SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
TP. HỒ CHÍ MINHTÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. HỒ CHÍ MINH ĐỀ TÀI
:
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH PHẠM TỘI CỦA
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TẠI THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐỌAN 2001 – 2005
(Đã chỉnh sửa sau nghiệm thu) CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
CN. Lê Thị Minh Ngọc
2. CN. Phan Bá - Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh
3. TS. Trần Thị Hương – Khoa Tâm lý Giáo dục, ĐHSP TP. Hồ Chí MInh
4. CN. Nguyễn Thị Thu Huyền - Khoa Tâm lý Giáo dục, ĐHSP TP. Hồ
Chí MInh
5. TS. Hồ Văn Liên - Khoa Tâm lý Giáo dục, ĐHSP TP. Hồ Chí MInh
6. CN. Lê Phan Minh Nguyệt - Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh
7. CN. Trần Thị Thanh Minh - Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh
3
Lời cảm ơn
Thực hiện đề tài này chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ qúy báu của các
tập thể và cá nhân:
- Sở Khoa học - Công nghệ TP. Hồ Chí Minh
- Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh, Tòa án 24 Quận, Huyện TP. Hồ Chí
Minh
- Công an TP. Hồ Chí Minh, Công an các Quận, Huyện Thành phố Hồ
Chí Minh
- Khoa Tâm lý - Giáo dục, Trường ĐHSP TP. Hồ Chí Minh
- Ủy ban Dân số - Gia đình - Trẻ em TP. Hồ Chí Minh
- Giáo viên, cán bộ công nhân viên, học viên Trung tâm giáo dục dạy
nghề Thiếu niên 2, 3 TP. Hồ Chí Minh
- Các vị lãnh đạo, Cán bộ các cơ quan ch
ức năng liên quan đến công tác
phòng chống người chưa thành niên phạm pháp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
- Hội đồng xét duyệt và thẩm định đề tài
- Các nhà khoa học và cán bộ nghiên cứu tham gia thực hiện đề tài
Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự giúp đỡ, quan tâm,
ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi thực hiện đề tài này.
1.2.2. Những đặc điểm tâm sinh lý của NCTN phạm tội 34
1.2.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc phạm tội của NCTN 41
Chương 2: THỰC TRẠNG PHẠM TỘI C
ỦA NGƯỜI CHƯA
THÀNH NIÊN TẠI TP. HỒ CHÍ MINH 2001 – 2005 48
2.1. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH TP. HỒ CHÍ MINH 48
2.1.1. Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên - sinh thái 48
5
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 49
2.1.3. Vài nét về mối quan hệ giữa sự phát triển kinh tế- xã hội
với tình hình NCTN vi phạm pháp luật ở TP. Hồ Chí Minh 50
2.2. THỰC TRẠNG PHẠM TỘI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
TẠI TP. HỒ CHÍ MINH 2001 – 2005 53
2.2.1. Thực trạng phạm tội của NCTN bị xử lý theo pháp luật hình sự 53
2.2.2.Thực trạng VPPL của NCTN bị xử lý theo pháp luật hành chính 77
2.3. NGUYÊN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH PHẠ
M TỘI CỦA NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 86
2.3.1. Những nguyên nhân từ gia đình 88
2.3.2. Những nguyên nhân từ nhà trường 95
2.3.3. Những nguyên nhân từ xã hội 100
2.3.4. Những nguyên nhân từ bản thân người chưa thanh niên phạm tội 105
Chương 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA, GIÁO DỤC LẠI
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM PHÁP TẠI TP. HỒ CHÍ MINH 112
3.1. ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT VIỆC THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH
PHÁP LUẬT, HỆ TH
ỐNG GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM PHÁP TẠI TP. HỒ CHÍ MINH 112
3.1.1. Việc thực hiện các chính sách pháp luật 112
7
DANH MỤC BẢNG
Số bảng Tên bảng Trang
Bảng 2.1
Tổng hợp số NCTN PT ở TP. HCM giai đoạn 2001 – 2005
54
Bảng 2.2
Diễn biến tình hình NCTNPT từ 2001 – 2005
55
Bảng 2.3.
Tổng hợp số NCTNPP bị phát hiện và bị xét xử 2001– 2005
56
Bảng 2.4
Thống kê số liệu bị cáo và NCTN phạm tội từ 2001 – 2005
57
Bảng 2.5
Tổng hợp các loại tội danh NCTN vi phạm từ 2001 – 2005
58
Bảng 2.6
Tổng hợp các tội danh NCTNPT bị xét xử trong 5 năm
60
Bảng 2.7
Bảng 2.18
Số lần NCTN vi phạm pháp luật trong giai đoạn 2001 – 2005
83
Bảng 2.19
Đặc điểm đối tượng khảo sát
86
Bảng 2.20.
Đánh giá của CB về nguyên nhân từ phía gia đình
88
Bảng 2.21
Đánh giá của HV về nguyên nhân từ phía gia đình 88
Bảng 2.22
Người mà trẻ sống trước khi vào trường
91
Bảng 2.23.
Đánh giá của CB về nguyên nhân từ phía nhà trường
95
Bảng 2.24
Những lỗi thường mắc phải của NCTN khi còn học ở PT
99
Bảng 2.25
. Đánh giá của CB về nguyên nhân từ phía xã hội
101
Bảng 2.26
Đánh giá của HV về nguyên nhân từ phía xã hội
101
Bảng 2.27
Đánh giá của cán bộ về nguyên nhân từ phía bản thân NCTNPP
106
Bảng 2.28
Cơ cấu NCTNPT theo giới tính trong 5 năm (2001 - 2005)
68
Biểu đồ 2.3.
Cơ cấu NCTNPT theo độ tuổi trong 5 năm (2001 - 2005)
70
Biếu đồ 2.4.
Cơ cấu NCTNPT theo trình độ học vấn trong 5 năm (2001 -
2005)
72
Biểu đồ 2.5.
Cơ cấu NCTNPT theo địa bàn cư trú trong 5 năm (2001 - 2005)
76
Biểu đồ 2.6.
Tình hình NCTNPP 2001 – 2005
79
Biểu đồ 2.7.
Tình hình NCTN PP xử lý hành chính 2001 – 2005
83
Biểu đô 2.8.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng NCTNPT TP. HCM 2001 -
2005
111
Sơ đồ 3.1.
Tổ chức họat động của mô hình phòng ngừa, giáo dục lại
NCTNPP trên địa bàn dân cư
140
đã được đúc kết từ thành công của Macarencô trong việc cải tạo, giáo dục hàng nghìn
trẻ em hư hỏng, lưu manh, phạm pháp , biến chúng từ những "cặn bã" của xã hội trở
thành những công dân tích cực của xã hội.
Tác giả A.I.Côchêtốp trong công trình nghiên cứu: “Những vấn đề lý luận đức
dục” đã nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề giáo dục lại. Theo ông, công tác gíao
dục lại bao gồm việc giáo dục những trẻ em vô kỷ luật, tăng cường chăm sóc những trẻ
em lêu lỏng và việc cải tạo những trẻ em phạm pháp. Ông đã chỉ ra những nguyên
nhân của trẻ có biểu hiện tính chấ
t khó dạy, đó là nguyên nhân xã hội, nguyên nhân
tâm lý, nguyên nhân giáo dục và nhấn mạnh nguyên nhân giáo dục: “thông thường
nguyên nhân của sự khó dạy là những sai lầm sư phạm trong việc giáo dục, là sự lạc
10
hậu, sự vụng về về mặt giáo dục”. Từ đó tác giả đi sâu phân tích khái niệm, nội dung
và những yêu cầu của hệ thống các phương pháp giáo dục lại [3].
Vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, có nhiều công trình nghiên cứu của các
tác giả ở nhiều nước đề cập đến vấn đề người chưa thành niên phạm tội. Một số công
trình tiêu biểu như sau:
- Trong cuốn sách: “Tư pháp vị thành niên: chính sách, thực tiễn và pháp luật”,
tác giả H.Ted Rubin đã nghiên cứu về vấn đề tư pháp vị thành niên ở Mỹ. Tác giả đã
đề cập đến các vấn đề chính như: tội phạm nghiêm trọng và tái phạm đối với trẻ vị
thành niên, vai trò của cơ quan cảnh sát đối với đối tượng này, quá trình giáo dưỡng và
phi xét xử, cơ quan công tố trong tư pháp vị thành niên, tổ chức toà án vị thành niên,
c
ơ cấu lại hệ thống tư pháp vị thành niên [25].
- Trong cuốn: “Phòng ngừa vi phạm pháp luật trong thanh niên”, tác giả
N.M.Vetrop (Nga) đã nêu những tiền đề bảo đảm cho công tác phòng ngừa vi phạm
pháp luật trong thanh niên có hiệu quả, phương pháp phòng ngừa, công tác phòng
ngừa vi phạm pháp luận trong thanh niên… [27].
- Tác giả A.I. Dongova đã nghiên cứu về những khía cạnh tâm lý – xã hội về
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Ở Việt Nam, từ sau khi nước ta dành được độc lập (1945), Chủ Tịch Hồ Chí
Minh đã đặt vấn đề “phải giáo dục lại nhân dân chúng ta…”. Đảng và Nhà nước luôn
quan tâm đến vấn đề giáo dục lại trẻ em hư, người chưa thành niên phạm pháp trong
toàn bộ công tác giáo dục trẻ. Từ đó các Bộ, Ngành chức năng luôn chú trọng vấn đề
này. Một số công trình và dự án nghiên cứu tình hình, nguyên nhân và các giải pháp
ngăn chặn, giáo dục l
ại thanh thiếu niên phạm pháp của các Viện nghiên cứu, Tổng
cục cảnh sát, Công an các tỉnh, thành thực hiện. Một số đề tài nghiên cứu về vấn đề trẻ
em lang thang cơ nhỡ, trẻ em hư và phạm pháp… ở các địa phương. Có thể điểm qua
một số công trình sau:
- Năm 1991 Viện nghiên cứu khoa học pháp lý thực hiện đề tài: Tình hình,
nguyên nhân và các giải pháp đấu tranh phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội”.
Đề tài
đã nghiên cứu tình hình người chưa thành niên phạm tội trong thời gian từ 1987
– 1990, nêu lên những nguyên nhân cơ bản, trực tiếp làm phát sinh, phát triển tình hình
người chưa thành niện phạm tội ở các tầm vĩ mô, vi mô và dự báo xu hướng trong
những năm tới.
- Năm 1991 Viện khoa học hình sự cũng nghiên cứu đề tài: “Tình hình thanh
thiếu niên phạm pháp ở Việt Nam và xu hướng đến năm 2000”. Đề tài tập trung phân
tích, đánh giá và phác thảo bức tranh khái quát về thự
c trạng phạm tội của thanh thiếu
12
niên Việt Nam trong 10 năm (1978 – 1988); Dự báo xu hướng phát triển của tội phạm
thanh thiếu niên đến năm 2000; Nêu ra và phân tích các yếu tố tác động đến tình hình
và xu hướng phạm tội trong thanh thiếu niên, từ đó kiến nghị hệ thống các biện pháp
phòng chống tội phạm trong thanh niên.
- Năm 1994 Tổng cục cảnh sát nhân dân thực hiện đề tài: “Tội phạm ở Việt Nam:
thực trạng, nguyên nhân, giải pháp”. Trên cơ sở đánh giá khái quát thực tr
Nhìn chung, các công trình, đề tài nghiên cứu đều chú trọng đến tình hình vi
phạm pháp luật của một bộ phận thanh thiếu niên, đặc biệt là lứa tuổi vị thành niên,
nguyên nhân của tình trạng này và những biện pháp ngăn chặn, giáo dục lại. Các nhà
nghiên cứu đã đóng góp cho khoa học giáo dục một hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn
sâu sắc về quá trình giáo dục lại trẻ em hư, phạm pháp. Từ đó cũng cho th
ấy vấn đề trẻ
em phạm pháp đang ngày càng trở nên nóng bỏng và phức tạp ở tất cả các địa phương
trong toàn quốc, trong đó có TP Hồ Chí Minh, đòi hỏi sự quan tâm của các cấp, các
ngành và toàn xã hội.
Trong những năm đầu thế kỷ XXI, tình hình người chưa thành niên phạm tội trên
địa bàn TP. HCM có những diễn biến phức tạp, chưa có công trình nào tập trung
nghiên cứu thực trạng NCTNPT với những diễn biến ph
ức tạp đó. Vì vậy đề tài nghiên
cứu của chúng tôi tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng, nguyên nhân của thực trạng
người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn TP. HCM trong giai đọan 5 năm (từ 2001
- 2005). Từ đó góp phần xây dựng hệ thống giải pháp để ngăn chặn, giáo dục lại đối
tượng này.
14
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - LêNin đặt vấn đề con người là trung tâm của
mọi hệ thống chính trị - xã hội. Con người là vốn qúy nhất, là chủ thể sáng tạo ra mọi
giá trị, con người làm nên lịch sử Trong tiến trình tồn tại và phát triển, con người
chịu sự tác động của tồn tại khách quan, đồng thời với tư cách là một chủ thể hoạt
động có ý thức, con người l
ại tác động trở lại, làm biến đổi và cải tạo tồn tại khách
quan. Xuất phát từ những quan điểm của chủ nghĩa Mác - LêNin về con người, trong
nay, tình hình người chưa thành niên phạm tội (NCTNPT) ngày càng có xu hướng gia
tăng và đa dạng về mức độ, tính chất vi phạm. Cùng với sự gia tăng số vụ phạm pháp
chung trong xã hội, tình hình NCTN vi phạm pháp luật đang có nguy cơ phải "báo
động" đòi hỏi phải có sự nghiên cứu cụ thể và có những giải pháp phòng ngừa, giáo
dục l
ại, xử lý thích hợp, không chỉ nhằm đấu tranh với các loại tội phạm đảm bảo trật
tự an toàn cho cộng đồng mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội.
Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) là một trong những trung tâm phát triển kinh
tế - văn hóa - xã hội lớn nhất trong cả nước. Trên con đường đổi mới và phát triển, TP.
HCM cũng đang đối mặt với vấn đề NCTNPT đ
ang ngày càng diễn biến phức tạp, gây
nhiều khó khăn, bức xúc cho đời sống gia đình và xã hội. Xuất phát từ những cơ sở về
lý luận và thực tiễn trên đây, chúng tôi chọn đề tài: "Nghiên cứu tình hình người
chưa thành niên phạm tội tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 - 2005".
2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá đúng tình hình người chưa thành niên phạm tội, xác định những nguyên
nhân phạm tội của người chưa thành niên trên địa bàn TP. HCM giai đoạn 2001 -
2005. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phòng ngừa, giáo dục lại đối với NCTNPT.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác phòng chống người chưa thành niên vi phạm pháp luật.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng tình hình người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn TP. HCM giai
đoạn 2001 - 2005.
4. Giả thuyết khoa học
Người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn TP. HCM trong 5 năm gần đây có
chiều hướng gia tăng. Tính chất, mức độ phạm tội diễn biến ngày càng phức tạp và do
chưa thành niên
7.1.2. Lý luận về người chưa thành niên
7.1.2.1. Một số khái niệm cơ bản
7.1.2.2. Những đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên phạm tội
7.1.2.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc phạm tội của người chưa thành niên
7.2. Thực trạng tình hình phạm tội của người chưa thành niên tại TP. Hồ Chí
Minh 2001 – 2005
7.2.1. Khái quát đặc điểm, tình hình TP. Hồ Chí Minh
7.2.1.1. Đặc điểm tự nhiên
7.2.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội
7.2.1.3. Mối quan hệ giữa bối cảnh kinh tế – xã hội với tình hình phạm tội người
chưa thành niên tại TP. Hồ Chí Minh
17
7.2.2. Thực trạng phạm tội của người chưa thành niên tại TP. Hồ Chí Minh 2001 –
2005
7.2.2.1. Thực trạng phạm tội của người chưa thành niên bị xử lý theo pháp luật
hình sự
7.2.2.2. Thực trạng phạm tội của người chưa thành niên bị xử lý theo pháp luật
hành chính
7.3. Nguyên nhân của tình hình phạm tội của người chưa thành niên ở TP. Hồ
Chí Minh 2001 – 2005
7.3.1. Nguyên nhân từ phía xã hội
7.3.2. Nguyên nhân từ phía nhà trường
7.3.3. Nguyên nhân từ phía gia đình
7.3.4. Nguyên nhân t
ừ đặc điểm tâm sinh lý cá nhân
7.4. Đề xuất giải pháp phòng ngừa, giáo dục lại đối với người chưa thành niên
phạm tội tại TP. Hồ Chí Minh
- Xây dựng hai mẫu phiếu hỏi dành cho hai đối tượng khảo sát: một mẫu phiếu
hỏi dành cho cán bộ các cơ quan chức năng chuyên trách công tác phòng chống NCTN
vi phạm pháp luật; một mẫu phiếu hỏi dành cho NCTN vi phạm pháp luật đã bị xử lý
hình sự và hành chính.
9.4.
Phương pháp trao đổi, phỏng vấn
Trao đổi, phỏng vấn, tọa đàm với các cấp lãnh đạo, cán bộ chuyên trách công tác
phòng chống NCTNPT.
9.5. Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động đấu tranh, phòng chống NCTNPT trong thực tiễn ở địa
phương, cộng đồng dân cư nhằm thu thập thêm thông tin hỗ trợ việc đánh giá thực
trạng và nguyên nhân vi phạm pháp luật của NCTN.
9.6. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
PP này nhằm thu thập ý kiến các chuyên gia v
ề các vấn đề liên quan đến các nội
dung nghiên cứu thông qua trao đổi, tọa đàm, hội thảo.
9.7. Phương pháp xử lý thông tin
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý và đánh giá các kết quả nghiên
cứu. các số liệu thống kê được xử lý bằng kỹ thuật máy tính và chương trình SPSS.
19
con người giữ vị trí trung tâm của xã hội là một thành tựu của sự phát triển văn minh,
văn hóa của loài người, đặc biệt nổi lên trong những thời kỳ văn minh xán lạn nhất của
loài người: v
ăn minh Phục hưng, cách mạng tư sản, cách mạng xã hội chủ nghĩa, cách
mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ hiện nay. Trong thời đại ngày nay, với những
thành tựu thần kỳ của cách mạng khoa học – công nghệ, nhân tố người tiếp tục được
khẳng định là nhân tố rất quan trọng tạo nên sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng
giai đọan phát triển, giữ vị trí trung tâm quyết đị
nh đối với toàn bộ hệ thống các nhân
tố khác tạo nên sự phát triển chung. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự
phát triển.
Ở Việt Nam, tư tưởng lớn của Đảng ta luôn luôn đặt con người vào vị trí trung
tâm của sự phát triển, thể hiện trong các Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam
lần thứ III (1960), lần thứ IV (1977), lần thứ V (1982)… Đại h
ội VI của ĐCSVN
(1986) đưa ra đường lối đổi mới của đất nước đã đặc biệt nhấn mạnh vai trò quan
trọng của nhân tố con người, phát huy yếu tố người. Đại hội Đảng lần thứ VII (1991)
nhấn mạnh “sự phát triển kinh tế đặt con người vào vị trí trung tâm” “phát huy nhân tố
con người động lực trực tiếp của mọi sự phát triển” và hơn thế nữ
a”phát huy nhân tố
con người vì con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc” [14]. Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội lần thứ
VII thông qua đã khẳng định: “Nguồn lực lớn nhất, qúy báu nhất của chúng ta là tiềm
lực con người Việt Nam, trong đó có tiềm lực trí tuệ” [14, tr.265]. Đại hội Đảng lần
thứ
VIII (1996) khẳng định nước ta đã chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hoá và nêu rõ: “mục tiêu của CNH – HĐH là xây dựng nước ta thành một
21
nước công nghiệp, có cơ sở vật chất - kỹ thuật, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản
như tấm gương, cái tốt dễ tiếp thu, cái xấu cũng dễ tiếp thu” [18, tr.192].
Như vậy, đặt con người vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội và phát triển toàn diện nhân cách con người là tư tưởng xuất phát điểm của các
công trình nghiên cứ
u con người. “Muốn tiến hành CNH – HĐH thắng lợi phái phát
22
triển giáo dục, đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển
nhanh và bền vững”.
1.1.2. Giáo dục lại là một bộ phận trong quá trình giáo dục nhân cách
Giáo dục hiểu theo nghĩa rộng là một qúa trình toàn vẹn hình thành và phát triển
nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch, thông qua các hoạt động
và các mối quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và
chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người. Đó là quá trình tổ chức hoạt
động của toàn xã hội một cách tích cực, chủ động nhằm mục đ
ích phát huy tối đa tiềm
năng và sức mạnh thể chất, tinh thần của cá nhân bao gồm trí lực, tâm lực, thể lực.
Trong quá trình giáo dục, không phải bao giờ cũng đào tạo được những nhân cách theo
định hướng của các chuẩn mực xã hội đã qui định, mà có những biểu hiện tiêu cực,
những hành vi "lệch chuẩn" của nhân cách. Vì vậy xuất hiện đối tượng của giáo dục lại
và có quá trình giáo dụ
c lại nhân cách. Bản chất của giáo dục xã hội chủ nghĩa là nhân
đạo, mọi người đều có quyền bình đẳng như nhau, không được phân biệt đối xử vì bất
kỳ lý do gì, điều đó có nghĩa là trong giáo dục không được có "phế phẩm", cho nên
giáo dục lại là một bộ phận trong quá trình giáo dục nhân cách nói chung.
Giáo dục lại là hoạt động giáo dục nhằm thay đổi quan điểm, ý thức tư tưởng,
nhận th
ức, thái độ, hành vi sai lệch với những chuẩn mực của xã hội của đối tượng
giáo dục để họ trở thành con người tốt, có nhân cách được xã hội chấp nhận. Trong
một xã hội luôn biến động và phát triển, bao giờ cũng có một bộ phận nhỏ các thành
1.1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề người
chưa thành niên phạm tội
Mỗi thời đại, mỗi giai cấp có cách xem xét và giải quyết về vấn đề người phạm
tội khác nhau. Trong cách mạng XHCN, vấn đề người phạm tội được xem xét và giải
quyết trên một quan điểm hoàn toàn khác. Xuất phát từ quan điểm khoa học về bản
chất con người của Các Mác: "Bản chất con người không phải là cái gì chung chung,
trừu tượng vốn có của mỗi cá nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó, b
ản chất con
người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội" , quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin đặt
vấn đề con người và giáo dục lại con người trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng.
V.I.Lênin đã chỉ rõ: "Cần phải giáo dục lại quần chúng và chỉ có vận động và tuyên
truyền mới có thể giáo dục lại họ được, trước hết cần phải gắn liền quần chúng với sự
nghiệp xây dựng đời sống kinh tế chung" [19]. Ở nước ta, ngay sau Cách mạng tháng
8/1945 Chủ Tịch Hồ Chí Minh cũng đặt ra vấn đề giáo dục lại con người: "chúng ta có
nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta Tôi đề nghị mở một chiến
dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: cần, kiệm, liêm, chính" [19].
Quan điểm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về con người là sự kế
thừa và phát triển lí luận
Mác – Lênin về con người nói chung, coi con người là một thực thể thống nhất giữa
yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, và muốn loại trừ sự tha hóa của con người thì phải cải
24
tạo các quan hệ nảy sinh sự tha hóa đó. Chiều sâu nhân bản trong triết lý về con người
của Hồ Chí Minh biểu hiện rõ trong luận đề: "Người đời không phải thánh thần, không
ai tránh khỏi khuyết điểm Con người dù là xấu, tốt, văn minh hay dã man đều có
tình". Theo Người, người ta mới sinh ra vốn đều tốt cả, nhưng về sau do ảnh hưởng
của môi trường xã hội, giáo dục, mà dần dần mỗi người m
ột khác: "Hiền dữ đâu phải
là tính sẵn, Phần nhiều do giáo dục mà nên"; đồng thời, "mỗi con người đều có thiện
25
phòng chống sự bóc lột và xâm hại trẻ em, bảo vệ các nạn nhân là trẻ em và tạo điều
kiện cho các em phục hồi và tái hòa nhập [7]. Từ khi Công ước quốc tế về Quyền trẻ
em có hiệu lực, Nhà nước Việt Nam đã không ngừng nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp
luật, hoạch định chính sách, chủ trương, làm hài hòa giữa pháp luật của quốc gia với
các quy định của Công ước. Việt Nam
đã có những hoạt động thành công trên lĩnh vực
tư pháp với người chưa thành niên, lao động trẻ em và lạm dụng tình dục trẻ em. Hiến
pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã khẳng định: Trẻ em được gia đình, Nhà
nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. Đây là một chế định pháp lý rất quan
trọng về quyền trẻ em. Các bộ luật khác như Luật quốc tịch Việt Nam, luậ
t Hôn nhân
gia đình, Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Luật phổ cập giáo dục tiểu học đều có
những chương, điều qui định liên quan trực tiếp đến người chưa thành niên, nhất là
thực hiện các quyền của trẻ em và quyền được bảo vệ của trẻ em. Nhìn chung, những
chế định của luật pháp quốc gia đều thống nhất thực thi theo tinh thần Cống
ước quốc
tế về Quyền trẻ em.
Đặc biệt Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em được Quốc hội nước
CHXHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5 ngày 15/6/2004 thông qua và có hiệu lực
thi hành từ 01/01/2005 đã qui định các quyền cơ bản và bổn phận của trẻ em, trách
nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệ
t [31]. Bốn nguyên tắc cơ bản đã được thể hiện rõ trong Luật Bảo vệ,
Chăm sóc và Giáo dục trẻ em là: Không phân biệt đối xử với trẻ em; Dành lợi ích tốt
nhất cho trẻ em, thực hiện quyền, bổn phận và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ,
tinh thần và đạo đức; Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là trách nhiệm của mọi công
dân, gia đình, nhà nước và toàn xã hội; Tr