Y BAN NHN DN TP.HCM TT.KHUYN NễNG
S KHOA HC V CễNG NGH TP.HCM
BO CO NGHIM THU
NGHIấN CU XY DNG Mễ HèNH NễNG NGHIP BN VNG TRấN VNG PHẩN, PHẩN
NHIM MN HAI X TN NHT, HUYN BèNH CHNH Chuỷ nhieọm ủe taứi: PGS. TS. Lờ Vn T
1.1. Khảo sát 22
1.1.1. Khảo sát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hôi 22
1.1.2. Khảo sát phương thức sản xuất của cộng đồng dân cư địa phương 22
1.1.3. Khảo sát đối tượng sản xuất 22
1.2 Nghiên cứu bố trí quy hoạch, thiết kế cụm sinh thái 22
1.2.1. Về quy họach 22
1.2.2. Về thiết kế 22
1.3. Xây dựng mô hình mẫu 22
1.3.1.Trồng cây xanh 23
1.3.2.Phổ cập kiến thức cơ bản về tài nguyên môi trường nông thôn cho tòan
cộng đồng 24
1.3.3. Xây dựng hệ thống canh tác phù hợp khép kín theo từng tiểu vùng
(phèn, phèn nhiễm mặn) 24
1.4. Đề xuất các giải pháp mở rộng mô hình mẫu, hình thành cụm sinh thái 24
1.4.1. Giải pháp sạch 24
1.4.2. Giải pháp xanh 24
1.4.3. Giải pháp đẹp 24
1.4.4. Giải pháp kinh tế 24
2. Phương pháp nghiên cứu 25
2.1. Khảo sát 25
2.2. Nghiên cứu bố trí quy hoạch, thiết kế cụm sinh thái 25
2
2.3. Xây dựng mô hình mẫu 25
2.4. Đề xuất các giải pháp mở rộng mô hình mẫu, hình thành cụm sinh thái 25
CHƢƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
1. Khảo sát 26
1.1. Kết quả khảo sát về tình hình sản xuất nông nghiệp tại xã Tân Nhựt, huyện
Bình Chánh 26
1.1.1. Điều kiện tự nhiên 26
2.2. Thiết kế bố trí khu nhà ở, công trình phụ, khu vực sản xuất cho 1 nông hộ
tiêu biểu 45
3. Xây dựng mô hình mẫu 48
3
3.1. Mô hình mẫu ở cụm sinh thái ấp 3, xã Tân Nhựt 48
3.1.1. Mô hình nuôi cá ghép theo hướng VIETGAP 48
3.1.2. Mô hình nuôi cá kiểng 54
3.1.3. Mô hình chăn nuôi (heo) kết hợp thủy sản (cá) và trồng cây ăn trái (VAC)
có xây dựng hệ thống biogas 58
3.2. Mô hình mẫu ở cụm sinh thái ấp 4, xã Nhơn Đức 59
3.2.1. Mô hình nuôi tôm sú luân canh tôm càng xanh theo tiêu chuẩn
VIETGAP 59
3.2.2. . Mô hình chăn nuôi (heo) kết hợp thủy sản (cá) và trồng cây ăn trái (VAC)
có xây dựng hệ thống biogas 66
3.3. Đề xuất các mô hình cho cụm sinh thái ấp 3, xã Tân Nhựt 67
3.3.1. Mô hình sản xuất 67
3.3.2. Mô hình nông nghiệp bền vững 68
3.3.3. Tiêu chí mô hình nông nghiệp bền vững 68
3.3.3.1. Những căn cứ để xây dựng tiêu chí 68
3.3.3.2. Bền vững về môi trường sinh thái 69
3.3.3.3. Bền vững về kinh tế 69
3.3.3.4. Bền vững về xã hội 69
3.4. Đề xuất các mô hình cho cụm sinh thái ấp 4 xã Nhơn Đức 70
3.4.1. Mô hình sản xuất 70
3.4.2. Mô hình nông nghiệp bền vững 70
3.4.3. Tiêu chí mô hình nông nghiệp bền vững 71
3.4.3.1. Những căn cứ để xây dựng tiêu chí 71
3.4.3.2. Bền vững về môi trường sinh thái 71
3.4.3.3. Bền vững về kinh tế 72
5
52
9
So sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình nuôi cá ghép theo hướng
VIETGAP và mô hình cũ – Hộ : Lê Văn Kim
53
10
Hiệu quả kinh tế mô hình nuôi cá kiểng – Hộ : Nguyễn Thị Gấm
55
11
Hiệu quả kinh tế mô hình nuôi cá kiểng – Hộ : Phạm Thị Gái
56
12
So sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình nuôi tôm sú luân canh và
mô hình nuôi tôm sú quãng canh – Hộ : Nguyễn Văn Lễ
61
13
So sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình nuôi tôm sú luân canh và
mô hình nuôi tôm sú quãng canh – Hộ : Võ Văn Năm
63
14
So sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình nuôi tôm sú luân canh và
mô hình nuôi tôm sú quãng canh – Hộ : Nguyễn Văn Chí
65
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Số
TÊN HÌNH ẢNH
TRANG
1
Hệ sinh thái vườn rừng
Sử dụng thùng chứa rác trong sinh hoạt nông hộ
75
6
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT AFTA: Hiệp hội thương mại Châu Á – Thái Bình Dương.
ATVSTP: An toàn vệ sinh thực phẩm
CN: Công nghiệp
CNH: Công nghiệp hóa
ĐTH: Đô thị hóa
GAP: Good Agricultural Practice (Thực hành nông nghiệp tốt)
HĐH: Hiện đại hóa
HTX: Hợp tác xã
KHKT: Khoa học kỹ thuật
NNBV: Nông nghiệp bền vững
RVAC: Rừng, vườn, ao, chuồng.
TTCN: Tiểu thủ công nghiệp
VAC: Vườn, ao, chuồng
WTO: Tổ chức thương mại thế giới
miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Địa hình tổng quát có dạng
thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây; chia thành 3 tiểu vùng với quỹ
đất nông nghiệp hạn chế, độ phì nhiêu kém, trong đó trên 50% là đất nhiễm phèn,
mặn và 20 % là đất xám, đồi gò, bạc màu; là đầu mối giao thông lớn, nối liền với
các tỉnh trong vùng Nam Bộ, Nam Trung bộ và Tây nguyên; là cửa ngõ của cả
nước với quốc tế, có bờ biển ở phía Nam huyện Cần Giờ dài 15 km.
Vùng đất phèn (nặng, nhiễm mặn ) là nơi mà hệ sinh thái nông nghiệp thể
hiện sự nhạy cảm, kém bền vững. Điều đó có nghĩa, hệ sinh thái nông nghiệp trên
vùng đất này có mối liên hệ giữa các thành phần trong hệ không chặt chẻ và khi có
những tác động tiêu cực từ bên ngoài vào thường làm rối loạn chức năng, cân bằng
trong hệ bị phá vỡ, dẫn đến suy thoái. Đây là vùng cư trú của cộng đồng nghèo, học
vấn tương đối thấp so với mặt bằng chung của địa phương, nguồn sống chủ yếu dựa
vào các giá trị phi thị trường của hệ sinh thái, thích nghi chậm với sự biến đổi kinh
tế.
Diện tích nhóm đất phèn và mặn phèn TP. Hồ chí Minh là 115.793 ha,
chiếm 60,4% diện tích tự nhiên toàn thành phố, phân bổ ở hầu hết các huyện ngoại
thành, là vùng đất mà trên đó, từ nhiều năm nay, liên tục có những sự cải tạo, tháu
chua rửa mặn, nhưng năng suất cây trồng, vật nuôi luôn ở mức thấp, dẫn đến đời
sống của cộng đồng cư dân địa phương còn rất nhiều khó khăn. Bên cạnh đó,
những tác hại về môi trường do việc triển khai hệ thống canh tác không phù hợp,
đào kênh lên liếp không đúng yêu cầu kỹ thuật, dẫn đến những tác hại khó lường.
Đất đai bị thoái hóa, nhất là ở vùng đất phèn tiềm tàng, tầng sinh phèn nông (chiếm
32% diện tích đất phèn). Cây trồng, vì thế khó phát triển, không đạt hiệu quả kinh
tế. Và, xét cả về khía cạnh môi trường, làm cho độ phủ xanh chung toàn TP có
những hạn chế trong việc góp phần chống gió bão, điều hòa khí hậu, ngăn ngừa ô
nhiễm mà một đô thị lớn như TP. Hồ chí Minh luôn phải đối mặt do tốc độ ĐTH,
CNH & HĐH tăng nhanh làm cho môi trường thành phố luôn ở tình trạng báo động
9
bởi nhiều tác nhân gây ra như sản xuất, giao thông, xây dựng, sinh hoạt con người
mặn nhằm nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng, điều kiện sống của cộng đồng
dân cư; kết hợp với bảo vệ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học.
3. Nội dung:
3.1. Nội dung 1: Khảo sát
- Khảo sát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hôi: thổ nhưỡng, đất đai, môi
trường nước, tài nguyên sinh vật, xã hội, văn hóa, dân trí ở 02 cộng đồng (cụm) dân
cư ở xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè (phèn nhiễm mặn), và xã Tân Nhựt, huyện Bình
Chánh (phèn từ trung bình đến nặng).
10
- Khảo sát phương thức sản xuất của cộng đồng dân cư địa phương tác động
lên hệ sinh thái tự nhiên, hệ sinh thái nhân tạo (nông nghiệp) trong quá trình sản
xuất, sinh hoạt và mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng, giữa cộng
đồng với các cộng đồng dân cư khác trong vùng.
- Khảo sát đối tượng sản xuất: các chủng loại vật nuôi cây trồng đang sản
xuất, kỹ thuật áp dụng, năng suất, giá trị sản xuất.
3.2. Nội dung 2: Nghiên cứu bố trí quy hoạch, thiết kế cụm sinh thái
- Về quy họach: Thống nhất vị trí, địa điểm bố trí cụm sinh thái cho hai
cộng đồng.
- Về thiết kế: + Tiến hành đo đạc, thiết kế mặt bằng tổng thể cụm sinh
thái.
+ Sơ đồ bố trí khu nhà ở, vườn cho 1 nông hộ.
3.3. Nội dung 3: Xây dựng mô hình mẫu
Xây dựng 5- 6 hộ mẫu với qui mô diện tích 2,0 – 3,0 ha, bình quân 3.000 -
5000m
2
/ hộ, cho mỗi cụm sinh thái ( cụm dân cư), và diện tích mỗi cụm 6 – 10 ha.
Các hộ mẫu được chọn nằm liền kề nhau nhằm mục đích đánh giá tác động hỗ
tương và ảnh hưởng môi trường. Dung lượng mẫu 20%.
3.4. Nội dung 4: Đề xuất các giải pháp mở rộng mô hình mẫu, hình thành cụm
Tiêu chí của sản xuất nông nghiệp bền vững có nhiều vấn đề, nhưng tập
trung là tạo ra sản phẩm sạch, an toàn và bảo vệ môi trường; trong đó, có bảo vệ
nguồn nước và bảo tồn tài nguyên đất. Khai thác, sử dụng hữu cơ là một giải pháp
để bảo tồn tài nguyên đất trong sản xuất nông nghiệp bền vững.
Hiện có rất nhiều khái niệm về nông nghiệp bền vững. Sau đây là một số
khái niệm phổ biến :
Nông nghiệp bền vững ( NNBV) là một hệ thống thiết kế tạo nên môi trường
sống ổn định cho con người (B. Mollison)
Nông nghiệp bền vững là hệ thống canh tác sử dụng hệ sinh thái làm nền
tảng cho việc thiết lập một hệ thống tổng hợp sản xuất thực phẩm, khu cư trú, công
nghệ phù hợp, và phát triển cộng đồng. NNBV được xây dựng trên nền tảng bảo vệ
trái đất và sự tác động qua lại với môi trường qua các phương thức hoạt động kinh
tế tương hỗ ( Cathe Fish & Bill Steen)
Nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế ổn định gắn với các mối
quan hệ liên kết của con người, cây trồng, vật nuôi, và trái đất (Lee Barnes)
Nông nghiệp bền vững là các hoạt động thiết kế hệ thống sử dụng sao cho
bền vững và sinh thái; là các hoạt động thiết kế các hệ thống văn hóa thích hợp dẫn
tới sự ổn định xã hội, một hệ thống thiết kế mang đặc điểm ứng dụng các nguyên
tắc sinh thái tổng hợp trong sử dụng đất; một sự dịch chuyển hợp lý của công tác
quy hoạch thiết kế sử dụng đất; một hệ thống hợp tác và năng động (Michael
Pilanski)
Nông nghiệp bền vững là một khái niệm thực tiển có thể áp dụng ở các vùng
đô thị, nông trại và cho toàn thế giới. Các nguyên tắc của NNBV nhấn mạnh đến sự
hình thành môi trường sản xuất cao, cung cấp thực phẩm, năng lượng, khu cư trú,
và thỏa mản các nhu cầu khác của con người. Các mô hình tự nhiên quan sát được
mang đặc điểm từng khu vực riêng biệt, các nhà thiết kế NNBV dần dần sử dụng
các phương pháp tối ưu qua việc gắn kết với các lưu vực, khu cư trú, hệ thống năng
lượng…. Với các vụ mùa, cây trồng đa niên hữu ích, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi
động vật hoang dã, và thuần hóa (A Bay Area Permaculture Group Brochure).
lập địa phì nhiêu ban đầu. Một biện pháp thiết kế được gọi là “Nông nghiệp bền
vững” được đề xuất thông qua tác phẩm “Permaculture One”, được xuầt bản năm
1978. Sau khi ấn bản trên được phát hành, Mollison và Holmgren đã phát triển ý
tưởng này qua việc thiết kế hàng trăm vùng sản xuất nông nghiệp bền vững và trình
bày nó trong các cuốn sách chi tiết hơn. Mollison đi dạy trên 80 nước và khóa huấn
luyện hai tuần có hàng trăm người theo học. Đầu thập kỷ 80, thế kỷ 20, khái niệm
được dịch chuyển từ việc thiết kế hệ thống canh tác nông nghiệp sang quá trình
thiết kế đầy đủ hơn đối với việc sáng tạo các khu cư trú ổn định cho con người.
Giữa thập kỷ 90, thế kỷ 20, nhiều người theo học các khóa huấn luyện hai tuần của
Mollison đã trở thành các nhà thực hành thành công, và chính họ chuyển giao các
kỹ thuật mà họ đã học được. Trong 1 thời gian ngắn, các tập đoàn, dự án, hội, viện
nghiên cứu liên quan đến nông nghiệp bền vững đã được hình thành và phát triển ở
hàng trăm quốc gia. Nông nghiệp bền vững đã phát triển từ Australia thành “chiến
13
dịch mang tầm vóc quốc tế”. Patrick Whitefield, người Anh, tác giả cuốn “The
Earth Care Manual and Permaculture in a Nutshell” đề nghị rằng hiện có 2
khuynh hướng sản xuất nông nghiệp bền vững:
- Nông nghiệp bền vững nguyên bản; (origin permaculture)
- Nông nghiệp bền vững sao chép; (design permaculture).
Trong đó, Nông nghiệp bền vững nguyên bản cố gắng lặp lại thiên nhiên một
cách sát sao qua việc phát triển các hệ sinh thái tạo ra các sản phẩm phục vụ cho cái
ăn của con người. Nông nghiệp bền vững sao chép tạo ra sự kết nối các hoạt động
trong một hệ sinh thái và sử dụng chúng như là nền tảng. Kết quả cuối cùng trông
không giống “tự nhiên”, chẳng hạn như “vườn rừng”, nhưng vẫn một thiết kế
xuyên suốt trên cơ sở các nguyên tắc sinh thái, cụ thể có bảy tầng trong hệ sinh thái
vườn rừng, gồm: (từ trên xuống)
- Tầng tán
- Tầng cây thấp
- Cây bụi
* Nông nghiệp bền vững khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ, không
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật làm ô nhiễm môi trường;
* Nông nghiệp bền vững nhằm mục đích tối đa hóa mối quan hệ cộng sinh,
hữu cơ của các thành phần trong cùng một lập địa;
* Nông nghiệp bền vững là qui hoạch đô thị và cũng là thiết kế đất đai nông
thôn;
* Thiết kế hệ thống nông nghiệp bền vững mang đặc điểm chuyên biệt cho
từng lập địa, đối tượng và biện pháp canh tác.
Về nguyên tắc thiết kế hệ thống nông nghiệp bền vững, David Holmgren đã
đưa ra 12 nguyên tắc trong cuốn sách “Permaculture Principles and Pathway
Beyond Sustainabilities” như sau:
* Quan sát và can thiệp, bằng việc dành thời gian gắn kết với thiên nhiên, có
thể thiết kế các giải pháp phù hợp với yêu cầu đặc biệt của chúng ta.
* Nắm bắt và tồn trữ năng lượng, qua việc phát triển các hệ thống có thể tập
trung nguồn lực khi chúng dồi dào, và có thể sử dụng chúng khi cần thiết.
* Tiếp nhận năng suất, nhằm đảm bảo bạn đang nhận tặng phẩm hữu ích thật
sự như là một phần việc bạn đang làm.
* Áp dụng các điều tự qui định và chấp nhận hiện trạng – không cần khuyến
khích các hoạt động không phù hợp nhằm đảm bảo hệ thống có thể thực hiện tốt
chức năng của nó.
* Không lãng phí, bằng việc đánh giá và sử dụng tất cả các nguồn tài nguyên
không thể tái tạo.
15
* Sử dụng và định giá các dịch vụ và tài nguyên có thể tái tạo, bằng cách sử
dụng tốt nhất sự giàu có của thiên nhiên nhằm giảm bớt cung cách tiêu thụ và phụ
thuốc vào các nguồn tài nguyên không thể tái tạo.
* Thiết kế từ các mô hình đến chi tiết, qua việc quan sát các mô hình trong tự
nhiên và xã hội. Các mô hình này có thể hình thành nên các trục xương sống trong
kinh tế toàn cầu như hiện nay.
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, mặc dù lợi nhuận của sản xuất
công nghiệp những năm qua luôn đem lại cho đất nước tốc độ tăng trưởng GDP
16
cao. Nhưng trên thực tế, chỉ số phát triển của nông nghiệp mới thật sự mạnh. Giá trị
kim ngạch xuất khẩu của nông nghiệp nước ta luôn chiếm tỷ trọng cao hơn so với
công nghiệp; tính bền vững cũng cao hơn công nghiệp. Thực tế đó càng được
chứng minh rõ ràng hơn khi các chuyên gia kinh tế đưa ra phác đồ phân tích mức
độ tác động bởi ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu. Theo phác đồ này, trong
3 lần nền kinh tế đất nước bị ảnh hưởng bởi sự suy thoái kinh tế toàn cầu thì cả 3
lần nền nông nghiệp nước ta không những không bị ảnh hưởng suy giảm mà còn
đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng. Mặc cho nền công nghiệp, thương mại - dịch vụ bị
ảnh hưởng mạnh mẽ bởi suy giảm kinh tế, hàng loạt nhà máy, xí nghiệp phá sản,
lao động khốn đốn vì thất nghiệp thì nông nghiệp vẫn vững bước đi lên. Trong khó
khăn, nông nghiệp lại chính là điểm trở về của lao động nông thôn, 80% lao động
của cả nước có việc làm ổn định mặc dù thu nhập không cao.
Đi sâu phân tích, chúng ta sẽ thấy trong sản xuất nông nghiệp, vai trò của cây
lúa đối với an ninh lương thực là cực kỳ quan trọng. Quay trở lại thời điểm sốt giá
gạo hồi đầu năm 2008, chúng ta mới thấy hết được tầm quan trọng của sản xuất
nông nghiệp nói chung, vai trò của cây lúa nói riêng. Thử tưởng tượng nếu không
có một nền sản xuất nông nghiệp bền vững, chỉ cần một vài lần sốt ảo giá gạo như
vậy thì nền kinh tế đất nước sẽ đi đến đâu, thị trường sẽ hỗn loạn như thế nào?
Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của nông nghiệp - nông dân, đầu
năm 2009, Chính phủ đã cho thực hiện gói kích cầu kinh tế, trong đó ưu tiên hàng
đầu cho phát triển nông nghiệp. Trung ương Đảng cũng đã xây dựng hẳn một nghị
quyết về vấn đề nông nghiệp - nông dân - nông thôn nhằm thúc đẩy nền nông
nghiệp phát triển mạnh, duy trì và ổn định nền kinh tế đất nước. Chính những chính
sách đúng đắn đó đã góp phần rất lớn vào sự phát triển bền vững, không đẩy nền
kinh tế nước ta lún sâu vào đại suy thoái. Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế
hình, mạng lưới khuyến nông. Tuy nhiên, các thông tin này thường chỉ tập trung
vào kỹ thuật sản xuất, trong khi đó câu hỏi đầu tiên đặt ra cho các nhà sản xuất phải
là sản xuất cho ai, bao nhiêu? Sau đó mới là sản xuất như thế nào?
Các thông tin bà con nông dân tiếp cận được rất chung chung về cầu và giá
các sản phẩm cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, đại loại như “tới đây sẽ thiếu
nguyên liệu cá ba sa”, “nhu cầu của thị trường rất lớn”, “sẽ xuất khẩu sang thị
trường EU” Nhận được thông tin kiểu này, người nông dân sẽ ào ạt phát triển tự
phát là điều không tránh khỏi. Để khắc phục tình trạng này, cần:
- Lập một cơ quan nghiên cứu, tổng hợp đủ mạnh để dự báo nhu cầu, giá cả
sản phẩm trong và ngoài nước theo từng thời điểm cụ thể. Các thông tin này phải
được cập nhật liên tục và thường xuyên cung cấp cho nông dân.
- Cần có quy hoạch tổng thể quy mô quốc gia về mỗi loại hàng nông, lâm,
thuỷ sản phù hợp với điều kiện đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu , chỉ rõ loại cây trồng,
vật nuôi, số lượng, quy mô diện tích ở từng khu vực cụ thể. Đặc biệt đối với một
số cây trồng có thế mạnh như lúa, cà phê phải chỉ rõ đến tận cánh đồng của từng
xã. Các thông tin này phải được công khai đến cơ quan chức năng của từng địa
phương và bà con nông dân.
- Các địa phương thường xuyên tổng hợp số liệu hiện trạng về quy mô sản
xuất, thông báo công khai để nông dân tự xem xét nhu cầu thị trường và năng lực
sản xuất của mình để ra quyết định. Hiện nay, việc quy hoạch đang được thực hiện
theo mục tiêu của từng tỉnh; quy hoạch vùng, quy hoạch quốc gia chỉ mang tính
định hướng.
18
- Diện tích đã được quy hoạch để canh tác các loại cây trồng nông nghiệp
quan trọng phục vụ an ninh lương thực (như lúa ) phải được giao cho Bộ Nông
nghiệp và phát triển nông thôn quản lý. Với cách làm này sẽ tránh được tình
trạng diện tích nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích tuỳ tiện. Chiến lược phải được
giao cho Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và chịu trách nhiệm trước
Chính phủ, nhân dân.
với mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá được, đồng thời
với những hạn chế về quy hoạch, thiếu thông tin về quy mô, sản lượng, giá thị
trường đã dẫn đến tình trạng nông dân sản xuất theo phong trào, có năm quá dư
19
thừa, có năm quá thiếu. Để khắc phục tình trạng này, vai trò và trách nhiệm chính
thuộc các cơ quan quản lý nhà nước.
Mục tiêu và cũng là động lực phát triển nông thôn bền vững là nâng cao chất
lượng cuộc sống của người dân, xét trên cả khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường.
Theo đó, nông dân phải là nhân vật trung tâm, người được hưởng lợi trước tiên từ
những thành quả của quá trình phát triển.
Nội dung của phát triển nông thôn bền vững bao gồm 4 quá trình: Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa; đô thị hóa; kiểm soát dân số; bảo vệ môi trường sinh thái.
Có thể nói về thực chất của công cuộc chấn hưng đất nước trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế là phát triển nông thôn bền vững với 4 quá trình đó. Xét riêng
quá trình phát triển nông nghiệp bền vững (bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, trồng
rừng, nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản), yếu tố đầu tiên và căn bản là nông sản phải
đảm bảo 4 yêu cầu:
- Chất lượng sản phẩm phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của thị trường,
trước hết là đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế về vệ sinh an toàn thực phẩm. Đồng thời
sản phẩm nông nghiệp phải đa dạng, có hàm lượng công nghệ cao.
- Giá cả nông sản hợp lý, có sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
- Khối lượng nông sản phải có quy mô đủ lớn theo yêu cầu thị trường, cụ thể
là theo từng yêu cầu của nhà phân phối, nhất là của nhà nhập khẩu nông sản từ Việt
Nam.
- Thời gian cung ứng nông sản phải đáp ứng yêu cầu khắt khe của nhà phân
phối, nhất là của nhà nhập khẩu nông sản từ Việt Nam.
Muốn đáp ứng 4 yêu cầu trên, nền nông nghiệp phải được phát triển trên các
cơ sở: thực hiện một nền nông nghiệp đa chức năng, vừa sản xuất nông phẩm hàng
hóa vừa kết hợp phát triển du lịch sinh thái và tạo cảnh quan môi trường sống tốt
- Đào tạo miễn phí cho con em nông dân, từ bậc tiểu học đến phổ thông
trung học cơ sở và trung học cao đẳng nghề nông nghiệp, để tạo ra một đội ngũ chủ
trang trại “thanh nông tri điền” và các kỹ thuật viên nông nghiệp trên tất cả các
vùng nông nghiệp sinh thái.
- Đầu tư cho hoạt động khuyến nông để nâng cao kỹ năng cho đội ngũ nông
dân hiện hữu theo nhu cầu của nông dân và thị trường nông sản, không phân biệt
chủ thể (tổ chức) hoạt động khuyến nông.
- Tài trợ 100% kinh phí cho các đề tài khoa học kỹ thuật và kinh tế-xã hội
phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, không phân biệt chủ thể (tổ chức và cá
nhân) thực hiện các đề tài khoa học này.
Quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa nông thôn phải theo mô hình nhiều trung
tâm trên các vùng sinh thái tự nhiên và nhân văn; mỗi trung tâm lại có nhiều “vệ
tinh”, kết nối chặt chẽ với nhau về kinh tế-văn hóa, xã hội, lịch sử và sinh thái. Mô
hình này cho phép tiến tới xóa bỏ sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn xét về
mức sống vật chất và tinh thần. Điều khác biệt chỉ còn là ở chỗ, mật độ dân số và
các công trình xây dựng ở đô thị cao hơn nông thôn, còn môi trường sinh thái tự
nhiên ở nông thôn tốt hơn thành thị; Nông thôn có cảnh quan thiên nhiên thỏa mãn
nhu cầu du lịch nông thôn của dân cư thành thị
Muốn vậy, thể chế quản lý vi mô của Nhà nước cần:
- Không được hy sinh lợi ích của bất kỳ nhóm dân cư nào trong quá trình
phát triển nông thôn, nhất là trong việc xây dựng các khu công nghiệp - đô thị mới,
phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp.
21
- Quy hoạch hệ thống các đô thị trung tâm và vệ tinh trên cả nước và ở mỗi
vùng kinh tế-sinh thái; có chính sách tài trợ, khuyến khích phát triển công nghiệp,
dịch vụ ở các đô thị vệ tinh, phục vụ trực tiếp cho nông nghiệp và sử dụng lực
lượng lao động nông nghiệp dôi dư. Nhà nước phải đứng ra tổ chức thực hiện đền
bù giải phóng mặt bằng để xây dựng khu công nghiệp - đô thị, kết cấu hạ tầng, rồi
đấu thầu cho các doanh nghiệp tổ chức thực hiện quy hoạch (không để các doanh
Công nghệ
5. Chính sách
1. Phân vùng
sinh thái
2. Lựa chọn
cây trồng vật
nuôi
3. Lựa chọn
mô hình
4. Các ngành
hỗ trợ
=> Tăng trƣởng
kinh tế:
1. Bảo vệ môi
trường (hệ sinh
thái)
2. Nâng cao thu
nhập cho nông
dân, xóa đói
giảm nghèo
3. Nâng cao chất
lượng cuộc sống
22
CHƢƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Nội dung nghiên cứu
- Trung tâm Khuyến nông hỗ trợ nguồn kinh phí thực hiện các mô hình.
Mô hình nông nghiệp bền vững căn bản dựa trên hệ canh tác tổng hợp
(VAC), (RVAC), hoặc mô hình chuyên canh, sản xuất sinh học thân thiện với môi
trường; trong đó, chú ý đến việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi hiệu quả ở cả hai (
2) khía cạnh kinh tế và môi trường như kết hợp các biện pháp thu gom, phân lọai,
xử lý, chế biến rác thải thành phân hữu cơ.
23
Mô hình VAC, RVAC, hoặc mô hình chuyên canh sẽ được lựa chọn làm mô
hình mẫu cho từng vùng dựa trên nguyên tắc sử dụng hợp lý tài nguyên nông hộ để
sản xuất hướng đến thị trường nhằm đạt mục đích phát triển nông nghiệp bền
vững, ở các tiêu chí sau:
* Bền vững về môi trường: Sự cân bằng hệ sinh thái.
* Bền vững về kinh tế: Tăng thu nhập cho người nông dân.
* Bền vững về xã hội: Nâng cao chất lượng cuộc sống;
Giải quyết việc làm; Xóa đói giảm nghèo. 1.3.1. Trồng cây xanh
Căn cứ vào điều kiện thỗ nhưỡng, đất đai, khí hậu, thủy văn và môi trường
đề xuất những lọai cây trồng phù hợp theo từng quy mô vườn và diện tích hộ, gồm
hai lọai cây trồng chính:
+ Cây lâm nghiệp: Tràm nước, Tre, Tràm, Sao xanh, Sao nước….
kinh tế kỹ thuật, môi trường về canh tác nông nghiệp bền vững.
+ Tổ chức các lớp tập huấn chuyên đề, đặc biệt là cho lực lượng lao động
nông nghiệp trẻ.
+ Tổ chức các họat động tham quan về các điển hình liên quan ở các địa
bàn khác.
+ Thành lập tủ sách khuyến nông ở mỗi cụm dân cư.
1.3.3. Xây dựng hệ thống canh tác phù hợp khép kín theo từng tiểu vùng (phèn
nhiễm mặn và phèn )
Bố trí lại cơ cấu cây trồng vật nuôi, xây dựng hầm ủ biogas, sử dụng các
chế phẩm sinh học để ủ phân hữu cơ từ rác thải người và gia súc; đầu tư máy móc,
trang thiết bị phục vụ sản xuất, bảo vệ môi trường qui mô hộ gia đình.
1.4. Đề xuất các giải pháp mở rộng mô hình mẫu, hình thành cụm sinh thái
Mở rộng các mô hình mẫu dựa trên các giải pháp:
1.4.1. Giải pháp sạch: Hỗ trợ các công trình cung cấp nước sạch (nước sinh hoạt);
xử lý rác thải, chất thải… cho cư dân 2 cộng đồng. Xây dựng tổ tự quản bảo vệ môi
trường: thu gom, phân loại, xử lý rác thải, chất thải; hỗ trợ xây dựng các bể chứa
rác chung cho cộng đồng (2 bể/cụm), xe rác đẩy tay phục vụ vận chuyển và thu
gom rác thải, vận động xây dựng 10 – 20 túi ủ biogas/cụm.
1.4.2. Giải pháp xanh: Vận động trồng cây đạt ít nhất 30% độ phủ xanh toàn cộng
đồng, bao gồm cây xanh trồng cho bong mát và cây ăn trái các loại.
1.4.3. Giải pháp đẹp: Phục hồi một số họat động văn hóa truyền thống cộng đồng;
bố trí hệ thống cây xanh, hoa kiểng phù hợp, nhiều tầng tán trên phạm vi toàn cộng
đồng và từng hộ.
1.4.4. Giải pháp kinh tế:
- Xây dựng hệ thống tưới tiêu nội đồng.
- Xây dựng hệ thống giao thông nội đồng, nâng cấp hệ thống giao thông
chính kết nối cộng đồng với xã, thị trấn, thành phố.
- Hỗ trợ vốn vay cho các nông hộ để mở rộng sản xuất (Hội Nông dân TP,
chương trình 105, chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá…).
xanh phù hợp ở 2 địa bàn ấp 3, xã Tân Nhựt và ấp 4, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè
- Tổ chức hội thảo lấy ý kiến của cư dân ở 2 cụm sinh thái ấp 3, xã Tân Nhựt
và ấp 4 xã Nhơn Đức về các mô hình mẫu đã được đề xuất và mô hình trồng cây
xanh của các chuyên gia.
2.4. Đề xuất các giải pháp mở rộng mô hình mẫu, hình thành cụm sinh thái
Tổ chức hội thảo chuyên gia về các gỉai pháp mở rộng mô hình mẫu, hình
thành cụm sinh thaí.