1
I. V c i m tỡnh hỡnh chung c a t nh Nam nh 1
2 - Thực trạng KNTC của công dân ở tỉnh Nam Định từ 2008 - 2012 2
2.1 - Tình hình tiếp công dân, tiếp nhận đơn th KNTC của công dân 2
Cấp xã 3
2.2 - Tình hình tiếp nhận và xử lý đơn th KNTC: 4
3. Một số nguyên nhân và yếu tố ảnh hởng đến việc khiếu nại, tố cáo. 7
I. V c im tỡnh hỡnh chung ca tnh Nam nh
Tỉnh Nam Định có 9 huyện và thành phố Nam Định trực thuộc tỉnh;
có 229 xã, phờng, thị trấn; có 3 vùng kinh tế: vùng kinh tế biển, vùng kinh
tế nông nghiệp và trung tâm công nghiệp dịch vụ. Tỉnh Nam Định nằm ở
phía Nam Đồng Bằng Bắc Bộ có 72 km bờ biển và 3 cửa sông lớn: Sông
Hồng, Sông Ninh Cơ, Sông Đáy; là tỉnh có tiềm năng về thuỷ sản trên cả 3
vùng nớc mặn, nớc lợ, nớc ngọt, tổng diện tích khai thác thuỷ sản là 10.280
km
2
với 16.000 ng dân, mỗi năm khai thác trên 10.000 tấn hải sản các loại.
Công nghiệp ngày càng phát triển tăng trởng cao và đang trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn, khu công nghiệp Hoà Xá với 27 ha, 15 cụm công nghiệp
- làng nghề ở các huyện và thành phố Nam Định đã đi vào hoạt động; các
ngành dịch vụ phát triển mạnh. Kinh tế nông nghiệp trong tỉnh vẫn giữ vị trí
quan trọng. Từ năm 2008 đến nay, mặc dù diện tích trồng trọt giảm nhn sản
lợng lơng thực quy thóc đạt từ 5 vạn đến 1.000.000 tấn/năm, giá trị thu đợc
trên 1 ha đạt 35,5 triệu đồng.
Nam Định là tỉnh có đặc điểm lớn về tôn giáo với 2 tôn giáo chính là:
Phật giáo và Thiên chúa giáo (trong đó Thiên chúa giáo chiếm 20,15 % dân
số toàn tỉnh) do tính chất và đặc điểm tôn giáo ở tỉnh Nam Định nên đã đặt
ra những yêu cầu quan trọng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ,
chính quyền, sự phối hợp đồng bộ của Mặt trận Tổ quốc, các thành viên của
Mặt trận, trong công tác quản lý nhà nớc về KNTC nói chung, KNTC liên
quan đến vấn đề tôn giáo nói riêng, đồng thời phải tăng cờng tuyên truyền
Tuy nhiên, thực tiễn công tác tiếp công dân, xử lý đơn th, giải quyết
KNTC ở tỉnh Nam Định cần phải tổng kết, đánh giá, rút ra những bài học
trong giải quyết KNTC. Để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết KNTC
trên địa bàn tỉnh, đòi hỏi cần nghiên cứu một cách toàn diện về thực trạng
KNTC, giải quyết KNTC; thực trạng công tác quản lý nhà nớc về KNTC.
Luận giải cho đợc những vấn đề nh: Khiếu nại là gì; tố cáo là gì; tình hình
diễn biến; những kết quả đã đạt đợc; những mặt còn hạn chế tồn tại, nguyên
nhân phát sinh KNTC. Từ đó, đề xuất những giải pháp sát đúng nhằm nâng
cao hiệu quả công tác giải quyết KNTC; đảm bảo quyền KNTC của công
dân trên địa bàn tỉnh trong những năm tiếp theo.
2 - Thực trạng KNTC của công dân ở tỉnh Nam Định từ 2008 -
2012
2.1 - Tình hình tiếp công dân, tiếp nhận đơn th KNTC của công
dân
Thực hiện các quy định của Luật KNTC, các cấp, các ngành trong
tỉnh đã chú trọng quan tâm tới việc tổ chức tiếp công dân đến KNTC; nh: bố
trí địa điểm tiếp công dân riêng tại nơi thuận lợi, tạo điều kiện để công dân
2
đến KNTC; tại nơi tiếp công dân đã đợc trang bị những phơng tiện, thiết bị
phục vụ cho việc tiếp công dân.
Ngày 3/9/2007, UBND tỉnh Nam Định đã ban hành Quyết định số
2320/2007/QĐ-UB quy định về việc tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn
th KNTC của công dân trên địa bàn tỉnh Nam Định. Từ đó, công tác tiếp
công dân đã đợc chấn chỉnh và đi vào nề nếp. Lãnh đạo UBND tỉnh, HĐND
tỉnh và Đoàn đại biểu của tỉnh trong Quốc hội tiếp công dân 01 tháng 01
ngày vào thứ năm tuần thứ hai; Lãnh đạo UBND huyện, thành phố tiếp
công dân 01 tháng 2 ngày vào thứ năm tuần thứ nhất và tuần thứ ba. Thủ tr-
ởng các ngành tiếp công dân 01 tháng 1 ngày vào thứ năm tuần thứ hai;
UBND xã, phờng, thị trấn tiếp công dân vào ngày thứ năm hàng tuần; cơ
quan Thanh tra các cấp, các ngành tiếp công dân thờng xuyên hàng ngày,
một cố gắng lớn của các cấp, các ngành trong tỉnh Nam Định trong những
năm vừa qua.
3
Tuy nhiên, công tác tiếp dân ở các cấp, các ngành trong tỉnh vẫn còn
một số tồn tại, đó là:
- Một số nơi lãnh đạo chủ chốt xã, phờng, thị trấn cha tiếp công dân
định kỳ theo quy định, vẫn còn tình trạng cha phân định rõ ràng giữa tiếp
công dân giải quyết công việc hành chính hàng ngày với việc tiếp công dân
KNTC. Có ngành, có xã cha lập phòng tiếp công dân riêng mà vẫn tiếp
công dân tại phòng làm việc
- Luật KNTC quy định việc tiếp công dân thuộc trách nhiệm của Chủ
tịch UBND các cấp, Thủ trởng các ngành nhng thực tế cho thấy ở cấp tỉnh
và cấp huyện do các đồng chí Chủ tịch và Phó Chủ tịch thờng luân phiên
nhau tiếp công dân; việc tổng hợp, phản ánh kết quả hớng giải quyết sau
các buổi tiếp công dân không kịp thời nên có tình trạng hớng dẫn và chỉ đạo
giải quyết cha thống nhất cho cùng một loại việc. Đối với một số đơn vị ở
cấp xã, việc tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý đơn th của Chủ tịch UBND cha
đều đặn và không rõ ràng. Có nơi giao cho cán bộ văn phòng, có nơi giao
cho Phó Ban công an xã, có nơi lại giao cho cán bộ T pháp, dẫn đến tình
trạng công dân kêu ca phàn nàn, KNTC vợt cấp.
- Công tác tham mu tại các địa điểm tiếp công dân cha tốt nhiều
ngành,lĩnh vực có nhiều đơn th KNTC nhng không bố trí cán bộ có thẩm
quyền để tham mu giúp thủ trởng các cấp, các ngành trong việc tiếp công
dân, việc bố trí cho cả những công dân đã có quyết định giải quyết khiếu
nại cuối cùng nhiều lần vào những phiên tiếp công dân của lãnh đạo tỉnh,
huyện dẫn đến hiệu quả buổi tiếp công dân cha cao. Mặc dù UBND tỉnh đã
có quy định không tiếp những trờng hợp này nhng do hữu khuynh, cha có
biện pháp phối hợp chặt chẽ với lực lợng giữ gìn trật tự, nên còn tình trạng
chen lấn, gây mất trật tự trong buổi tiếp công dân của lãnh đạo tỉnh
- Mối liên hệ giữa trụ sở tiếp công dân của Tỉnh, Huyện, Trung ơng
Đơn vị tính (vụ việc)
TT Năm Tổng số Cấp tỉnh Cấp
huyện
Cấp xã Cấp Sở Đơn vị
thuộc Sở
So với
năm trớc
(%)
1 2007 1845 16 229 1484 111 5 + 7,2
2 2008 1272 7 172 1003 86 4 -45
3 2009 1072 17 182 790 81 2 -18,6
4 2010 915 9 155 684 58 9 -17,2
5 2011 1048 14 151 847 35 1 +14,5
6 2012 1024 10 162 811 38 3 -2,3
Tổng: 7176 73 1051 5619 409 24
* Về nội dung KNTC:
Nội dung khiếu nại: Tổng số 5696 vụ việc, với 5.782 nội dung, cụ thể:
- Nội dung khiếu nại về đất đai: 3.291/5.782, chiếm 56,9%
- Nội dung khiếu nại về tài sản: 576/5.782, chiếm 7,7 %
- Nội dung khiếu nại về nhà cửa: 444/5.782, chiếm 2,7 %
- Nội dung khiếu nại về chính sách xã hội, lao động, việc làm: 373
- Nội dung khiếu nại về hành chính: 288
- Nội dung khiếu nại về tài chính, tín dụng: 282
- Nội dung khiếu nại khác: 528
+ Nội dung khiếu nại về đất đai: có 3.291 nội dung, chiếm 56,9%.
Đây là nội dung khiếu nại phức tạp và phổ biến ở tất cả mọi nơi chủ yếu là
việc có nguồn gốc từ các vụ việc tranh chấp dất đai giữa công dân với công
dân, đòi lại đất có nguồn gốc của nhà thờ, từ đờng dòng họ; việc đền bù giải
phóng mặt bằng để xây dựng các công trình quốc gia, lợi ích công cộng;
đòi lại đất cũ có nguồn gốc của ông cha để lại trong quá trình thực hiện
- Trởng, Phó phòng, ban: 15 ngời
- Giám đốc các doanh nghiệp: 45 ngời
- Cán bộ nghiệp vụ: 134 ngời
- Sỹ quan quân đội, công an các cấp: 3 ngời
- Đối tợng khác: 1.241 ngời
Những đối tợng bị tố cáo có chức vụ quyền hạn tập trung chủ yếu
vào cán bộ cấp xã; trong đó, số cán bộ giữ cơng vị chủ chốt trong cấp uỷ
Đảng, chính quyền điạ phơng nh Bí th, Phó Bí th; Chủ tịch, Phó Chủ tịch
UBND cấp xã có 269 ngời, chiếm 15,8 %. Thực tế thanh tra thấy rằng
6
không ít cán bộ, đảng viên chủ chốt ở cấp cơ sở có lối sống thoái hoá, biến
chất, xa rời quần chúng, có biểu hiện tham ô, tham nhũng; gây phiền hà,
sách nhiễu cho nhân dân; gây bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; vi phạm trong
quản lý kinh tế, quản lý sử dụng đất đai; thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội
không đúng; vi phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, khi công
dân có thắc mắc đề nghị thì chủ quan không đánh giá đúng nguyên nhân
phát sinh vụ việc, không coi trọng việc giải quyết KNTC của công dân;
nhiều cán bộ còn tỏ thái độ thách đố công dân đi khiếu kiện vợt cấp, dẫn
đến phát sinh KNTC.
Những đối tợng khác bị tố cáo: 1.241 ngời, bao gồm công dân, công
nhân, giáo viên, bác sỹ; chủ yếu bị tố cáo các hành vi vi phạm liên quan đến
các lĩnh vực kinh tế, đất đai, hành chính, chính sách xã hội. Những đối tợng
trên do trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế hoặc cố tình vi phạm pháp
luật dẫn đến phát sinh đơn th KNTC.
3. Một số nguyên nhân và yếu tố ảnh hởng đến việc khiếu nại, tố
cáo.
Thời gian qua, tình hình KNTC trong nớc có những diễn biến phức
tạp, một số nơi đã trở thành những điểm nóng về KNTC phức tạp, đông
ngời; nh: Hng Yên, Hải Phòng, Hà Nội, đặc biệt là việc khiếu kiện đông
ngời xảy ra tại khu đô thị Văn Giang, tỉnh Hng Yên, Khu đô thị Dơng Nội
coi trọng công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC; nhận thức và thực hiện
không nghiêm túc Luật KNTC và các Nghị định hớng dẫn thi hành.
- Trình độ hiểu biết pháp luật của một số ngời đi KNTC còn hạn chế.
Nhiều vụ việc KNTC tuy đã đợc giải quyết thoả đáng, đúng chính sách
pháp luật, có lý, có tình nhng do ngời KNTC nhận thức không đúng về
chính sách pháp luật, chỉ thấy cái lợi của cá nhân mình; hoặc do tâm lý đợc,
thua trong KNTC, bị lôi kéo, kích động, đã cố tình đi KNTC trái pháp luật,
gây tình trạng KNTC tràn lan, vợt cấp, không đúng cơ quan có thẩm quyền
giải quyết. Nhiều trờng hợp đã lợi dụng quyền KNTC để tụ tập đông ngời,
gây rối trật tự công cộng; thậm trí, có hành vi quá khích, vi phạm pháp luật
nghiêm trọng, gây khó khăn cho các cơ quan nhà nớc.
- Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về KNTC còn nhiều hạn
chế, cha tiến hành thờng xuyên, đồng bộ với các biện pháp khác, dẫn đến
ngời dân không nhận thức đầy đủ các quy định của pháp luật. Đây là một
trong những nguyên nhân phát sinh KNTC.
- Một số cán bộ làm công tác tiếp công dân, tham mu giải quyết
KNTC của công dân nhất là ở cấp xã, phờng, thị trấn còn cha chuyên trách,
trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế, cha đợc thờng xuyên đào tạo,
bồi dỡng, tập huấn về nghiệp vụ tiếp công dân, giải quyết KNTC của công
dân; dẫn đến hạn chế trong việc hớng dẫn, giải thích cho công dân, áp dung
các quy định của pháp luật trong quá trình tham mu giải quyết KNTC cha
đúng quy định, làm giảm hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC
của công dân.
- Công tác hoà giải tại cơ sở còn bị coi nhẹ, cha chú trọng công tác
hoà giai ngay từ đầu đối với những tranh chấp trong nội bộ nhân dân; cha
tập trung giải quyết kịp thời các KNTC của công dân; hoặc giải quyết
8
không triệt để, thiếu khách quan, thậm chí còn bao che, nơng nhẹ cho
những hành vi vi phạm.
- Do một số phần tử xấu lợi dụng quyền tự do dân chủ để kích động,