Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương được thành lập ra để làm gì - Pdf 25

ĐỀ TÀI: CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG ĐƯỢC
THÀNH LẬP RA ĐỂ LÀM GÌ
Nhà nước không nên tập trung tất cả quyền lực của mình vào tay Chính phủ
trung ương . Bởi lẽ, nhà nước thực hiện quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực: kinh
tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng an ninh…Có rất nhiều vấn đề cần được quan tâm
và đưa ra những giải pháp phù hợp để thực hiện song không phải bất cứ vấn đề nào
Chính phủ trung ương cũng có đủ khả năng và điều kiện thực tiễn để giải quyết.
Các nhà quản lý trung ương không thể trực tiếp chỉ huy trọn vẹn các công việc nhà
nước trên phạm vi toàn lãnh thổ; vì thế không thỏa mãn được những nhu cầu của
nhân dân cũng như việc thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước. Do đó, cần có
đại diện của chính quyền trung ương trên địa bàn lãnh thổ đó thay mặt cho nhà
nước quản lý trong phạm vi địa phương mình. Vì vậy sự cần thiết phải thành lập cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương là một tất yếu khách quan.
I. KHÁI QUÁT CHUNG
1. Một số khái niệm cơ bản
Cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận của bộ máy nhà nước được thành
lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực, trên các
đơn vị hành chính lãnh thổ nhất định theo quy định của pháp luật.
Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là một bộ phận của bộ máy nhà
nước, có chức năng quản lý hành chính trong đơn vị lãnh thổ là địa phương mình
theo quy định pháp luật.
Khái niệm chính quyền địa phương là khái niệm phái sinh từ khái niệm hệ thống
các cơ quan nhà nước ở địa phương. Khái niệm này được sử dụng khá phổ biến
trong nhiều văn bản pháp luật của nhà nước. Là một khái niệm được sử dụng nhiều
trong tổ chức và hoạt động của nhà nước vào đời sống thực tế xã hội, tuy nhiên
hiện nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào định nghĩa khái niệm chính quyền
địa phương bao gồm những thiết chế nào, mối quan hệ và cơ chế hoạt động cụ thể
của các bộ phận cấu thành. Xuất phát từ góc độ nghiên cứu lý luận, từ góc độ thực
tiễn hay cách thức tiếp cận vấn đề nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà thực
tiễn và quản lý tập trung vào 3 quan niệm như sau:
- Chính quyền địa phương là khái niệm dùng chung để chỉ tất cả các cơ quan

Việc quản lý ở địa phương đã từ xa xưa nhà nước nào cũng phải tiến hành. Bởi
một lẽ thông thường rằng, không một chính phủ của một là nước nào chỉ thực hiện
quyền lực nhà nước của mình ở một chỗ, nơi toạ ngự của các cơ quan Nhà nước
trung ương. Vì vậy bất cứ chế độ chính trị nào cũng phải lo việc quản lý địa
phương. Đây không phải là vấn đề dễ giải quyết vì biên giới thích hợp cho một
hoạt động này thì lại ít khi đồng nhất, lại thích hợp cho một loại hoạt động khác.
Một thị trấn lớn được cung cấp nước từ chỗ này, nhưng lại được thoát nước lại từ ở
những chỗ kia. Hệ thống giao thông nối liền các vùng trong một thị xã với nhau và
với các vùng phụ cận theo một kế hoạch, hoàn toàn khác với các vùng phục vụ cho
việc giáo dục và đào tạo, cũng như các vùng phòng và chống tội phạm.
Nếu mỗi chức năng của chính quyền xét về phương diện địa dư được phóng chiếu
trên một tấm bản đồ tương ứng với những những nhu cầu riêng của chức năng đó,
và đặt chúng chồng lên nhau, thì sẽ cho chúng ta một kết quả, không một cái nào
chồng khít lên một cái nào cả.
Vì vậy ta hiểu rằng địa phương là yếu tố cấu thành lên nhà nước , chính quyền địa
phương là đơn vị cấu thành lên nhà nước . Đồng thời để thực hiện các hoạt động
quản lý của mình nhà nước tiến hành phân chia thành các địa phương để thực hiện
hoặc là giúp để thực hiện tốt công tác quản lý của nhà nước. Trong lịch sử tư tưởng
– chính trị của thế giới và mỗi quốc gia đã có nhiều bàn luận về công việc tổ chức
và hoạt động của bộ máy nhà nước . việc tổ chức bộ máy nhà nước không những
được diễn ra ở cấp trung ương mà còn ở các cấp độ địa phương. Do vậy sự ra đời
của cơ quan hành chính địa phương mang tính chất khách quan. Đó là sự đòi hỏi
tất yếu của quá trình phát triển quốc gia. Nhà nước có nhiều vấn đề cần quan tâm,
chú ý. Nhiều vấn đề địa phương chính phủ trung ương không có điều kiện thực tiễn
để giải quyết.
Trước hết, trong thực tế, các nhà chức trách hành chính trung ương không thể
nào trực tiếp chỉ huy trọn vẹn tất cả các công việc nhà nước trên phạm vi toàn lãnh
thổ được, vì thế,cần có đại diện của chính quyền trung ương tại địa bàn lãnh thổ
đó.
Hai là , việc thành lập chính quyền địa phương ở trung ương không thể đủ sức

Giai đoạn thứ ba: Từ 1980 đến 1992, là giai đoạn tiến hành xây dựng CNXH trong
cả nước. Đặc trưng của giai đoạn này là việc tổ chức và hoạt động của CQĐP theo
mô hình của Liên xô (cũ); chỉ các cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra mới được
thừa nhận là cơ quan quyền lực nhà nước; triệt để tuân thủ nguyên tắc tập quyền
XHCN; tổ chức chính quyền ở các cấp cơ bản giống nhau Do nhiều nguyên nhân
khách quan và chủ quan nên CQĐP giai đoạn này không được phát huy, dân chủ
trở nên hình thức. Tổ chức và hoạt động của CQĐP đều rập khuôn theo chính
Quyền trung ương.
Giai đoạn thứ tư: Từ 1992 đến nay. Với sự nhận thức mới bộ máy nhà nước, xây
dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN nên các cấp CQĐP đã chủ
động, sáng tạo hơn, phát huy dân chủ nhiều hơn trong tổ chức và hoạt động.
HĐND các cấp có Thường trực, các ban chuyên môn và bước đầu có sự khác biệt
về thẩm quyền giữa các cấp chính quyền ở địa phương. Tuy nhiên, việc phân cấp
vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để; không có sự phân biệt giữa chính
quyền ở đô thị và nông thôn…
Như vậy, qua các giai đoạn phát triển, mô hình tổ chức và hoạt động của CQĐP ở
nước ta mang những đặc trưng riêng.
Thực tiễn cũng đã chỉ ra được những điểm hợp lý, những bài học kinh nghiệm rất
có giá trị cho quá trình nghiên cứu, xây dựng một mô hình tổ chức CQĐP hoạt
động có hiệu lực, hiệu quả trong thời gian tới.
II. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH Ở ĐỊA
PHƯƠNG.
1. Thế giới
Trong lịch sử tư tưởng chính trị của thế giới chính quyền địa phương có vị trí như
sau:
So với bộ máy chính quyền trung ương ,bộ máy chính quyền địa phương không
những chiếm tỷ trọng rất lớn cả về con người lẫn việc thu tri ngân khố nhà nước,
chính quyền địa phương bao giờ cũng sát nhân dân hơn có điêu kiện phục vụ trưc
tiếp nhân dân một cách tốt hơn.
VAI TRÒ :

Chính quyền địa phương ở Việt Nam là một bộ phận hợp thành của chính quyền
nhà nước và mang tính thống nhất. Cơ cấu tổ chức của nó gồm các cơ quan quyền
lực nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra và các cơ
quan, tổ chức khác được thành lập trên cơ sở các cơ quan quyền lực nhà nước này
theo quy định của pháp luật (Hiến pháp, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ
ban nhân dân, Luật Bầu cử ) nhằm quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội tại
địa phương trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ trên cơ sở sự kết hợp hài hoà
lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích của nhà nước.
Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc
về nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phan công phối hợp
giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền hành pháp, lập pháp và
tự pháp.
Chính quyền địa phương được thành lập đặt dưới sự lãnh đạo và phục tùng tuyệt
đối của chính quyền trung ương. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa
phương dựa trên cơ sở pháp luật được phân cấp để thực hiện chức năng quản lý
nhà nước ở địa phương.
Chính quyền địa phương ở nước ta được tổ chức thành ba cấp:
- Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
- Cấp huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh.
- Cấp xã, phường, thị trấn.
Ở mổi cấp đều có hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân trong đó:
- Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện
cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa
phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương.
Căn cứ vào hiếp pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên hội đồng
nhân dân ra nghị quyết về:
- Các biện pháp bảo đảm thi hành hiếp pháp và pháp luật ở địa phương.
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách.
- Các biện pháp ổn định và nân cao đời sống của nhân dân
- Hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao phó cho, làm tròn nghĩa vụ đối với đất

của mình nên phải "xé rào" như một số địa phương đã làm trong thời gian vừa qua.
Cần nghiên cứu để giải quyết triệt để vấn đề này.
2. Tạo điều kiện để nhân dân địa phương tự quyết những vấn đề có liên
quan đến đời sống của nhân dân địa phương
Chính quyền địa phương lại là cơ quan do nhân dân địa phương lập ra (trực tiếp
và gián tiếp) để thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương nhằm phục vụ nhu cầu của
nhân dân địa phương trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, luật và các văn bản
của cơ quan nhà nước cấp trên.
3. Giảm bớt gánh nặng của chính quyền trung ương tạo điều kiện để chính
quyền trung ương tập trung sức lực và thời gian và giải quyết những
công việc vĩ mô.
Phạm vi, đối tượng bảo đảm quyền công dân của chính quyền địa phương rất
rộng so với các cơ quan nhà nước ở trung ương và cơ quan bảo vệ pháp luật ở địa
phương do có những công dân cả đời không có quan hệ gì với các cơ quan bảo vệ
pháp luật, nhưng để thực hiện quyền của mình (chứng thực, công chứng; đăng ký,
thị thực v.v…) thì lại phải thực hiện tại các cơ quan hành chính địa phương thông
qua các hoạt động ban hành văn bản áp dụng và tổ chức thực
Hiện trên thực tế.
4. Để tôn trọng quyền lợi của địa phương trong các chính sách quyết định
của nhà nước.
Mục đích hoạt động của chính quyền địa phương là nhằm tạo ra những điều kiện
tiên quyết để quyền công dân được thực hiện và thực hiện có hiệu quả, còn mục
đích hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật là nhằm bảo vệ và khôi phục lại
các quyền công dân khi có tranh chấp hoặc đã bị xâm hại. Do đó, xác định vai trò,
vị trí của các cơ quan chính quyền địa phương, là nhằm bảo đảm cho các thiết chế
này thực hiện đúng phạm vi thẩm quyền và trách nhiệm, mà trước hết là trách
nhiệm trong việc quyết định và giải quyết các công việc ở địa phương, bảo đảm
xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, tạo cơ sở tiền đề vật chất cho việc thực hiện
quyền công dân ở địa phương.
Quá trình phát triển công nghiệp hoá gắn với đô thị hoá hiện nay đòi hỏi quản lý

nhà nước cấp trên, cơ quan trung ương.
- Tạo điều kiện để nâng cao chất lượng của những dịch vụ công được cung
cấp cho người dân dựa trên trách nhiệm giải trình và sự nhạy cảm trong việc
nắm bắt và đáp ứng nhu cầu của dân chúng của chính quyền địa phương.
- Tăng cường sự phát triển về kinh tế, xã hội dựa trên sự am hiểu chính xác
điều kiện kinh tế - xã hội và các đặc điểm về địa lý, dân cư… của chính
quyền địa phương, trên cơ sở đó đề ra các kế hoạch và có những chính sách
đúng đắn cho việc phát triển đó, phát huy được thế mạnh của mỗi địa
phương.
- Tăng cường sự chủ động, minh bạch, trách nhiệm giải trình và năng lực giải
quyết các công việc của các cơ quan chính quyền địa phương.
- Cho phép đại điện đa dạng hơn về chính trị và sự tham gia của các nhóm lợi
ích như văn hóa, chính trị, tôn giáo, sắc tộc khác nhau… vào quá trình ra
quyết định của các cơ quan nhà nước liên quan đến các vấn đề của mỗi địa
phương.
- Tăng cường sự ổn định chính trị và sự thống nhất của quốc gia thông qua
việc cho phép người dân quyền giám sát một cách trực tiếp và hiệu quả hơn
các chương trình, kế hoạch và hoạt động của chính quyền nhà nước ở địa
phương thuộc các cấp khác nhau.
- Tạo điều kiện cho những ý tưởng kinh tế, chính trị, xã hội… mới nảy sinh,
từ đó có được những chương trình, hoạt động quản lý nhà nước có tính sáng
tạo hơn đối với mỗi địa phương.
Chính quyền địa phương ở Việt Nam có vai trò hai mặt. Một mặt, với tư cách là
một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước thống nhất, chính quyền địa phương
thay mặt nhà nước tổ chức quyền lực, thực thi nhiệm vụ quản lý trên lãnh thổ địa
phương trong cơ cấu quyền lực nhà nước thống nhất trên lãnh thổ Việt Nam. Mặt
khác, chính quyền địa phương lại là cơ quan do nhân dân địa phương lập ra (trực
tiếp và gián tiếp) để thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương nhằm phục vụ nhu cầu
của nhân dân địa phương trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, luật và các văn
bản của cơ quan nhà nước cấp trên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status