: PHÂN TÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ CHỨNG KHOÁN
2.1 Doanh lợi và rủi ro trong đầu tư chứng khoán
2.1.1 Doanh lợi trong đầu tư chứng khoán
Doanh lợi trong đầu tư chứng khoán được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
● Mức sinh lời tuyệt đối
Mức sinh lời của một khoản đầu tư là phần chênh lệch giữa kết quả thu được sau
một khoảng thời gian đầu tư và phần vốn gốc mà nhà đầu tư bỏ ra ban đầu.
Thu nhập mà nhà đầu tư nhận được trong đầu tư chứng khoán bao gồm:
(1) Cổ tức (D), trái tức (C) do sở hữu cổ phiếu, trái phiếu.
(2) Lãi (hoặc lỗ) về vốn đầu tư: là mức chênh lệch giữa giá bán (Pt) và giá mua
chứng khoán (P
0
):
Lãi (hoặc lỗ) về vốn đầu tư = Pt – P
0
Tổng mức sinh lời = cổ tức (trái tức) ± lãi (lỗ) về vốn
(3) Ngoài các khoản thu nhập trên, khi đầu tư cổ phiếu, nhà đầu tư còn có thể
nhận được thu nhập từ chênh lệch giữa giá bán cổ phiếu thực tế trên thị trường với giá
quyền mua chứng khoán mà nhà đầu tư được hưởng.
● Mức sinh lời tương đối
Mức sinh lời tương đối (Rt) phản ánh 1 đồng vốn đầu tư trong 1 năm mang lại bao
nhiêu thu nhập, nó là cơ sở để so sánh các khoản đầu tư khác nhau.
(Pt - P
0
) + D(hoặc C)
Rt =
P
0
Trên thực tế để so sánh được mức sinh lời giữa các tài sản có thời gian đáo hạn
khác nhau, người ta thường sử dụng mức sinh lời theo năm. Nếu một tài sản có mức sinh
lời trong thời gian m tháng là Rm thì mức sinh lời năm (Rn) sẽ là:
huống xảy ra.
E(r) = ∑ Pi Ri i =1 → n
Trong đó: - Pi là xác suất xảy ra của các tình huống i. (Tổng Pi = 100%)
- Ri là doanh lợi kì vọng tương ứng với các tình huống i.
2.1.2 Rủi ro và đo lường rủi ro đầu tư chứng khoán
2.1.2.1 Rủi ro trong đầu tư chứng khoán
● Khái niệm rủi ro
Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả, là khả năng xảy ra của những
điều không mong muốn và khi nó xảy ra thì mang lại những tổn thất. Khác với sự không
chắc chắn rủi ro có thể đo lường được.
Trong đầu tư chứng khoán, rủi ro được định nghĩa là khả năng hay xác suất xảy ra
những kết quả đầu tư ngoài dự kiến, hay cụ thể hơn rủi ro là khả năng làm cho mức sinh
lợi thực tế nhận được trong tương lai khác với mức sinh lời dự kiến (thấp hơn) ban đầu.
● Các loại rủi ro
Sự dao động của thu nhập, dao động của giá chứng khoán hay cổ tức (lãi suất) là
những yếu tố cấu thành rủi ro.
Rủi ro hệ thống
Rủi ro hệ thống là những rủi ro do các yếu tố, các sự kiện nằm ngoài công ty,
công ty không thể kiểm soát được và nó có tác động rộng rãi đến toàn bộ thị trường, đến
tất cả các chứng khoán.
+ Rủi ro thị trường
Sự biến động giá chứng khoán do phản ứng của các nhà đầu tư trước các sự kiện
hữu hình / sự kiện thực tế (các sự kiện kinh tế chính trị xã hội…) xảy ra, hoặc các sự
kiện vô hình nảy sinh do yếu tố tâm lí, mặc dù tình hình của công ty/ tổ chức phát hành
chứng khoán vẫn không thay đổi. Rủi ro thị trường thường xuất phát từ những sự kiện
thực tế, nhưng do tâm lí không vững vàng của các nhà đầu tư nên họ hay phản ứng vượt
quá các sự kiện đó.
- Do sự thay đổi về môi trường kinh tế, chính trị, xã hội
- Do kì vọng, tâm lí của nhà đầu tư thay đổi
- Do đầu cơ
+ Rủi ro thanh khoản
- Khối lượng CP ít → khó mua bán
- Khối lượng giao dịch bình quân thấp, giá giảm → khó bán
- Lưu kí chứng khoán ít → khó bán
2.1.2.2 Đo lường rủi ro
Trong tài chính, người ta thường sử dụng toán xác suất thống kê để đo lường rủi
ro trong mức sinh lời của 1 loại, hoặc 1 danh mục chứng khoán bởi các thước đo:
phương sai hoặc độ lệch chuẩn (căn bậc hai của phương sai).
Phương sai (kí hiệu Var hay σ
2
)
được tính theo công thức sau:
σ
2
= ∑ { Pi [Ri - E(r)]
2
} i =1→n
Trong đó: Pi là xác suất của trạng thái i
Ri là doanh lợi kì vọng ứng với từng trạng thái i
E(r) là doanh lợi kì vọng của chứng khoán
Độ lệch chuẩn (kí hiệu SD/ σ) = √ σ
2
Độ lệch chuẩn phản ánh mức biến động (dao động) hay mức rủi ro của doanh lợi
kì vọng của 1 chứng khoán, hoặc 1 danh mục chứng khoán. Độ lệch chuẩn càng cao thì
rủi ro đầu tư chứng khoán càng lớn.
2.2. Phân tích đầu tư chứng khoán
Trước khi tiến hành đầu tư vào bất kì chứng khoán nào, cần phải xem xét việc đầu
3
tư đó trong mối quan hệ so sánh với các cơ hội đầu tư khác. Do đó cần tiến hành phân
giá, tỉ lệ tham gia đặt lệnh,…
+ Hành vi của nhà đầu tư CK: có phải là nhà đầu tư theo lí trí, nhà đầu tư tích cực
hay thụ động, có phải là nhà đầu tư ngắn hạn,…
● Phân tích ngành
+ Ngành là gì?
Theo Porter, ngành là 1 nhóm các công ty cung cấp các sản phẩm và dịch vụ
tương tự nhau, vì vậy cạnh tranh trực tiếp với nhau.
+ Lí do phải phân tích ngành:
+ Mục tiêu phân tích ngành:
+ Phương pháp phân tích ngành:
- Phân tích thị trường: định vị giai đoạn phát triển của ngành - mô hình vòng đời
sản phẩm.
Các nhân tố tác động đến sự phát triển của ngành: nhà cung cấp, khách hàng hay
người tiêu dùng, hàng hóa và dịch vụ thay thế, sự đe dọa gia nhập thị trường, chính sách
đối với ngành của Chính phủ.
- Phân tích đối thủ cạnh tranh
● Phân tích doanh nghiệp
4
+ Mục tiêu:
- Đánh giá tổng quan về doanh nghiệp: quá trình ra đời và phát triển, ngành nghề
kinh doanh, thị trường, công nghệ, nhân lực, quản trị, điểm mạnh, yếu, cơ hội, thách thức
và triển vọng
- Đánh giá khả năng sinh lời: ROA, ROE, P/E…
- Đánh giá tình trạng tài chính: cơ cấu vốn, tài sản, khả năng thanh toán
- Định giá chứng khoán
+ Quy trình phân tích:
- Thu thập thông tin: thông tin nội bộ, thông tin bên ngoài, thông tin kế toán, quản
trị (các báo cáo tài chính của công ty: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh,
báo cáo lưu chuyển tiền tệ…).
- Xử lí thông tin: so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân
ty.
♦ Nội dung phân tích:
Trên cơ sở hệ thống số liệu đã được phản ánh ở các báo cáo tài chính liên quan, để
đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp người ta thường tính toán và phân tích một số
5
các chỉ tiêu sau:
● Các chỉ tiêu phản ánh tình hình thanh toán
Hệ số
thanh toán chung
=
Tổng giá trị tài sản
Tổng nợ
(1)
Hệ số thanh toán chung phản ánh 1 đồng nợ được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài
sản của doanh nghiệp. Nhìn chung, hệ số này càng cao, chứng tỏ khả năng thanh toán
của doanh nghiệp là tốt, doanh nghiệp chủ động được nguồn vốn trong kinh doanh. Nếu
hệ số này bằng 1 hoặc nhỏ hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng mất hết
vốn chủ sở hữu và đang đi đến bờ vực phá sản.
Hệ số thanh toán
nợ dài hạn
=
Giá trị TSCĐ và ĐTDH
Tổng nợ dài hạn
(2)
Hệ số thanh toán nợ dài hạn phản ánh 1 đồng nợ dài hạn được đảm bảo bằng bao
nhiêu đồng tài sản dài hạn của doanh nghiệp.
Hệ số thanh toán
nợ ngắn hạn
=
Giá trị TSLĐ và ĐTNH
(6)
Nhìn chung hệ số tự tài trợ cao phản ánh doanh nghiệp rất chủ động về vốn trong
kinh doanh. Tuy nhiên tùy theo đặc điểm ngành nghề kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
mà có kết cấu nguồn tài trợ và cơ cấu tài sản khác nhau. Do vậy không thể dựa vào từng
chỉ tiêu mà có những đánh giá xác đáng về doanh nghiệp.
Tỉ trọng
=
Giá trị TSCĐ và ĐTDH (7)
6
vốn cố định Tổng tài sản
Tỉ trọng
vốn lưu định
=
Giá trị TSLĐ và ĐTNH
Tổng tài sản
(8)
Các chỉ tiêu phản ánh quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn (9)
- Quan hệ giữa TSCĐ và nguồn dài hạn
Nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp = Vốn chủ sở hữu (Vcsh) + Nợ dài hạn
(Nợdh)
Nếu TSCĐ > Nguồn dài hạn chứng tỏ nguồn tài trợ không hợp lý, doanh nghiệp dễ
lâm vào tình trạng thiếu và mất khả năng thanh toán do dùng nguồn ngắn hạn tài trợ cho
tài sản dài hạn.
- VLĐ thường xuyên = Vcsh + Nợdh - Giá trị còn lại của TSCĐ (VCĐ)
- Vốn lưu động thuần = TSLĐ và ĐTNH - Tổng nợ ngắn hạn
(Net working capital)
● Các chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động của tài sản
Vòng quay
hàng tồn kho
=
(12)
Kỳ thu tiền bình quân
=
Phải thu bình quân
Doanh thu bán chịu bquân 1 ngày
(13)
Kì thu tiền bình quân phản ánh số ngày cần thiết để chuyển các khoản phải thu từ
người mua thành tiền. Nó cho thấy hiệu quả của cơ chế quản lí tín dụng của doanh
nghiệp.
Nếu chính sách tín dụng của doanh nghiệp không thay đổi, vòng quay khoản phải
thu bình quân tăng, hay kì thu tiền bình quân ngắn hơn so với kì trước thường được coi
7
là tốt, bởi các tác động tích cực sau:
- Làm giảm vốn bị ứ đọng trong khâu thanh toán,
- Giảm nhu cầu vốn của doanh nghiệp (trong điều kiện quy mô sản xuất không thay
đổi).
- Tăng hiệu quả sử dụng vốn.
- Tăng khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn cho chủ nợ.
Ngược lại, nếu chính sách tín dụng của doanh nghiệp không thay đổi, vòng quay
khoản phải thu bình quân giảm, hay kì thu tiền bình quân dài hơn so với kì trước thường
được đánh giá là không tốt. Nguyên nhân của tình trạng đó có thể là:
- Công tác giám sát, quản lí nợ của doanh nghiệp không tốt.
- Khách nợ cố tình chây ỳ, hoặc lâm vào tình trạng thiếu / mất khả năng thanh toán.
- Kết quả của những biện pháp nhằm duy trì khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp…
Lưu ý: cần thận trọng khi phân tích trong các trường hợp, vòng quay khoản phải
thu tăng song lại phản ánh xu hướng tài chính không tốt do các khoản phải thu giảm kéo
theo kết quả tiêu thụ giảm. Cần phân tích kĩ nguyên nhân để có cách nhìn nhận đánh giá
chính xác.
Kỳ thanh toán (phải trả)
(ROE)
=
Lợi nhuận sau thuế
Tổng vốn CSH bình quân
(18)
ROE thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu khác trên
thị trường. Thông thường ROE càng cao thì cổ phiếu càng hấp dẫn, vì tỉ số này cho thấy
được khả năng sinh lời của công ty so với các công ty khác. Chỉ số này là thước đo chính
xác nhất để đánh giá một đồng vốn của cổ đông bỏ ra tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
ROE cao chứng tỏ công ty sử dụng có hiệu quả đồng vốn của cổ đông. Từ đó nhà đầu tư
có cơ sở tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty X hay công ty Y có cùng
ngành nghề với nhau.
Thu nhập ròng một cổ
phiếu thường (EPS)
=
Lợi nhuận ròng - cổ tức cổ phiếu ưu đãi
Tổng khối lượng cổ phiếu thường đang lưu hành
(19)
8
Tài sản ròng một cổ
phiếu thường (NAV)
=
Tổng tài sản - Tổng nợ - Tổng mệnh giá CPUĐ
Tổng khối lượng cổ phiếu thường đang lưu hành
(20)
Cổ tức một cổ phiếu
thường (DPS/ DIV)
=
Thu nhập ròng - Cổ tức CPUĐ - Thu nhập giữ lại
Tổng khối lượng cổ phiếu thường đang lưu hành
(P/E)
=
Thị giá cổ phiếu (market price - Pm)
Thu nhập ròng của một cổ phiếu (EPS)
(25)
P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư
phải trả giá cho mỗi đồng thu nhập.
Một công ty hiện tại có thu nhập chưa cao, nhưng lại được thị trường đánh giá cao
về tiềm năng phát triển thì P/E sẽ cao, và ngược lại.
Chỉ số thị giá / thư giá
(M/B)
=
Thị giá cổ phiếu (market price - Pm)
Giá trị sổ sách 1 CP thường
(26)
Chỉ tiêu này cho biết giá cổ phiếu đang bán trên thị trường đắt hơn, rẻ hơn hay bằng
mệnh giá. Tương tự như P/E, chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ công ty được đánh giá có
triển vọng phát triển trong tương lai.
9
Tốc độ tăng trưởng (growth rate)
=
Tỉ lệ thu nhập giữ lại (b) x ROE (27)
Quy trình và kĩ thuật phân tích đầu tư bằng các chỉ số tài chính:
Trên thực tế, số lượng các loại chứng khoán được cung ứng cho thị trường là rất
lớn. Vì vậy, nhà đầu tư không thể tiến hành phân tích tất cả các loại chứng khoán hiện có
trên thị trường. Ngay cả các nhà phân tích chuyên nghiệp, tùy theo điều kiện và những
thế mạnh riêng mà họ có thể chỉ chuyên phân tích chứng khoán ở một ngành hoặc một
nhóm ngành nhất định. Để đạt hiệu quả cao trong phân tích, nhà đầu tư cần tuân thủ một
quy trình bao gồm các bước sau :
- (1) Lựa chọn 1 vài doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực (ngành) mà mình quan tâm để
nên đi kèm với các mục tiêu đã đề ra, đồng thời phải xem xét đến các yếu tố rủi ro thích
hợp.
- Đa dạng hóa danh mục đầu tư để giảm thiểu tỉ lệ rủi ro và tăng cơ hội thu thêm
lợi nhuận.
(2) Giới hạn thời gian đầu tư quá ngắn
Hầu hết các nhà đầu tư thường qua tập trung vào các hoạt động đầu tư mang tính
10
ngắn hạn. Đó chính là sai lầm thứ hai mà họ mắc phải.
(3) Tập trung sự chú ý quá nhiều vào các thông tin tài chính do các phương tiện
thông tin đại chúng đưa ra
(4) Không có sự tái cân bằng
Tái cân bằng là một tiến trình khiến cho số tiền đầu tư vào các khoản mục tài sản
trong danh mục đầu tư quay trở về đúng với mục tiêu ban đầu. Nhìn chung các nhà đầu
tư có xu hướng không muốn bán những cổ phiếu đang đắt giá để đề phòng trường hợp
khi cổ phiếu đó giảm giá thì danh mục sẽ trở về mức cân bằng như cũ. Những cách suy
nghĩ như vậy là cách suy nghĩ trong thời điểm ngắn hạn. Tái cân bằng một cách có ý
thức sẽ gặt hái được những thành quả trong dài hạn.
(5) Quá tin tưởng vào năng lực của những nhà quản lí quỹ đầu tư
Trên thực tế hiếm có các nhà đầu tư cá nhân có đủ thời gian để tính toán đầu tư
mang về lợi nhuận trong dài hạn. Đó chính là lí do tại sao có quá nhiều nhà đầu tư tin
tưởng vào việc đầu tư vào các quỹ và cho rằng năng lực của các nhà quản lí quỹ trong
việc tính toán lợi nhuận trên thị trường là hơn hẳn họ.
(6) Không quan tâm đến các quỹ đầu tư chỉ số
Khái niệm đầu tư theo chỉ số không còn mới với thế giới, nhưng lại khá mới đối
với các nhà đầu tư Việt nam. Theo phương pháp này, đầu tư sẽ thực hiện vào toàn bộ thị
trường nên rủi ro sẽ thấp hơn so với đầu tư vào từng công ty. Các nghiên cứu đã chứng
minh phần lớn các nhà quản lí quỹ đầu tư ở dưới mức chuẩn cho phép.
(7) Chạy theo thành tích lợi nhuận
Rất nhiều nhà đầu tư chọn các hạng mục tài sản, các chiến lược, các nhà quản lí
và các quỹ đầu tư dựa trên những thành tích lớn hiện tại. Cảm giác “đang bỏ lỡ một cơ
cung cầu thì khả năng tăng giá của cổ phiếu là dễ dàng hơn.
- L (Leader and Laggard) - Cổ phiếu hàng đầu hay bị xếp hạng thấp: Theo J.Oneil
chỉ nên mua 2 hay 3 cổ phiếu tốt nhất trong toàn nhóm. Đặc biệt tránh mua các cổ phiếu
tăng theo đuôi vì các cổ phiếu này không sớm thì muộn cũng sụt giá.
- I (Institutional Sponsorship) - Các định chế nói tới ở đây thường là các cơ quan
chức năng, các cơ quan chính phủ chuyên về tài chính đầu tư. Nếu các cơ quan này nắm
giữ số lượng cổ phiếu nhất định của một công ty nào đó thì công ty ấy sẽ có sự ủng hộ và
trợ giúp mạnh mẽ từ các định chế đó, rất thuận lợi cho giá cổ phiếu tăng mạnh. Tuy
nhiên cần chú ý đối với những cổ phiếu được các định chế này nắm giữ với số lượng quá
lớn.
- M (Market Direction) - Chiều hướng biến động của thị trường: Bạn có thể đúng
trong tất cả các tiêu chí kể trên nhưng nếu bạn sai lầm về phương hướng thị trường, thì
có thể 3 trong số 4 cổ phiếu bạn mua sẽ giảm giá và bạn sẽ mất tiền. Yếu tố thị trường
đặc biệt quan trọng vì nó ảnh hưởng mạnh mẽ tới giá cổ phiếu. J.Oneil nhấn mạnh đến
tầm quan trọng của việc nghiên cứu đồ thị biến động giá chứng khóan theo ngày.
2.2.1.3. Phân tích mẫu một số công ty niêm yết
● Tình huống: Công ty cổ phần Cáp và Dây điện Viễn thông
Công ty cổ phần Cáp và Dây điện Viễn thông (SACOM) được thành lập từ tháng
2/1998 trên cơ sở nhà máy Cáp và Vật liệu Viễn thông.
● Cơ cấu vốn
- Vốn điều lệ ban đầu: 120.000 triệu đồng
- Vốn điều lệ hiện nay: 234.000 triệu đồng
- Số cổ phiếu niêm yết: 23.400.000
Cổ đông Số tiền (triệu đồng) Tỉ lệ sở hữu
Nhà nước 88.059,45 38%
Cổ đông khác 145.940,55 62%
● Kết quả kinh doanh 2 năm 2004 -2005
Đơn vị tính : triệu đồng
Chỉ tiêu 2004 2005 So sánh
2005/2004
Trong đó: phải thu khách hàng 81,205 56,532 166,101
3.Hàng tồn kho 46,365 165,312 199,238
4.TSLĐ khác 3,536 1,589 4,606
II.TSCĐ và đầu tư dài hạn 107,039 129,970 244,561
1.Phải thu dài hạn khách hàng 64,330
2.TSCĐ hữu hình 83,948 59,343 77,932
3.TSCĐ vô hình 12,085 12,085 952,000
4.Các khoản đtư tchính dhạn 7,211 14,291 99,677
5.Chi phí XDCB dở dang 3,795 39,214 45,000
6.Chi phí trả trước dài hạn 5,036 1,625
Tổng tài sản 282,333 421,827 903,613
I.Nợ phải trả 62,788 164,589 347,992
1.Nợ ngắn hạn phải trả 46,946 148,907 326,754
-Vay ngắn hạn 89,560 210,621
-Phải trả người bán 18,502 20,524 57,521
2.Nợ dài hạn 0 0 0
II.Nguồn vốn chủ sở hữu 219,545 257,238 555,621
1.Nguồn vốn kinh doanh 180,000 180,000 234,000
2.Thặng dư vốn cổ phần 184,140
3.Các quỹ 39,545 77,238 137,481
4.Lợi nhuận chưa phân phối
Tổng nguồn vốn 282,333 421,827 903,613
Nhận xét: nhìn chung, trong thời gian qua tổng tài sản của công ty không ngừng tăng
lên, nhất là năm 2005, tập trung chủ yếu vào 1 số khoản mục:
- Công ty phát hành cổ phiếu phổ thông tăng vốn điều lệ lên 54 tỉ đồng. Thặng dư
vốn 184,14 tỉ đồng.
- Mở rộng quy mô kinh doanh, doanh thu tăng, đồng thời tăng cường cho khách
hàng trả chậm.
- Trong kì công ti tiếp tục đầu tư TSCĐ để mở rộng quy mô sản xuất. Nguồn tài
trợ chủ yếu là nguồn vốn kinh doanh và trích từ quỹ phát triển kinh doanh của công ty.
Kì thu tiền bình
quân
Kì phải trả bình
quân
Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời và phân phối thu nhập
Tỉ suất sinh lời
trên tổng tài
sản - ROA
Lợi nhuận ròng
/ tổng tài sản
bình quân
0,24 0,19 0,13
Tỉ suất sinh lời
trên vốn chủ sở
hữu - ROE
Lợi nhuận ròng
/ vốn chủ sở
hữu
0,33 0,31 0,35
Thu nhập trên
mỗi CPT- EPS
3.833,37 4.060,85 4.409,74
Tỉ lệ chi trả cổ
tức
Các chỉ tiêu về triển vọng phát triển của công ty
Hệ số giá / thu
nhập
Thị giá CP /
EPS
9,91 10,22 10,77
khoảng 10 - 15%.
● Phân tích mô hình SWOT
* Điểm mạnh (Strengths)
- Vốn lớn. Tiềm lực vốn của công ty lớn nhất trong số 3 công ty sản xuất cáp đồng
hiện nay.
- Nguồn nhân lực có trình độ khá cao, nhiều kinh nghiệm. Bộ máy lãnh đạo hoạt
động hiệu quả, đặt lợi ích của công ty làm mục tiêu phấn đấu.
- Công nghệ: dây chuyền sản xuất cáp đạt tiêu chuẩn quốc tế. Công suất hoạt động
của nhà máy lớn, tăng năng lực sản xuất của công ty. Đặc biệt trong thời gian qua công
ty đã không ngừng đổi mới máy móc thiết bị thể hiện qua việc TSCĐ không ngừng tăng
lên.
- Chất lượng sản phẩm: thế mạnh cạnh tranh của SACOM tại thị trường nội địa là
các sản phẩm có chất lượng cao mà giá thành rẻ hơn 10% so với sản phẩm cùng loại.
- SACOM sản xuất và tiêu thụ thành công các sản phẩm mới tại thị trường trong
và ngoài nước.
- SACOM có uy tín cao và thương hiệu mạnh trên thị trường (hiện nay SAM
chiếm khoảng 45% thị phần trong nước).
* Điểm yếu (Weaknesses)
- Các sản phẩm mới tuy được sự chấp nhận của thị trường, song quy mô còn nhỏ,
hàm lượng chất xám công nghệ chưa cao.
- Mạng lưới tiêu thụ phụ thuộc rất lớn (90%) vào chính sách tiêu thụ sản phẩm
của VNPT và Bộ chủ quản.
- Áp lực cạnh tranh và áp lực về giá ngày càng cao. SAM cần có biện pháp hợp lí
hóa sản xuất để hạ giá thành, cần phải tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm để thu hút đơn
đặt hàng.
- Phần lớn nguyên vật liệu phục vụ sản xuất đều nhập khẩu từ nước ngoài, sản
phẩm của công ty phụ thuộc nhiều vào sự biến động của thị trường nước ngoài.
* Cơ hội (Opportunities)
- Hiện nay SAM đang chiếm thị phần 45%. Với chính sách đầu tư dài hạn hợp lí,
SAM có nhiều khả năng mở rộng thị phần trong nước và nước ngoài.
SACOM có tốc độ tăng trưởng doanh số, năng lực sản xuất vào loại khá cao so
với các công ty niêm yết khác. Từ 1998 đến nay, tốc độ tăng trưởng doanh thu trung bình
36,17% năm, lợi nhuận tăng trưởng trung bình 25,07% năm, doanh thu năm 2004 lớn
gấp 4 lần so với năm 2000, doanh thu năm 2005 bằng 1,72 lần doanh thu năm 2004.
Năm 2003 công ty tăng vốn điều lệ từ 120 tỉ lên 180 tỉ đồng bằng lợi nhuận tích lũy.
Năm 2005, công ty tăng vốn điều lệ lên 234 tỉ đồng bằng phát hành cổ phiếu.
►Kết luận
Là 1 công ty được nhiều ưu ái của ngành bưu chính viễn thông, với ROE luôn ở
mức 25 - 30% năm, SAM được đánh giá là 1 trong 5 CP sáng giá nhất trong rổ chứng
khoán ở sàn HCM khoảng thời gian 2005.
2.2.2. Phân tích kĩ thuật
2.2.2.1. Khái niệm và mục đích của phân tích kĩ thuật
Phân tích kĩ thuật là phương pháp phân tích dựa vào các diễn biến của giá và khối
lượng giao dịch trong quá khứ để dự đoán xu thế giá trong tương lai. Các nhà phân tích
kĩ thuật sử dụng các công thức toán học và đồ thị để xác định xu thế thị trường của 1 loại
cổ phiếu nào đó, từ đó đưa ra quyết định thời điểm thích hợp để mua hoặc bán. Việc xác
định thời điểm có ý nghĩa hết sức quan trọng, đặc biệt là tại các thị trường hay biến động
và khi thực hiện chiến lược đầu tư ngắn hạn.
- PTKT nghiên cứu biến động của thị trường, chủ yếu sử dụng các đồ thị nhằm
mục đích dự báo xu hướng giá trong tương lai nếu các nhà phân tích có được ba thông
tin cơ bản của sự biến động thị trường: giá, khối lượng và trạng thái mở của thị trường
(phản ánh tính thanh khoản tiềm năng của thị trường).
- PTKT nghiên cứu các hành vi thị trường trong quá khứ để xác định thực trạng
và điều kiện thị trường trong hiện tại.
- PTKT là hoạt động nghiên cứu hành vi của thành viên thị trường, như được
phản ánh qua giá, khối lượng, trạng thái mở của thị trường trong một thị trường tài chính,
nhằm xác định các giai đoạn trong sự phát triển của xu hướng giá.
16
- PTKT được áp dụng như là một khâu trong quá trình đưa ra quyết định đầu tư
hoặc giao dịch trên thị trường tài chính. Với yếu tố chú trọng tính thời điểm, PTKT được
thời gian xác định.
- Các xu thế trội thay đổi tương ứng với những sự dịch chuyển trong quan hệ cung
cầu, những sự dịch chuyển này, bất kể do nguyên nhân nào gây ra, sớm hay muộn rồi
cũng đều có thể được phát hiện dựa vào phản ứng của chính thị trường.
2.2.2.3.Những thách thức và lợi thế của phân tích kĩ thuật
● Những thách thức
- Những người hoài nghi về giá trị của phân tích kĩ thuật trong vai trò làm cơ sở
cho việc ra quyết định đầu tư đã đặt những thách thức đối với các kĩ thuật này trên 2
phương diện: thứ nhất, họ hoài nghi một số giả định nền tảng; thứ hai, họ hoài nghi 1 số
quy tắc giao dịch cụ thể và tính hữu dụng về dài hạn.
- Thách thức cơ bản đối với phân tích kĩ thuật xuất phát từ lí thuyết thị trường
hiệu quả (thị trường hiệu quả được hiểu là thị trường mà thị giá hiện hành phản ánh đầy
đủ và tức thời tất cả các thông tin có ảnh hưởng tới thị trường, phí giao dịch trên thị
trường được quyết định bởi quy luật cạnh tranh và quan hệ cung cầu…) Để các quy tắc
17
giao dịch kĩ thuật mang lại lợi nhuận sau khi trừ các chi phí giao dịch, việc điều chỉnh
giá trên thị trường phải diễn ra từ khi xuất hiện những thông tin mới, nghĩa là thị trường
phải kém hiệu quả.
- Một thách thức hiển nhiên với phân tích kĩ thuật là các diễn biến giá trong quá
khứ hay các mối quan hệ giữa các biến số thị trường cụ thể và giá chứng khoán có thể
không lặp lại. Theo đó một kĩ thuật đã từng mang lại kết quả trước đó có thể không còn
giá trị trong những biến động tiếp theo của thị trường.
- Những dự đoán về giá sẽ làm cho xu hướng giá tự điều chỉnh.
- Mọi quy tắc giao dịch đều gắn với một đánh giá mang tính chủ quan cao.
- Các giá trị chuẩn làm căn cứ cho quyết định đầu tư có thể thay đổi theo thời
gian.
● Những lợi thế
Phần lớn các nhà phân tích kĩ thuật cho rằng, một nhà phân tích cơ bản với nguồn
thông tin tốt, khả năng phân tích tốt và 1 sự nhạy cảm có thể kiếm được những khoản lợi
Nhiều nhà phân tích kĩ thuật dựa vào những quy tắc giao dịch được phát triển từ
giả thiết rằng đại bộ phận nhà đầu tư thường sai lầm khi dự đoán thị trường đạt đến đỉnh
cao hoặc điểm đáy. Vì vậy các nhà phân tích kĩ thuật tìm cách xác định thời điểm đại bộ
18
phận nhà đầu tư kì vọng giá lên hoặc giá xuống và giao dịch theo chiều hướng ngược lại.
Các nhà phân tích kĩ thuật sử dụng 1 số thước đo nhằm đánh giá xu hướng giao dịch của
nhà đầu tư trên thị trường. Họ thường sử dụng đồng thời 1 số chỉ báo để xác định sự
đánh giá trùng hợp về thái độ của người đầu tư.
Số dư có trên tài khoản giao dịch
Số dư có xuất hiện khi người đầu tư bán chứng khoán mà không rút tiền ra khỏi
tài khoản giao dịch với hi vọng tiếp tục đầu tư. Thông thường số liệu tổng hợp về tình
hình tài khoản giao dịch của người đầu tư được công bố trên 1 số tạp chí tài chính. Các
nhà phân tích coi số dư có trên tài khoản giao dịch là sức mua tiềm năng. Theo đó họ cho
rằng khi số dư này giảm xuống là dấu hiệu của xu thế giá xuống, bởi nó báo hiệu sức
mua thấp hơn khi thị trường đạt đến đỉnh cao. Tương tự như vậy, nhà phân tích kĩ thuật
cho rằng số dư có tăng lên báo hiệu sự gia tăng về sức mua và là dấu hiệu của xu thế lên
giá.
Lưu ý rằng số liệu về số dư này được công bố bằng số tuyệt đối mà không có sự
so sánh tương đối nào khác. Điều này khiến cho việc xác định xu thế trở nên khó khăn
khi quy mô thị trường thay đổi.
Ý kiến tư vấn đầu tư
Nhiều nhà phân tích kĩ thuật nhận thấy rằng nếu phần lớn các công ty tư vấn đầu
tư có quan điểm tiêu cực, điều này báo hiệu thị trường đã tiến gần đến điểm đáy và chuẩn
bị chuyển sang xu thế giá lên. Người ta lập luận rằng, phần lớn các công ty tư vấn đầu tư
đều có xu hướng ngả theo xu hướng chung. Vì vậy số lượng các công ty tư vấn đầu tư có
quan điểm tiêu cực là lớn nhất khi thị trường đang gần đạt tới điểm đáy. Họ phát triển
quy tắc giao dịch này từ tỉ lệ giữa số các công ty tư vấn đầu tư có quan điểm tiêu cực và
tổng số công ty tư vấn đưa ra ý kiến.
● Bám theo các nhà đầu tư khôn ngoan
Một số nhà phân tích kĩ thuật sử dụng các chỉ báo mà họ cho rằng chúng phản ánh
sẽ là dấu hiệu của xu thế giá xuống.
Số liệu hàng tháng về giao dịch kí quỹ được công bố trên Barron’s. Tuy nhiên số
liệu này không phản ánh khoản vay của người đầu tư từ những nguồn khác như ngân
hàng. Thêm vào đó đây cũng là con số tuyệt đối nên khó có thể so sánh theo thời gian.
● Một số chỉ báo thị trường khác
+ Độ rộng của thị trường
Độ rộng của thị trường là chỉ báo về số lượng các cổ phiếu lên giá và số lượng các
cổ phiếu xuống giá trong mỗi ngày giao dịch. Chỉ báo này giúp cho việc giải thích
nguyên nhân sự đổi hướng của các chỉ số chứng khoán như DJIA hoặc S&P 500. Những
chỉ số nổi tiếng trên thị trường thường chịu ảnh hưởng lớn từ các cổ phiếu của các công
ty lớn, bởi vì hấu hết các chỉ số đều được tính theo phương pháp gia quyền giá trị. Như
vậy có thể xảy ra trường hợp chỉ số tăng lên nhưng phần lớn các cổ phiếu thành phần lại
không lên giá. Sự phân kì giữa giá trị của chỉ số chung và các cổ phiếu thành phần trở
thành 1 vấn đề đáng quan tâm, vì điều này có nghĩa là phần lớn các cổ phiếu không góp
phần vào xu thế giá lên của thị trường. Tình trạng này có thể được phát hiện bằng cách
xem xét số liệu về tăng giảm giá của tất cả các cổ phiếu trên thị trường và đồng thời với
chỉ số chung.
+ Tổng khối lượng bán khống (Short Interest)
Tổng khối lượng bán khống là tổng khối lượng cổ phiếu hiện được bán khống trên
thị trường. Một số nhà phân tích kĩ thuật cho rằng khối lượng bán khống cao là dấu hiệu
tốt, song 1 số khác lại cho là dấu hiệu không tốt. Dấu hiệu tốt là bởi mọi giao dịch bán
khống sẽ phải được hoàn tất (nghĩa là những người bán khống cuối cùng sẽ phải mua cổ
phiếu để hoàn trả lại số cổ phiếu họ đã vay). Do vậy tổng khối lượng bán khống phản
ánh mức cầu tiềm năng trong tương lai đối với cổ phiếu. Khi các giao dịch bán khống
được tất toán, mức cầu phát sinh do việc mua cổ phiếu sẽ đẩy giá lên.
Dấu hiệu không tốt là bởi trên thực tế những người bán khống thường là những
người đầu tư lớn và có kĩ năng chuyên nghiệp. Theo đó tổng khối llượng bán khống gia
tăng phản ánh trạng thái tâm lí của nhà đầu tư được coi là “am hiểu” về triển vọng thị
trường giá xuống.
2.3. Định giá chứng khoán
(1+i)
n-1
(1+i)
n
(1+i)
n
t=1
(1+i)
t
(1+i)
n
Trong đó: PV là giá trái phiếu, n là số kì trả lãi, C là tiền lãi của một kì trả lãi, F là
mệnh giá trái phiếu, i là lãi suất chiết khấu hay lãi suất yêu cầu của nhà đầu tư.
Đối với trái phiếu trả lãi trước, hay hay trái phiếu không trả lãi định kì (Zero
coupon bonds) thì:
PV = F / (1+i)
n
Đối với trái phiếu trả lãi sau, thì
PV = (∑C + F) / (1+i)
n
Nếu PV > Pm (thị giá trái phiếu trên thị trường) thì đó là 1 tín hiệu cho việc mua
trái phiếu.
● Định giá trái phiếu trong một số trường hợp đặc biệt
♦ Định giá tại một thời điểm giữa kì trả lãi
Phương pháp chung:
- Bước 1: Chiết khấu tất cả các luồng thu nhập trong tương lai về kì trả lãi trước
(hoặc về kì trả lãi sau) thời điểm hiện tại.
- Bước 2: Tính giá trị tương lai (hoặc giá trị hiện tại) của kết quả tìm được ở bước
1
PV = F + x ∑
t=1
(1+i)
t
Ví dụ: Trái phiếu A mệnh giá 100.000đ, lãi suất LIBOR + 100 điểm cơ bản (1%)/
năm, lãi suất chiết khẩu 8,5% năm, thời hạn TP 2 năm. Định kì trả lãi 6tháng/ lần.
Giá phải trả cho TP này là:
4
1
PV = 100 + 0,5 ∑
t=1
(1+0,0425)
t
2.3.1.2. Đo lường lãi suất trái phiếu
* Lãi suất hiện hành (Current Yield - CY): Là tỉ lệ giữa lãi cuống phiếu hàng năm
với giá thị trường.
CY = C/PV
Ví dụ: Trái phiếu 15 năm, lãi suất 10% năm, mệnh giá 100.000đ đang bán với giá
80.000đ thì lợi suất hiện hành được xác định như sau:
10% x 100.000 / 80.000 = 0,125 hay 12,5%
Phép tính lợi suất hiện hành chỉ quan tâm đến lãi cuống phiếu mà không tính đến
bất kì một nguồn lợi tức nào khác tác động tới lợi suất của nhà đầu tư.
* Lãi suất đáo hạn (Yield to Marturity - YTM): là mức lãi suất làm cho giá trị
hiện tại của các luồng tiền mà người đầu tư nhận được từ trái phiếu bằng với giá của trái
phiếu.
C C
Trong đó: PV là giá trái phiếu, n là số kì trả lãi, C là tiền lãi của một kì trả lãi, F là
mệnh giá trái phiếu, y là lãi suất đáo hạn.
Lãi suất đáo hạn có thể xác định theo công thức gần đúng sau:
Trong đó: i
1
,
i
2
: mức lãi suất lựa chọn (i
2
> i
1
và i
2
- i
1
≤ 1%)
NPV
1
: giá trị hiện tại ròng ứng với lãi suất i
1
; NPV
1
>0
NPV
2
: giá trị hiện tại ròng ứng với lãi suất i
2
; NPV
tC
nF
MD = { ∑ + } / P
t=1
(1+y)
t
(1+y)
n
Trong đó: y là lãi suất đáo hạn (hay lãi suất yêu cầu), P là giá trái phiếu
Ví dụ: Tính MD của trái phiếu lãi suất 10%/năm, kì hạn 5 năm, trả lãi mỗi năm 2
lần, bán theo mệnh giá 100.000đ, lãi suất yêu cầu là 12%/ năm.
2.3.2. Định giá cổ phiếu
2.3.2.1. Một số vấn đề liên quan đến định giá CP
● Định giá CP là gì?
- Là công việc ước tính
- Không bao giờ định giá bằng phương pháp duy nhất
- Giá trị CP được ước tính chỉ có giá trị tại 1 thời điểm cụ thể.
● Tại sao phải định giá CP?
- Không định giá được CP là đầu tư cho rủi ro và thất bại.
- Để so sánh với giá CP đang bán trên thị trường (đắt hay rẻ) là căn cứ cho việc ra
quyết định đầu tư.
Ví dụ: giá CP XYZ đang giao dịch trên thị trường là 100.000đ. Việc định giá CP
cho kết quả 120.000đ. Chứng tỏ CP XYZ rẻ.
● Những khó khăn khi định giá CP?
- Khó khăn trong việc thực hiện các phương pháp định giá
- Khó khăn do những yếu tố bất ngờ
- Do sự nhạy cảm của CP với các thông tin.
Số CP phát hành chào bán đấu giá là 70.000.000
Tại thời điểm cổ phần hóa, giá trị phần vốn Nhà nước thực tế của công ty Thủy điện
Thác mơ là:1.432.742.646.692đ
Giá trị sổ sách 1 CP thường = 1.432.742.646.692đ : 70.000.000 = 20.467,7đ
+ Tại sao lại sử dụng phương pháp này để định giá CP?
- Dễ tính toán
- Dễ lấy thông tin
- Dùng để kiểm tra cách tính toán của các phương pháp khác
Trên thực tế giá trị sổ sách kế toán không phản ánh đúng giá trị thực của tài sản
của doanh nghiệp nên giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp có thẻ được tính theo giá trị
thị trường của tất cả các tài sản. Việc tính giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp theo sổ
sách kế toán hay theo giá thị trường mới chỉ phản ánh giá trị hữu hình của tài sản., phần
giá trị lợi thế (giá trị các yếu tố phi vật chất) cấu thành từ tài sản vô hình thường chưa
được quan tâm đến. Vì vậy khi định giá cổ phiếu người ta có thể sử dụng phương pháp
kết hợp sau:
giá trị tài sản ròng + giá trị lợi thế
Giá cổ phiếu =
số cổ phiếu đang lưu hành (hoặc dự định phát hành)
Giá trị lợi thế của một doanh nghiệp có được là do những nguyên nhân chủ yếu
như: uy tín của doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm hoặc cung ứng, vị trí địa lí thuận
lợi trong sản xuất và tiêu thụ, bí quyết công nghệ như bằng phát minh, sáng chế phục vụ
quá trình nghiên cứu phát triển, nhằm cải tiến, mở rộng quá trình sản xuất kinh doanh
hoặc quản lí doanh nghiệp, độc quyền sản xuất hoặc bán những sản phẩm độc quyền do
doanh nghiệp phát minh ra, đặc quyền khai thác, nhãn hiệu thương mại…
Giá trị lợi thế của doanh nghiệp được tính căn cứ vào tỉ suất lợi nhuận siêu ngạch
24
bình quân của n năm liền kề (n thường được lấy = 5) với thời điểm xác định giá trị doanh
nghiệp.
Tổng số lợi nhuận thực hiện của n năm liền kề
Tỉ suất lợi nhuận bình quân =
2
D
n-1
D
n
P
n
n
D
t
P
n
P
0
= + + … + + + = ∑ +
(1+i)
1
(1+i)
2
(1+i)
n-1
(1+i)
n
(1+i)
n
t=1
(1+i)
t
trưởng là g.
Như vậy: D
1
= D
0
x (1+g)
D
2
= D
1
x (1+g) = D
0
x (1+g)
2
D
3
= D
0
x (1+g)
3
,…
25