Bình đẳng giới trong sự phân công lao động ở các gia đình đô thị hiện nay - Pdf 25

0
BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG SỰ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG Ở CÁC
GIA ĐÌNH ĐÔ THỊ HIỆN NAY
( Khảo sát trên địa bàn Hà Nội )
1
MỤC LỤC
PHẦN ĐỀ CƯƠNG
1. Tính cấp thiết của đề tài ……………………………………… 1
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu………………………………………………5
2.1. Mục đích nghiên cứu………………………………………………….5
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu………………………………………………….5
3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu……………………………………5
3.1. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………… 5
3.2. Khách thể nghiên cứu…………………………………………………6
3.3. Phạm vi nghiên cứu……………………………………………………6
4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………6
4.1. Phương pháp nghiên cứu định lượng……………………………… 6
4.2. Phương pháp nghiên cứu định tính………………………………… 6
4.3. Phương pháp thu thập dữ liệu……………………………………… 7
4.4. Phương pháp quan sát……………………………………………… 7
PHẦN NỘI DUNG
Chương I. Cơ sở lý luận
1.Cơ sở lý luận…………………………………………………………………….7
1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề bình đẳng giới
trong gia đình ……………………………………………………….7
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề bình đẳng giới trong gia đình 8
1.3. Quan điểm của Đảng, nhà nước về vấn đề bình đẳng giới trong gia
đình ………………………………………………………………… 9
2.Các phương pháp tiếp cận …………………………………… 10
2.1. Lý thuyết cơ cấu chức năng …………………………………………10
2.2. Lý thuyết giới …………………………………………………………11

sinh con và nuôi con bằng sữa mẹ. Họ không có sự mạnh mẽ, cường tráng của đàn
ông nên ở các giai đoạn đầu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, khi mà
sức mạnh về thể chất là điều kiện tiên quyết của sự tồn vong và phát triển, thì lẽ
đương nhiên là phụ nữ bị loại xuống hàng thứ hai. Thế nhưng, xã hội ngày càng
phát triển, sức mạnh về thể chất không còn chiếm ưu thế tuyệt đối nữa mà đồng
thời, xã hội cần những công dân có trí tuệ, có sức mạnh về tinh thần, đó là những
đặc điểm mà phụ nữ không hề thua kém nam giới, thậm chí trong một số lĩnh vực,
ở họ có sự vượt trội hơn, đó là sức chịu đựng dẻo dai bền bỉ, sự dịu dàng tế nhị là
ưu điểm lớn đối với một số lĩnh vực như y tế, giáo dục…; khả năng về ngôn ngữ và
văn hóa văn nghệ trong lĩnh vực thơ văn, nhạc họa…; sức biểu cảm bằng ngôn ngữ
hình thể trong một số loại hình nghệ thuật múa, hát…
Ở Việt Nam, từ sau khi Cách mạng tháng 8-1945 thành công, vấn đề bình
đẳng giới đã bắt đầu được đề cập đến. Chính sách giải phóng phụ nữ, xóa bỏ định
kiến và bất công đối với phụ nữ được Bác Hồ và Nhà nước cách mạng thực hiện
một cách nhất quán và được quy định từ Hiến pháp đầu tiên của nhà nước ta từ năm
1946 và được kế thừa và phát triển trong các Hiến pháp sau. Đến nay, ở Việt Nam
quyền của phụ nữ ngang với quyền của nam giới được cụ thể hóa trong các luật dân
sự, kinh tế, hôn nhân và gia đình cũng như trong các luật về bầu cử, tham gia quản
lý nhà nước, quản lý xã hội. Trên thực tiễn, nhiều thành tựu trên các mặt kinh tế,
văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật đều ghi lại dấu ấn của sự đóng góp to lớn của
phụ nữ.
4
Và ngày nay, vấn đề bình đẳng giới đang nhận được rất nhiều sự quan tâm
của hầu hết các quốc gia và được xác định là 1 trong 8 mục tiêu Thiên niên kỷ của
toàn cầu. Đồng thời bình đẳng giới cũng được đề cập đến trong các chương trình,
dự án phát triển hợp tác song phương và đa phương giữa các quốc gia. Sở dĩ cần
phải thực hiện bình đẳng giới vì bình đẳng giới bảo đảm cho quyền con người,
quyền và nghĩa vụ công dân của nam và nữ được thực hiện đầy đủ; đảm bảo không
tồn tại bất cứ sự phân biệt đối xử trực tiếp hoặc gián tiếp nào đối với nam hoặc nữ
tạo nên sự không công bằng và làm hạn chế sự phát triển, sự đóng góp tích cực của

ngoại"…nên cơ hội cho phụ nữ tham gia các hoạt động xã hội nói chung và hoạt
động lãnh đạo quản lý nói riêng hầu như là không có. Nâng cao vị thế, vai trò phụ
nữ, tạo điều kiện cho họ tham gia vào hoạt động chính trị, vào công tác lãnh đạo
quản lý là vấn đề hết sức cần thiết cho sự phát triển xã hội, góp phần thúc đẩy quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chỉ thị 37/CT-TW ngày 16-5-1994
khẳng định: " Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế-
xã hội là một yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ
nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị của phụ nữ". Trong
lịch sử phát triển xã hội loài người, bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về giới cũng đều
cản trở sự phát triển bền vững, tạo nên xung đột xã hội .Vì vậy, vấn đề bình đẳng
giới mang ý nghĩa hết sức sâu sắc về cả kinh tế, văn hoá, chính trị.
Một trong những chỉ tiêu quan trọng mà Liên hiệp Quốc đã khuyến nghị các
quốc gia phải đạt dược trong tương lai là: đảm bảo không ít hơn 30% phụ nữ ở các
cương vị hoạch định và giải quyết các chính sách và chủ trương. Phụ nữ Việt Nam
đã có nhiều đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp phát triển đất nước. Tuy nhiên vị
thế và vai trò của họ vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và đóng góp của họ.
Trong quá trình tham gia công tác lãnh đạo quản lý, phụ nữ ngày càng có nhiều
thuận lợi, song cũng khá nhiều rào cản ảnh hưởng tới con đường lãnh đạo của họ
mà bao trùm là định kiến giới về năng lực, từ phía gia đình, Chính sách xã hội và
6
những phong tục lạc hậu, kéo theo những bất cập khác khi họ tiếp cận hay tham gia
công tác lãnh đạo quản lý. Vì thế để phụ nữ tự tin trên con đường lãnh đạo quản lý
cùng nam giới, Đảng và Nhà nước cần có những chính sách và biện pháp phù hợp
hơn để vị thế và vai trò của phụ nữ được nâng lên một tầm cao hơn.
Do đó, nghiên cứu về “Bình đẳng giới trong sự phân công lao động ở các
gia đình đô thị hiện nay” là hết sức quan trọng và cần thiết.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng vấn đề bình đẳng giới trong sự phân công lao động ở các
gia đình đô thị hiện nay.

Phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu định tính là phương pháp
phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, phương pháp này sử dụng bảng câu hỏi mang tính
chất gợi mở.
Nhóm tiến hành phỏng vấn một số đối tượng là cán bộ và người dân ở Q.
Đống Đa, Q. Cầu giấy, Q. Ba Đình.
Phương pháp phỏng vấn sâu được kết hợp với phương pháp điều tra bằng
bảng hỏi trong nghiên cứu định lượng để bổ sung và lý giải cho những con số mà
phương pháp điều tra bằng bảng hỏi thu thập được.
4.3. Phương pháp thu thập dữ liệu
Nghiên cứu và phân tích các tài liệu có sẵn liên quan đến đề tài. Dữ liệu thứ
cấp được thu thập từ các nguồn chính sau: các thông tin sẵn có thu thập được ở Hà
Nội, các báo cáo và các công trình nghiên cứu trước đây và các tài liệu có sẵn được
đăng tải trên các báo, tạp chí và các công trình nghiên cứu có liên quan.
4.4. Phương pháp quan sát
Quan sát trực tiếp địa bàn của Q. Đống Đa, Q. Cầu giấy, Q. Ba Đình.
PHẦN NỘI DUNG
Chương I. Cơ sở lý luận
8
1. Cơ sở lý luận
1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề bình đẳng giới
trong gia đình
Báo cáo này được trình bày trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử: quá trình nhận thức không chỉ dừng lại ở
những nhận thức bên ngoài sự vật hiện tượng mà cần phải nhận thức được bản chất
bên trong hoặc tính quy luật vốn có của nó. Phải xem xét các hiện tượng xã hội
trong mối quan hệ biện chứng với các hiện tượng khác, nghiên cứu phải được xem
xét trong tính lịch sử cụ thể để thấy được sự biến đổi mối quan hệ giới trong phân
công lao động, tìm ra được bản chất của mối quan hệ giữa nhận thức và hành động
thực tế thông qua phân công lao động.
Vấn đề bình đẳng nam nữ trong các gia đình đã được các nhà kinh điển của

hội chỉ một nửa".
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giải phóng phụ nữ luôn gắn với sự nghiệp giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Vì vậy, trong hội nghị thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam năm 1930, Hồ Chí Minh chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng không chỉ giành
lại độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho nông dân nghèo, các sản nghiệp lớn cho công
nhân, các quyền dân chủ tự do cho nhân dân, mà còn nhằm: "thực hiện nam nữ bình
quyền".
1.3. Quan điểm của Đảng, nhà nước về vấn đề bình đẳng giới trong gia
đình
Vấn đề bình đẳng giới được thể chế hoá trong hầu hết các văn bản pháp luật,
đã tạo cơ sở pháp lý, tạo điều kiện và cơ hội trao quyền bình đẳng cho cả nam và
nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, như: Luật Doanh nghiệp,
Luật Đầu tư, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật dạy nghề, Luật Giáo
dục , Luật Khoa học và công nghệ, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Hôn nhân
và Gia đình, Luật Chăm sóc sức khoẻ nhân dân, Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Cư
10
trú, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Pháp lệnh cán bộ, công chức, … và
nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác như các nghị định, quyết định của Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành.
Chính phủ đã có nhiều giải pháp như ban hành các chính sách đặc thù; lồng
ghép vào các chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia như: Chiến lược toàn diện
về tăng trưởng và giảm nghèo (CPRGS), Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm
nghèo, về việc làm, về bảo hộ lao động, về giáo dục, về dạy nghề, về y tế cộng
đồng; nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn
hoá, xã hội và gia đình đã có những quy định riêng cho phụ nữ, tạo điều kiện đảm
bảo cho việc thực hiện bình đẳng giới một cách thực chất; thành lập Uỷ ban quốc
gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, ban hành Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ
Việt Nam đến năm 2010
Đặc biệt, ngày 29 tháng 11 năm 2006, Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội
khoá XI thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007. Luật Bình

2.3. Lý thuyết nữ quyền
Lý thuyết nữ quyền cho rằng nam giới và nữ giới trải nghiệm thực tế cuộc
sống và cảm nhận về đời sống gia đình rất khác nhau. Từ quan điểm giới, gia đình
không phải là một đơn vị hài hòa, hợp tác, dựa trên cơ sở lợi ích chung và giúp đỡ
lẫn nhau, gần giống quan điểm tiếp cận xung đột mà đây là nơi diễn ra sự phân
công lao động theo giới, quyền lực và cơ hội tiếp cận nguồn lực không ngang nhau
và luôn bất lợi cho phụ nữ.
Chương II. Bình đẳng giới trong sự phân công lao động ở các
gia đình đô thị hiện nay
1. Bình đẳng giới trong hoạt động sản xuất
1.1. Bình đẳng giới trong lao động sản xuất và lao động tái sản xuất
Bàn về vấn đề bình đẳng theo giới giữa nam và nữ trong gia đình, tác giả
Trần Thị Kim Xuyến với tác phẩm “Gia đình và những vấn đề của gia đình hiện
12
đại”, nhà xuất bản thống kê, 2001 đã cho thấy sự biến đổi xã hội đến vai trò giới
trong gia đình, vai trò nam và nữ trong gia đình. Từ đó cho thấy vai trò sản xuất của
lao động nam nữ, vai trò đóng góp kinh tế, vai trò nam và nữ trong công việc gia
đình, vai trò quyền lực nam và nữ trong gia đình và sự ảnh hưởng của kinh tế thị
trường đến vai trò kép của phụ nữ.
Qua khảo sát trên địa bàn Hà Nội, thì quan hệ giữa nam và nữ trong cộng
đồng thoạt nhìn cũng theo kiểu truyền thống. Đối với việc phân công lao động và
trách nhiệm trong mối quan hệ vợ chồng, xã hội truyền thống đặt ra nhiều kỳ vọng
đối với những đôi vợ chồng: Phụ nữ thì phải “công, dung, ngôn, hạnh”, “ xuất giá
tòng phu, phu tử tòng tử, phu xướng phụ tùy”, giữ gìn trinh tiết, nam giới thì “ tu
thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, luôn giữ địa vị làm chủ trong gia đình và rất
nhiều các ràng buộc khác trong mối quan hệ với họ hàng, hàng xóm,… Những quy
định của xã hội truyền thống đã mang tính áp đặt đối với gia đình theo tiêu chí xây
dựng gia đình hạnh phúc như người chồng thường lo những việc lớn trong gia đình
như là trụ cột của kinh tế, lo toan chuyện nghề nghiệp kiếm sống, quyết định hôn
nhân cho con cái, mua đất xây dựng nhà cửa. Trong khi đó, phụ nữ thường đảm

làm các công việc trên với tỷ lệ tương ứng là: 76.3% / 84.9% / 55.9% / 30.3%. Kết
quả nghiên cứu trên cho thấy những người vợ nông thôn làm việc nhà với tỷ lệ cao
hơn hẳn so với những người vợ ở thành phố. Nghĩa là sự bất bình đẳng giới trong
công việc gia đình có sự chênh lệch giữa các khu vực…
Các số liệu trên cho thấy, vấn đề bất bình đẳng giới trong sự phân công lao
động trong gia đình giữa nam và nữ, giữa người vợ và người chồng vẫn đang tồn
tại ở các gia đình Việt Nam. Bởi từ trước đến nay, mọi người đều nhìn nhận việc tề
gia nội trợ là công việc gắn liền với người phụ nữ, đó là nghĩa vụ, là trách nhiệm
của người phụ nữ trong gia đình. Chính nhìn nhận này đã làm cho nỗi vất vả của
người phụ nữ tăng lên, trong khi người phụ nữ vẫn phải tham gia công việc ngoài
xã hội như nam giới. Phân tích tình hình giới ở Việt Nam cho thấy tình hình tương
14
tự. Bất luận chủ hộ là nam hay là nữ , phụ nữ đều phải làm việc nội trợ gấp hai lần
nam giới. Phân công lao động nội trợ có lẽ là một trong những lĩnh vự bất bình
đẳng nhất giữa nam và nữ. Vì thế, thậm chí người phụ nữ có nhiều khả năng độc
lập kinh tế và quyền ra quyết định nhiều hơn thì họ vẫn có ít thời gian nghỉ ngơi
hơn bởi những vai trò truyền thống về giới vẫn chưa thay đổi được bao nhiêu.
(J.Desai, 1995).
Tại nơi tôi đang sống, theo tôi nghĩ thì vấn đề bất bình đẳng giới vẫn còn tồn
tại, nhưng không đáng kể. Như gia đình tôi chẳng hạn, cả tôi và chồng tôi cùng đi
làm công chức như nhau, nhưng khi tan sở về thì tôi phải bỏ thời gian để chăm sóc
con cái, và đến công việc nội trợ. Còn chồng tôi, anh ấy cũng công việc như thế
nhưng thời gian bỏ ra trong công việc gia đình thì ít hơn so với tôi.( PVS nữ, 27
tuổi, Q. Ba Đình, Hà Nội ).
Rất khó nhìn nhận vấn đề bất bình đẳng trong các gia đình tại địa phương
tôi, bởi mỗi nhà mỗi cảnh. Như gia đình tôi, công việc nội trợ chủ yếu là do vợ tôi
làm. Còn tôi chỉ phụ giúp được phần nào hay phần đấy thôi, thỉnh thoảng tôi trông
con bởi tôi rất bận với công việc ở cơ quan, còn công việc của tôi trong gia đình là
sửa chữa các thiết bị bị hỏng hóc như sửa điện, xây lại mái tôn bị hỏng,…( PVS
nam, 30 tuổi, Q. Cầu Giấy, Hà Nội ).

1.2. Bình đẳng giới trong cách tiếp cận nguồn lực về mặt kinh tế
Nói đến hoạt động sản xuất, chúng ta không thể không nói đến cách tiếp cận
các nguồn lực trong gia đình. Trước hết phải kể đến cách tiếp cận nguồn lực về mặt
kinh tế. Như chúng ta đều biết, khi con người có vị trí bình đẳng thì con người mới
phát huy được hết những tiềm năng ẩn kín để cống hiến cho sự phát triển xã hội, và
cho sự giàu mạnh cũng như hạnh phúc của gia đình. Nói đến bình đẳng không thể
không nói đến người phụ nữ. Thật vậy, người phụ nữ trong nửa thế kỷ qua đã xả
thân vì nước, vì gia đình thì cũng chính là họ xả thân để vươn tới vị trí bình đẳng
16
của giới họ trong gia đình và xã hội. Phụ nữ cũng có thể làm được các công việc
lớn kiếm được thu nhập cao, đảm bảo cho kinh tế gia đình trong cả hai lĩnh vực sản
xuất và lao động gia đình. Vậy mà khi tìm hiểu ai là người có mức thu nhập cao
nhất trong gia đình thì khoảng 50% gia đình đánh giá hai người ngang nhau, chỉ có
15% đánh giá rằng người vợ có thu nhập cao hơn người chồng. Sự đánh giá kể trên
đã thể hiện một cách nhìn nhận thiếu công bằng trong sự định giá lao động và khả
năng kinh tế của người phụ nữ. Mặc dù thế, nhưng phần lớn các hộ gia đình vẫn
cho rằng nam giới kiếm thu nhập cao hơn và đảm bảo kinh tế cho gia đình hơn so
với phụ nữ bởi nam giới tham gia vào các tổ chức xã hội và hoạt động cộng đồng
như tập đoàn, đội sản xuất, là người tiếp cận các nguồn lực kinh tế để tiếp thu, học
hỏi và phát triển kinh tế cho gia đình mình vì nam giới đóng vai trò trụ cột trong
gia đình.
Gia đình tôi thì kinh tế chủ yếu là do chồng tôi làm, kinh tế của tôi chỉ phụ
thuộc vào mặt hàng bán rong thôi, nên cũng chẳng kiếm được là mấy. Lương của
chồng tôi cũng chỉ hơn 2 triệu 1 tháng thôi, cũng không đủ cho sinh hoạt hàng
tháng nhưng may mà có thu nhập đó của chồng tôi, nếu không thì gia đình tôi thiếu
thốn nhiều lắm. (PVS nữ, 34 tuổi, Q. Ba Đình, Hà Nội )
Lương của vợ tôi cao hơn tôi, nên có thể nói là chủ chốt kinh tế trong gia
đình tôi là vợ tôi. Nhưng không vì thế mà vợ tôi có thể thích làm gì thì làm được,
muốn làm cái gì cũng phải thông qua tôi, tôi thấy hợp lý, đồng ý thì mới được làm.
Lương cao hay thấp là do từng ngành nghề chứ không phải tôi kém cỏi hơn vợ tôi

khoa Xã hội học (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) đã đi tìm hiểu sự bất bình
đẳng giới trong các quảng cáo tuyển dụng hiện nay. Kết quả nghiên cứu trên 5 tờ
báo in (Thanh Niên, Lao Động, Tiền Phong, Tuổi Trẻ, Vietnam News) cho thấy,
phần lớn các quảng cáo tuyển dụng không phân biệt đối xử một cách trực tiếp dựa
trên yêu cầu về giới tính, với chỉ khoảng 20,6% số quảng cáo nêu cụ thể công việc
đòi hỏi ứng viên nam (12,4%) hoặc nữ (8,2%). Và kết quả thứ hai là vẫn còn định
18
kiến trong thông báo tuyển dụng của các doanh nghiệp đem lại lợi thế cho nam
giới. Ví dụ các công việc đòi hỏi kỹ thuật cao thì có đến 50% số quảng cáo yêu cầu
ứng viên phải là nam giới, chỉ có 17% yêu cầu ứng viên là nữ. Một phát hiện nữa là
sự phân biệt đối xử giới trực tiếp lại không nhiều, nhưng sự bất bình đẳng giới lại
được ẩn đi, thông qua các yêu cầu về đào tạo, trình độ học vấn, lứa tuổi hoặc hình
thức. Những yêu cầu này nhiều khi không thực sự cần thiết cho công việc. Theo bà
Jonna Naumanen - Tổ chức lao động quốc tế tại Hà Nội ILO - thách thức lớn nhất
đối với phụ nữ là các công việc mà họ làm thường không được đánh giá hoặc đánh
giá thấp. Và thu nhập của lao động nữ chỉ bằng 87% so với nam giới. Hơn 50% phụ
nữ Việt Nam hiện đang làm công việc nội trợ nên không có thu nhập trực tiếp -
thông tin trên được công bố ngày 9.3 trong Báo cáo phát triển con người khu vực
Châu Á-Thái Bình Dương của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP).
Cụ thể, ở tất cả các nước trong khu vực, mức lương của phụ nữ thấp hơn nam giới
rất nhiều và mức chênh lệch thu nhập giữa nam-nữ từ 54%-90%. Tại Việt Nam,
phụ nữ chiếm 46,6% lực lượng lao động, nhưng chủ yếu làm việc trong khu vực
kinh tế tư nhân, nên không được hưởng chế độ an sinh xã hội. Những người làm
việc được hưởng thu nhập chỉ bằng khoảng 87% mức thu nhập bình quân của nam
giới.
Nhà tôi thì chồng tôi, anh ấy làm cho công ty nước ngoài nên thu nhập của
anh ấy cao hơn tôi rất nhiều. Mức lương của tôi không đủ cho chi tiêu sinh hoạt
gia đình. (PVS nữ, 39 tuổi, Q. Ba Đình, Hà Nội )
Gia đình tôi thì mức lương của vợ chồng tôi là ngang nhau, chúng tôi đều là
viên chức nhà nước, nhưng lương của tôi lại dùng cho chi tiêu sinh hoạt hàng

quyết định cao hơn. Những chi tiêu lớn hay những quyết định có liên quan đến sản
xuất kinh doanh hay nguồn lực gia đình thì đều có sự bàn bạc. Và nhiều khi, tiếng
20
nói của phụ nữ mang tính quyết định, nhất là khi gặp vấn đề có liên quan đến ngân
sách gia đình.
Qua khảo sát cho thấy có 357 hộ chiếm 62.3% trả lời là cả hai vợ chồng cùng
bàn bạc và đồng thuận khi quyết định việc lớn trong nhà. Chỉ có 6 hộ trả lời là
chồng hoàn toàn quyết định mà không bàn bạc với vợ. Điều này cho thấy vai trò và
vị thế của người vợ ngày càng được nâng lên, có lẽ do phụ nữ là người cầm “tay
hòm chìa khóa” nên tiếng nói của người phụ nữ có giá trị hơn. Và theo kết quả
khảo sát, ta thấy ở những gia đình đứng tuổi, tức là người phụ nữ đã trải nghiệm
trong lao động sản xuất, trong quản lý kinh tế thì tỷ lệ hai vợ chồng cùng bàn bạc,
cùng quyết định các việc trong gia đình cao hơn hẳn so với những gia đình dưới
tuổi 30.
Gia đình tôi, vợ chồng tôi thường hay bàn bạc với nhau những việc lớn
nhưng chồng tôi thường là người đứng tên làm những việc lớn trong gia đình.
Chẳng hạn như ký tên mua nhà, mua ô tô, hay như chồng tôi là người chủ hộ của
gia đình được nắm giữ sổ đỏ. Còn tôi thì tôi ít tham gia vào các công việc đó, công
việc chủ yếu của tôi là nội trợ, chăm sóc con cái, …( PVS nữ, 46 tuổi, Q. Ba Đình,
Hà Nội )
Những việc lớn trong gia đình tôi thường là tôi làm hết, đàn bà con gái là
chỉ nội trợ và chăm sóc con cái thôi ( cười ) (PVS nam, 28 tuổi, Q. Đống Đa, Hà
Nội
Rõ ràng, phụ nữ Việt Nam có quyền sở hữu, quyền kiểm soát tài sản ở các
cấp độ thấp hơn so với nam giới. Phụ nữ có tên trong giấy chứng nhận Quyền sử
dụng đất, tự do hơn trong việc sử dụng các khoản vay trong khi những người phụ
nữ không có tên trong giấy Chứng nhận Quyền sử dụng đất sẽ gặp nhiều khó khăn
hơn trong tiếp cận với tín dụng. Có tên trong Quyền sở hữu đem đến cho người phụ
nữ sự đảm bảo hơn trong trường hợp li dị, bảo vệ quyền của phụ nữ trong việc thừa
kế và lúc tuổi già và thúc đẩy hơn nữa sự công bằng trong việc ra quyết định trong

22
đình và sinh đẻ còn được gọi là sinh sản và nuôi dưỡng. Phụ nữ là người mang thai,
sinh con, và họ làm hầu hết các công việc chăm sóc gia đình. Do đó, họ bị coi là
người thực hiện vai trò sinh sản và nuôi dưỡng. Còn về phía những người đàn ông
trong gia đình, họ có thiên chức gì? Trong tâm thức của chúng ta, người đàn ông
thực sự là biểu tượng trong mỗi gia đình. Để giữ ưu thế trong tương quan gia đình,
họ sẽ không “cố đấm ăn xôi” mà phát huy sức mạnh tiềm tàng của mình. Người
đàn ông có khuynh hướng hướng ngoại và ham muốn được là “người của mọi
người” nên sẽ đảm nhận nhiều vai trò đa dạng một cách tự nhiên. Điều quan trọng
trước tiên là tìm cách giữ được cân bằng giữa các vai trò trong gia đình và ngoài xã
hội, tìm ra không gian riêng để tìm ra các “sứ mệnh” hay là thiên chức của mình.
Trong gia đình, người đàn ông vừa là một người chồng, vừa là một người cha. Cả
hai vai trò này, người đàn ông đè phải hết sức thực hiện thì mới đáp ứng được kỳ
vọng của người vợ và các con. Chính vì thế, khi được hỏi về quan niệm về sự phân
công lao động, về sự chia sẻ của các ông chồng trong công việc gia đình thì có
75.8% nam giới rất đồng ý với việc người chồng chia sẻ công việc gia đình với
người vợ, và có 83.6% nữ giới đồng ý người chồng chia sẻ công việc với mình
trong công việc gia đình. Tuy nhiên có 0.4% số nam giới không đồng ý với vấn đề
này, trong khi đó không có nữ giới nào không đồng ý với vấn đề này. Tất cả mọi
phụ nữ đều cho rằng người chồng cần phải chia sẻ công việc gia đình với họ, để từ
đó tìm được tiếng nói chung.
Qua cuộc khảo sát điều tra tại Hà Nội cho thấy nam giới được coi là trụ cột,
chịu trách nhiệm về kinh tế gia đình. Còn phụ nữ có trách nhiệm trước hết với công
việc gia đình, chăm sóc con cái, và được trông đợi là người duy trì sự hòa hợp và
hạnh phúc gia đình. Với nhận định “Phụ nữ là người quyết định giữ không khí hòa
thuận trong nhà” thì đa số nam giới và nữ giới đều đồng ý với nhận định này. Nam
giới sau một ngày công tác bận rộn, mệt nhọc có lúc vui nhưng cũng có những lúc
thật sự căng thẳng. Khi về nhà, họ cần được nghỉ ngơi, cần được hưởng không khí
ấm cúng của gia đình, cần nhìn thấy những đứa con sạch sẽ, ngoan ngoãn, họ cũng
23

gia đình hơn nữ giới” thì tỷ lệ nam giới đồng ý với nhận định này nhiều hơn nữ
giới. Tỷ lệ đồng ý cao này cho thấy sự tin tưởng khá chắc chắn của người trả lời,
cũng như tin vào năng lực của phụ nữ về việc liên quan đến gia đình và ít tin tưởng
hơn ở nam giới khi bàn đến việc chăm sóc và lo toan gia đình.
24
Giới tính
Nam
Nữ
Nữ giới biết cách lo
toan công việc gia đình hơn
nam giới.
73.3%
86.5%
Nam giới biết cách
lo toan công việc gia đình
hơn nữ giới.
12.4%
11.6%
Trong gia đình tôi, thì tôi là người luôn luôn lo toan cho gia đình. Chồng tôi
thì đi làm suốt, thỉnh thoảng còn đi công tác xa nhà nên cũng không có thời gian ở
nhà. Tôi vừa đi làm vừa chăm lo cho gia đình, nhiều khi không có cả thời gian để
làm những việc khác. (PVS nữ, 42 tuổi, Q. Đống Đa, Hà Nội).
Như vậy, nhìn chung không có sự khác biệt trong quan niệm hiện nay của
hầu hết phụ nữ và nam giới với cách hiểu mang tính truyền thống về năng lực thực
hiện vai trò giới trong gia đình. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy không có sự
khác biệt về tuổi, trình độ học vấn, tôn giáo trong những nhận định về nam giới và
phụ nữ. Đặc biệt là cả hai giới đều có xu hướng đánh giá giới mình có khả năng
nhiều hơn trong ông việc gia đình, đó là yếu tố tâm lý muốn khẳng định bản thân
mình hơn.nhìn chung, theo quan niệm truyền thống, nam giới vẫn thường được coi
là trụ cột gia đình về kinh tế, còn phụ nữ là người quán xuyến công việc trong gia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status