phương pháp tỷ lệ: Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của
đại lượng chỉ tiêu này trong các quan hệ tỷ lệ với các đại lượng của chỉ tiêu khác. Về
nguyên tắc thì phương pháp tỷ lệ đòi hỏi phải xác định được các ngưỡng, các định mức
để nhận xét, để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ
lệ của doanh nghiệp với tỷ lệ tham chiếu.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành các
nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu hoạt động của
doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ lệ về cơ cấu các loại sản phẩm hàng hoá của doanh
nghiệp, nhóm tỷ lệ về doanh thu bán hàng từ các sản phẩm hàng hoá, nhóm tỷ lệ về chi
phí theo khoản mục trong giá thành sản phẩm hàng hoá, nhóm tỷ lệ khả năng thanh
toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh
doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời. Mỗi nhóm tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ
phận của hoạt động tài chính, trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân
tích, lựa chọn những nhóm chỉ tiêu khác nhau. Để phục vụ cho việc phân tích hiệu quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp, người ta phải tính đến hao mòn vô hình và sự phát triển
không ngừng của tiến bộ khoa học kỹ thuật …
1.4.2. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp
1.4.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
* Tỷ suất sinh lời của tài sản
23
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Hệ số sinh lợi tổng tài sản = (2)
VKD bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng tài sản đầu tư thì thu được bao
nhiêu đồng lợi nhuận kế toán trước thuế thu nhập doanh nghiệp và lãi vay. Chỉ tiêu này
càng cao, chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản tốt, đó là nhân tố góp phần nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn [4], [5], [11].

lợi nhuận sau thuế, tức là cho thấy hiệu quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp.
Cụ thể hơn, nó còn phản ánh một đồng doanh thu hoặc một đồng VKD bình quân có
thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp [4], [9], [11] thể hiện qua công
thức sau:
ROE =
Lợi nhuận sau thuế (NI)
(7)
Vốn chủ sở hữu bình quân (E)
abcROE
=
Lợi nhuận sau thuế
x
Doanh thu thuần
x
VKD bình quân
Doanh thu thuần
VKD bình quân Vốn CSH bình quân
* Vòng quay toàn bộ vốn
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển vốn của doanh nghiệp trong một kỳ
quay được bao nhiêu vòng. Qua chỉ tiêu này đánh giá được khả năng sử dụng tài sản
của doanh nghiệp hoặc doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản đã đầu tư. chỉ tiêu này
càng cao chứng tỏ vòng quay vốn kinh doanh càng lớn thể hiện hiệu quả kinh doanh
càng cao [9], [11].
Vòng quay vốn kinh doanh =
Doanh thu thuần trong kỳ
(9)
Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
1.4.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
* Hệ số thanh toán ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn =


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status