TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LỚP CAO HỌC NGÂN HÀNG ĐÊM 4 – K 21
*
Bài dịch:
DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TẠI CÁC
NỀN KINH TẾ MỚI NỔI
Giảng viên: Hồ Viết Tiến
Nhóm thực hiện: 1. Nguyễn Thị Kim Ngọc
2. Trần Phương Linh
3. Trần Văn Lợi
4. Lê Nguyễn Quốc Trung
Lớp - Khóa: NH Đêm 4 – K21
TP.Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012
Dịch vụ tài chính tại các nền kinh tế mới nổi
DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TẠI CÁC NỀN KINH TẾ MỚI NỔI
Tháng 7 năm 2012
Tăng trưởng trong những nền kinh tế mới nổi lớn nhất - dẫn đầu là Brazil, Trung Quốc
và Ấn Độ - được hỗ trợ bởi sự phát triển của thị trường tài chính trong nước và quốc
tế. Báo cáo này của TheCityUK đã xếp hạng và đánh giá vị trí của các nền kinh tế mới
nổi trong khoảng một chục thị trường tài chính.
TỔNG QUAN
GDP danh nghĩa trong các nền kinh tế mới nổi tăng hơn
gấp đôi, tăng 131% giữa năm 2005 và 2011. Ngoại trừ các quỹ
hưu bổng, tỷ lệ tăng trưởng trong mỗi thị trường tài chính tại các
nền kinh tế mới nổi được xem xét ít nhất là tăng gấp đôi trong
thời gian này (Biểu đồ 1). Trong đó, những lĩnh vực bao gồm quỹ
tương hỗ, vay bên ngoài từ các ngân hàng quốc tế, bảo hiểm hàng
hải và trái phiếu quốc tế là tăng gấp đôi. Tiếp theo là mức tăng
trưởng của trái phiếu trong nước, phí bảo hiểm và vốn hóa thị trường của vốn chủ sở
hữu, tất cả đều tăng khoảng hai rưỡi đến ba lần. Tài sản ngân hàng tăng hơn bốn lần
và hợp đồng giao dịch phái sinh tăng nhanh nhất, tăng hơn sáu lần giữa năm 2005 và
thị trường tài chính hơn so với GDP.
Nguồn tài chính quốc tế, chẳng hạn như ngân hàng cho vay qua biên giới và trái phiếu
quốc tế, có nhiều khả năng được sử dụng bởi các chính phủ và các công ty lớn hơn cho
việc chi tiêu nguồn vốn chính yếu của mình và phát triển kinh doanh. Vốn cổ phần và
trái phiếu thì thu hút các nhà đầu tư quốc tế. Vương quốc Anh đứng đầu trong lĩnh
vực ngân hàng cho vay đối với các nền kinh tế mới nổi và các nhà đầu tư danh mục
lớn thứ ba sau hai nhóm vừa xem xét trên. Nguồn tài chính trong nước, có liên quan
đến các doanh nghiệp nhỏ và cá nhân, bao gồm các chính sách bảo hiểm, đầu tư vào
các quỹ tương hỗ và hưu bổng, các ngân hàng cho vay và tiết kiệm.
Nhóm 7- Lớp NH Đêm 4-K21 Trang 3
Dịch vụ tài chính tại các nền kinh tế mới nổi
Tầm quan trọng ngày càng tăng của các nền kinh tế mới nổi được phản ánh trong sự
nổi trội ngày càng tăng của họ trong nền
kinh tế thế giới. Năm 2000, 10 nền kinh tế
lớn nhất trên thế giới, đặc biệt là top 5, đã
thống trị như họ đã từng trong nhiều thập
kỷ trước, bởi các nước G7 (Bảng 2). Đến
năm 2011, Trung Quốc đã di chuyển đến
vị trí thứ hai với Brazil đến thứ sáu và Nga
thứ mười. Dự báo đến năm 2017 của IMF
cho rằng Ấn Độ cũng sẽ di chuyển vào top
10. In-đô-nê-xi-a, Thổ Nhĩ Kỳ và Ả-rập
Xê-út cũng đã chuyển vào top 20 của bảng
xếp hạng và chỉ có Mexico bị trượt trở lại
một chút.
Phạm vi của các nền kinh tế đang nổi lên
Khoảng 150 quốc gia được IMF định nghĩa là nền kinh tế mới nổi và đang phát triển,
và báo cáo này cũng theo sát định nghĩa này khá chặt chẽ. Để đơn giản và làm nổi bật
các quốc gia không được phân loại là nền kinh tế mới nổi và đang phát triển, đó là:
các nước ở Tây Âu, Mỹ và Canada ở Bắc Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hong
hàng Brazil được liệt kê trong 1000 ngân hàng hàng đầu trên thế giới.
Việc vay mượn từ các ngân hàng quốc tế:
Các nền kinh tế mới nổi trả rất nhiều tiền cho
các trung tâm tài chính tại các nền kinh tế tiên
tiến bằng việc đi vay để tài trợ cho cơ sở hạ
tầng và các dự án lớn khác. Việc vay mượn
qua biên giới như vậy tăng 128% từ 1.989 tỷ
USD năm 2005 lên 4.152 tỷ USD trong năm
2011, mặc dù nó đã giảm so với 4.526 tỷ
USD trong năm 2010. Brazil là nước vay
mượn lớn nhất trong quỹ vay mượn qua biên
giới, với các dư nợ 509 tỷ USD vào cuối năm
2011 (Biểu đồ 4). Tiếp sau đó là Trung Quốc,
với các dư nợ 474 tỷ USD; Mexico 335 tỷ
USD; Ấn Độ 276 tỷ USD; và Ba Lan 250 tỷ
USD.
Nhóm 7- Lớp NH Đêm 4-K21 Trang 6
Dịch vụ tài chính tại các nền kinh tế mới nổi
Khu vực ngân hàng Anh là khu vực cho vay đối với các nền kinh tế mới nổi lớn
nhất, với 764 tỷ USD, chiếm 18% dư nợ tại các thị trường mới nổi vào cuối năm 2011
(Biểu đồ 5). Tiếp sau là Mỹ, với 14% dư nợ. Ngoại trừ Nhật Bản, các nước cho vay
khác chủ yếu là ở Châu Âu: như Tây Ban Nha, Pháp, Đức, Áo, Ý, Hà Lan và Thụy Sĩ.
Các ngân hàng Anh chiếm trên 30% các khoản cho vay đối với Trung Quốc, Ấn Độ và
Malaysia, 49% các khoản cho vay đối với UAE, và 70% các khoản cho vay đối với
Nam Phi. Các ngân hàng Anh cũng chiếm 16% cho vay đối với Brazil nhưng ít hơn
các nước khác ở Nam Mỹ. Họ cũng có một sự hiện diện hạn chế tại Trung và Đông
Âu, với thường khoảng 2% đến 7% các khoản cho vay đối với các quốc gia tại Trung
và Đông Âu.
II. BẢO HIỂM
Bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ: Bảo hiểm bao gồm cả hai bảo hiểm nhân thọ và
hơn 2 lần từ 963 tỷ USD năm 2005 đến 2,02 nghìn tỷ USD năm 2010 trước khi giảm
còn 1,63 nghìn tỷ USD năm 2011. Tốc độ tăng trưởng thị trường chứng khoán của các
nền kinh tế mới nổi nhanh hơn của các nền kinh tế phát triển, có nghĩa là tỷ trọng giá
trị vốn hóa thị trường chứng khoán của các nền kinh tế mới nổi tăng từ 9% năm 2005
lên 24% trong năm 2010, trước khi giảm nhẹ xuống còn 22% vào năm 2011.
Các thị trường chứng khoán của Trung Quốc tại Thượng Hải và Thâm Quyến đã dẫn
đầu việc tăng trưởng giá trị vốn hóa thị trường, tăng hơn 8 lần trong khoảng từ năm
2005 đến năm 2011 đạt 2.357 tỷ USD và 1.055 tỷ USD tương ứng, mặc dù có sự sụt
giảm trong năm 2011 (Biểu đồ 7). TTCK Thượng Hải xếp thứ sáu trên thế giới ở cuối
năm 2011, trước đó là vị trí thứ 19 trong năm 2005. Cũng trong khoản thời gian này
TTCK Bovespa tăng từ vị trí 18 lên thứ 9 và Thâm Quyến tăng từ 30 lên thứ 13. Trong
năm 2005 TTCK Bombay là thị trường lớn nhất trong các thị trường mới nổi và đứng
thứ 14 trên toàn thế giới. Hai TTCK của Ấn Độ đã trải qua một sự sụt giảm nặng nề
(giảm 1/3 giá trị) vào năm 2011.
Về dài hạn việc tăng trưởng giá trị vốn hóa thị trường là do việc định giá cao hơn giá
thị trường tại các nền kinh tế mới nổi trở nên phổ biến nhưng cũng phải kể đến sự gia
tăng trong việc phát hành mới chứng khoán. Từ năm 2003 đến năm 2006, có sự gia
tăng đều đặn từ 39 tỷ USD đến 95 tỷ USD, nhưng giá trị lượng chứng khoán mới phát
hành đã nhảy vọt lên 267 tỷ USD trong năm 2007 (Biểu đồ 8). Cuộc khủng hoảng tài
chính và suy thoái trong nền kinh tế toàn cầu góp phần vào một sự suy giảm trong năm
Nhóm 7- Lớp NH Đêm 4-K21 Trang 9
Dịch vụ tài chính tại các nền kinh tế mới nổi
2008 và 2009, nhưng giá trị chứng khoán phát hành mới đã tăng lên 432 tỷ USD trong
năm 2010, trước khi giảm xuống còn 279 tỷ USD trong năm 2011. Tỷ lệ phát hành tại
các nền kinh tế mới nổi là 10% trong năm 2003 và ổn định ở mức 43% trong cả hai
năm 2010 và 2011.
Việc phát hành mới chứng khoán được trải rộng trên hơn 20 quốc gia, nhưng ba quý
trong năm 2011 đã tăng mạnh tại 04 thị trường chứng khoán tại Trung Quốc, Ấn Độ
và Brazil (Thâm Quyến 74 tỷ USD, Thượng Hải 50 tỷ USD, Mumbai 49 tỷ USD và
Bovespa 38 tỷ USD)
dòng tiền, dòng vốn đầu tư phục hồi trong năm 2009 và 2010, sau khi đảo chiều của
dòng vốn đầu tư trong năm 2008.
Các quốc gia đầu tư chính: nguồn lớn nhất của danh mục đầu tư không cư trú
là từ các quỹ đầu tư tại Hoa Kỳ 959 tỷ USD, chiếm 31% danh mục đầu tư tại các nền
kinh tế mới nổi; Lúc-xăm-bua 372 tỷ USD, chiếm 12%, và Vương quốc Anh 302 tỷ
Nhóm 7- Lớp NH Đêm 4-K21 Trang 11
Dịch vụ tài chính tại các nền kinh tế mới nổi
USD chiếm 10% (Bảng 7). Sau đó là Hồng Kông, với 7% các khoản đầu tư, và
Mauritius, Nhật Bản và Singapore, mỗi nước chiếm khoảng 4% đến 5%.
Các quốc gia là điểm đến chính: BRICS, Mexico, Nam Phi, Ba Lan và Thổ Nhĩ
Kỳ là các quốc gia đã nhận được nhiều các khoản đầu tư vượt biên giới nhất. Ngoại trừ
Trung Quốc và Ấn Độ, các quỹ đầu tư của Mỹ là nguồn lớn nhất đầu tư ở các nước
này (Biểu đồ 9). Các Quỹ đầu tư tại Hồng Kông là nhà đầu tư lớn nhất ở Trung Quốc,
chiếm 88% tổng số đầu tư của Hồng Kông. Các quỹ tại Mauritius là nhà đầu tư lớn
nhất ở Ấn Độ, chiếm 89% đầu tư vào Ấn Độ. Các quỹ đầu tư của Đức là các nhà đầu
tư chính vào các nước Trung Âu, bao gồm Ba Lan, Hungary và Slovenia.
Nhóm 7- Lớp NH Đêm 4-K21 Trang 12
Dịch vụ tài chính tại các nền kinh tế mới nổi
Các Quỹ đầu tư của Luxembourg và Anh đầu tư dàn trải trên khắp thế giới. Điểm đến
lớn nhất của các quỹ đầu tư Anh quốc là Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ,
Nam Phi và Nga (Biểu đồ 10). Anh vốn là nhà đầu tư lớn thứ hai ở Brazil 79 tỷ USD
và Thổ Nhĩ Kỳ 25 tỷ USD. Trong số các điểm đến quan trọng khác của Vương quốc
Anh là UAE 7 tỷ USD và Kazakhstan 5 tỷ USD.
IV. QUẢN LÝ QUỸ
Giá trị của các tài sản được quản lý đang ngày càng tăng ở các nền kinh tế mới nổi với
sự tăng trưởng trong đầu tư vào các quỹ tương hỗ và sự phát triển của các quỹ hưu
bổng. Một số quốc gia cũng đang bắt đầu xây dựng các quỹ kinh doanh tài sản quốc
gia:
Quỹ hưu bổng: Brazil là quốc gia có số lượng quỹ lớn nhất với tổng tài sản lên đến
301tỷ USD trong năm 2010, tiếp theo là Nam Phi, Mexico và Chile, đối với mỗi quốc
số lượng hợp đồng đã tăng hơn ba lần từ mức 590 triệu trong năm 2008 lên 2,2 tỷ
trong năm 2011, trong khi đó số lượng hợp đồng giao dịch trên MCX-SX được thành
lập trong năm 2008 đạt mức 850 triệu vào năm 2011. Ở Trung Quốc, giao dịch thị
trường giảm trở lại trong năm 2011, với các sàn giao dịch lớn nhất là Zhengzou
commodity Exchange với mức 406 triệu hợp đồng và Shanghai Futures Exchange đạt
mức 308 triệu hợp đồng vào năm 2011. Bovespa và Bolsa de Mercadorias & Futuros
là hai thị trường của Brazil, với khối lượng giao dịch lần lượt là 841triệu và 659 triệu
hợp đồng. Hầu hết các giao dịch phái sinh ở Nga là trên sàn Russian Trading Systems
StockExchange với 1,08 tỷ hợp đồng. Giao dịch trên các thị trường phái sinh ở các
quốc gia BRIC chiếm 95% tổng khối lượng giao dịch tại các nền kinh tế mới nổi trong
năm 2011.
Giao dịch phái sinh lãi suất trên thị trường OTC: Nhu cầu về các sản phẩm phái sinh
giao dịch trên thị trường OTC vẫn chưa được phát triển lớn lắm ngoại trừ các quốc gia
đã phát triển. Giao dịch phái sinh về lãi suất ở các nền kinh tế mới nổi đạt mức10 tỷ
USD một ngày trong tháng 4 năm 2010. Điều này đại diện cho tỷ trọng giao dịch phái
sinh trên thị trường OTC so với toàn cầu chỉ chiếm có 0,4% trong các cuộc khảo sát ba
năm một lần, gần đây nhất vào tháng 4/2010, không thay đổi so với cuộc khảo sát
trước đó vào tháng 4/2007. Những thành viên chính trong thị trường nhỏ này là Ấn Độ
(4 tỷ USD một ngày trong tháng 4/2010), Trung Quốc 2 tỷ USD và Ba Lan 2 tỷ USD.
Nhóm 7- Lớp NH Đêm 4-K21 Trang 15
Dịch vụ tài chính tại các nền kinh tế mới nổi
VI. THỊ TRUỜNG HỐI ĐOÁI
Sự hiện diện của các nền kinh tế mới nổi trong giao dịch hối đoái là nhỏ. Khối lượng
giao dịch trung bình hằng ngày ở hầu hết các quốc gia BIS trong cuộc điều tra gần đây
nhất ba năm một lần ở mức 109 tỷ USD vào tháng 4 năm 2010, tương đương với 2,2%
khối lượng giao dịch toàn cầu, thấp hơn một chút so với mức 2,3% thị phần trong
tháng 4 năm 2007. Hơn một nửa của khối lượng giao dịch ở các nền kinh tế mới nổi
trong tháng 4 năm 2010 là đến từ ba quốc gia: Ấn Độ 27 tỷ USD/ngày, Trung Quốc 20
tỷ USD/ngày và Thổ Nhĩ Kỳ là 17 tỷ USD/ngày.
Nhóm 7- Lớp NH Đêm 4-K21 Trang 16