ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
********** BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI:
CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG ĐÓNG GÓP CỦA NHÂN DÂN ĐỂ
CHỈNH TRANG, NÂNG CẤP
HẠ TẦNG KỸ THUẬT KHU DÂN CƯ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CƠ QUAN CHỦ TRÌ: ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
CHỦ NHIỆM: TIẾN SĨ LÊ VINH DANH
ĐỀ TÀI:
CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG ĐÓNG GÓP CỦA NHÂN DÂN ĐỂ
CHỈNH TRANG, NÂNG CẤP
HẠ TẦNG KỸ THUẬT KHU DÂN CƯ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CƠ QUAN CHỦ TRÌ: ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
CHỦ NHIỆM: TIẾN SĨ LÊ VINH DANH
1.3.2. Khái quát qui mô hạ tầng kỹ thuật khu dân cư của
Thành phố
15
1.3.3 Những bất cập trong quản lý các công trình hạ
tầng kỹ thuật đô thị tại TPHCM thời gian qua
17
1.4. VẤN ĐỀ HUY ĐỘNG ĐÓNG GÓP CÚA
NHÂN DÂN ĐỂ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
CÔNG ÍCH NÓI CHUNG
19
1.4.1. Khái niệm huy động đóng góp của nhân dân hay
quyền tham gia của công dân
19
1.4.2. Vai trò của cộng đồng dân cư trong việc quản lý
hạ tầng kỹ thuật đô thị theo cơ chế Quyền tham
gia của công dân
20
1.5. VẤN ĐỀ HUY ĐỘNG ĐÓNG GÓP CỦA
NHÂN DÂN ĐỂ CHỈNH TRANG, NÂNG CẤP
HẠ TẦNG KỸ THUẬT KHU DÂN CƯ:
TRƯỜNG HỢP TPHCM
22
1.5.1. Vì sao phải huy động đóng góp của nhân dân để
chỉnh trang, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật khu dân cư
tại TPHCM
22
1.5.2. Các hình thức đóng góp của nhân dân vào chỉnh
trang, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật khu dân c
ư
24
PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG ĐÓNG GÓP
NHÂN DÂN ĐỂ CHỈNH TRANG, NÂNG CẤP
HẠ TẦNG KỸ THUẬT KHU DÂN CƯ TẠI
VIỆT NAM
40
2.2.1. Đặc điểm huy động nguồn lực tư nhân để xây
dựng cơ sở hạ tầng ở một số nơi trên thế giới
40
2.2.2. Đặc điểm huy động nguồn lực nhân dân để chỉnh
trang, nâng cấp hạ tầng khu dân cư tại Việt Nam
thời gian qua
42
2.2.3. Sự khác biệt giữa phương thức sử dụng nguồn lực
xã hội trong xây dựng cơ sở hạ tầng của một số
nơi trên thế giới và tại Việt Nam
44
2.3. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG ĐÓNG
GÓP CỦA NHÂN DÂN ĐỂ CHỈNH TRANG,
NÂNG CẤP HẠ TẦNG KỸ THUẬT KHU DÂN
CƯ TẠI VIỆT NAM NHỮNG NĂM QUA: MÔ
HÌNH THÁI BÌNH VÀ AN GIANG
46
2.4.
NGHIÊN C
ỨU ĐIỂN HÌNH: CHƯƠNG TRÌNH
CHỈNH TRANG, NÂNG CẤP HẠ TẦNG KỸ
THUẬT KHU DÂN CƯ TẠI ĐÀ NẴNG VÀ
TPHCM
47
2.7. TÓM TẮT CHƯƠNG 2 76CHƯƠNG 3: CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP
CỤ THỂ NHẰM HUY ĐỘNG ĐÓNG GÓP
CỦA NHÂN DÂN ĐỂ CHỈNH TRANG,
NÂNG CẤP HẠ TẦNG KỸ THUẬT KHU
DÂN CƯ TẠI TPHCM
80 3.1. XÁC ĐỊNH KHÁI NIỆM VÀ TIÊU CHUẨN
MẪU CỦA HẠ TẦNG KỸ THUẬT KHU DÂN
CƯ
80
3.1.1. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị trong xây dựng
cơ bản
80
3.1.2. Những qui định về hạ tầng kỹ thuật trong các khu
dân cư
81
3.2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐỀ RA CHÍNH
SÁCH
85
3.2.1. Tính tất yếu và khách quan của chính sách huy
động đóng góp của dân để chỉnh trang, nâng cấp
hạ tầng kỹ thuật khu dân cư
85
3.2.2. Cơ sở lý luận và phương pháp luận để xây dựng
chính sách
105
3.6.1. Chính sách tuyên truyền 105
3.6.2. Chính sách tuyên dương 107
3.7. CHUYỂN GIAO VÀ HỖ TRỢ QUẢN LÝ KHAI
THÁC
109
3.7.1. Những hướng dẫn và hỗ trợ kỹ thuật 109
3.7.2. Công tác kiểm tra giám sát 111
3.7.3 ChuyỂn giao quyền quản trị 112
3.7.4. Công tác bảo trì và quản lý khai thác 113
3.8. GIẢI PHÁP CHẾ TÀI NHỮNG LẠM DỤNG 114
3.8.1. Lạm dụng trong huy động đóng góp 115
3.8.2. Lạm dụng việc chọn thầu 116
3.8.3. Tùy tiện trong xác định tiêu chuẩn kỹ thuật 117
3.8.4. Lợi dụng chương trình để tự tiện giải tỏa 118
3.8.5. Cấu kết đơn vị thi công 119
3.8.6. Lạm dụng thu lợi sau khi hoàn tất công trình 119
3.9 CHÍNH SÁCH NHÂN RỘNG CÁCH LÀM 120
3.9.1. Chính danh, chính ngôn 120
3.9.2. Tổ chức tập huấn cho các địa phương 121
3.9.3. Ban hành kế hoạch chỉnh trang, nâng cấp 122
3.9.4. Thành lập Ban quản lý và theo dõi việc thực hiện
chương trình
122
3.9.5. Xác định cơ cấu đối ứng giữa vốn ngân sách và
vốn huy động
123
3.10. NHỮNG CHÍNH SÁCH KIẾN NGHỊ VỚI
TRUNG ƯƠNG
124
sở này đưa ra một số chính sách nhằm góp phần củng cố nhanh hạ tầng kỹ thuật
những khu dân cư hiện hữu cho phù hợp với tổng quan đô thị của thành ph
ố để không
những đáp ứng yêu cầu đi lại và sinh hoạt thuận lợi cho nhân dân, mà còn tổ chức
được bộ mặt đô thị cho văn minh hơn, sạch sẽ hơn.
- Luận giải và chứng minh rằng, trong hoàn cảnh các nước đang phát triển như
Việt Nam, ngân sách sẽ chẳng bao giờ đáp ứng đủ cho nhu cầu xây dựng hạ tầng;
nhiều công trình hạ tầng nhân dân cũng khó mà chờ đợ
i nhà nước thực hiện. Chính
sách đúng đắn là tạo những hỗ trợ và qui chế hợp lý để vận động nhân dân tham gia
2
nâng cấp hạ tầng kỹ thuật xung quanh nơi ở của họ. Khi và chỉ khi điều này được thực
hiện và nhân rộng, chủ trương xã hội hoá xây dựng hạ tầng mới trở thành hiện thực.
6.2. Đóng góp cho thực tiễn:
- Đề tài sẽ đưa ra các chính sách huy động nguồn lực xã hội có khả năng áp
dụng trong thực tế, giúp chính quyền thành phố một khi công bố, có thể hình thành
được một hành lang pháp lý và
điều kiện thuận lợi nhất cho mọi người dân cùng tham
gia đóng góp, xây dựng, khai thác, quản lý, sửa chửa hạ tầng kỹ thuật chung quanh nơi
ở của họ.
- Đề tài cũng xác định động cơ khiến người dân tự nguyện tham gia đóng góp
xây dựng hạ tầng kỹ thuật và các phương pháp tuyên truyền, vận động người dân tham
gia.
- Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra nhữ
ng hỗ trợ mà chính quyền cần làm để tạo
niềm tin về quyết tâm, tạo vốn cơ sở cho nhân dân cùng đóng góp thực hiện những
công trình hạ tầng kỹ thuật.
- Sau một thời gian thực hiện những kiến nghị như đề tài đưa ra, chúng tôi tin
rằng thành phố sẽ có các khu dân cư đạt tiêu chuẩn và đúng qui hoạch. Đây là kết quả
Liên quan đến đề tài có lịch sử những nghiên cứu, hành động vận động người
dân đồng tham gia vào các công trình công ích nói chung, hạ tầng kỹ thuật giao thông
nói riêng. Ngoài ra cũng có một s
ố kinh nghiệm về vấn đề huy động tài chính trong
dân cho các công trình công ích như một nhánh của chủ trương xã hội hóa xây dựng
công trình công ích.
Những tài liệu nghiên cứu có liên quan gần gồm 2 phần:
8.1. Ngoài nước:
Stephen Stares & Liu Zhi Ni [1996], China’Urban Transport Development
Strategy, World Bank Press, Washington DC.
US Development of Transportation [1992], Urban Transportation Planning in
the United States, Washington DC.
US Development of Transportation [2001], Executive Summary of
Transportation Development, Washington DC.
Ngân hàng thế giới [2004], Báo cáo phát triển thế giới 2005, Nhà xuất bản văn
hóa thông tin, Hà Nội 09/2004.
8.2. Trong nước
4
Dương Tiến Bích [1996], Nghiên cứu đánh giá thực trạng của hệ thống hạ tầng
cơ sở giao thông và phân tích ảnh hưởng của nó đến các ngành khác.
Ngô Đình Trí [1997], Cải thiện và nâng cấp chất lượng giao thông đô thị lớn:
các cơ sở và giải pháp phát triển phương tiện giao thông trong các đô thị lớn,
Viện qui hoạch đô thị-nông thôn.
Phan Văn Khiết, Dư Phước Tân, Hoàng Kim Chi [2002], Nghiên c
ứu cơ chế
và chính sách phát triển giao thông nông thôn ở TPHCM.
Dư Phước Tân [2002], Đóng góp của dân cư trong vùng có ảnh hưởng của giải
tỏa, Viện kinh tế thành phố.
Nguyễn Hồng Thái, Lê Đức Việt [2002], Về các giải pháp khuyến khích khu
giống nhau nhất định, đề tài này đi theo một hướng khác hoàn toàn. Điểm rõ ràng nhất
là DA nói trên có 6 hạng mục chính; trong 6 hạng mục này, chỉ có hạng mục 1: “Nâng
cấp hệ thống hạ tầng kỹ
thuật cấp 3 cho các khu dân cư thu nhập thấp: lắp đặt hệ
thống điện, cấp thoát nước, làm đường, chiếu sáng vỉa hè, họng cứu hỏa” là có nội
dung giống công việc mà công trình này nghiên cứu, 5 nội dung còn lại đi theo hướng
khác. Biện pháp tài chính, mục tiêu xã hội của quá trình thực hiện hoàn toàn
không giống nhau.
Trong quá trình thực hiện, chúng tôi có sự kế thừa nhất định những kinh
nghiệm của công trình trên, nhưng do mụ
c tiêu khác nhau, chúng tôi phải tiến hành
một cách độc lập những khảo sát, điều tra thực tế và đề xuất riêng. Hai công trình, vì
thế, sẽ bổ sung rất tốt cho nhau.
9. Giới hạn của đề tài:
- Phạm vi nghiên cứu : HTKTKDC tại Tp.HCM
- Phạm vi khảo sát : Đà Nẵng, Tp.HCM
- Phạm vi áp dụng : Khu dân cư nội và ngoại thành thuộc Tp.HCM
- Đối tượng áp dụng : Hạ tầng kỹ thuật cấp 3
ở các Khu dân cư ■
6
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật là một trong những yếu t
ố quan trọng góp phần thúc
đẩy sự phát triển mọi mặt đời sống kinh tế xã hội. Dựa vào sự phát triển của hệ thống
hạ tầng kỹ thuật, ta có thể thấy được sự khác biệt giữa một đô thị và vùng nông thôn.
Ngày nay, nhà nước cũng phải dựa vào mức độ phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật để
7
Box 1.1:
CSHT tốt liên kết nhà sản xuất với
khách hàng và các nhà cung ứng
đầu vào, giúp họ khai thác hiệu quả
những công nghệ hiện đại. Ngược
lại, việc yếu kém của CSHT tạo ra
những rào cản cơ hội và làm tăng
các chi phí đối với doanh nghiệp
nhỏ và vừa, doanh nghiệp nông thôn
cũng như các công ty đa quốc gia.
Bằng cách cản trở việc thâm nhập
mới vào thị trường, những thiếu
thốn về CSHT cũng hạn chế kỷ luật
cạnh tranh mà các doanh nghiệp
phải đối mặt trong thời đại toàn cầu
hóa, giảm những nỗ lực đổi mới và
nâng cao năng suất của họ. Những
thiếu thốn như thế rất lớn ở các
nước đang phát triển như Việt Nam.
[Ngân hàng thế giới, Báo cáo phát
triển thế giới 2005, 155].
phân loại đô thị. Còn theo Luật Xây dựng Việt Nam năm 2003 qui định: “Hệ thống
công trình hạ tầng kỹ thuật bao gồm hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp
HTKTKDC.
1.1.2. Vai trò của hạ tầng kỹ thuật với sự quản lý và phát triển đô thị
8
Đô thị hiện đại của thời kỳ công nghiệp hóa ngày nay khác rất nhiều về quy
hoạch không gian so với đô thị của thời kỳ nền kinh tế tập trung trước đây và khác xa
về lối sống, tập quán cư trú so với vùng nông thôn.
Đặc điểm lớn nhất của đô thị hiện đại là sự tập trung một số lượng người rất
đông, từ hàng triệu đế
n hàng chục triệu người, tạo ra mật độ cư trú dày đặc. Đặc điểm
thứ hai là cư dân đô thị hoạt động chủ yếu bằng ngành nghề phi nông nghiệp với nhiều
phương thức kiếm sống khác nhau, tập trung trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, công
nghiệp vv…Đặc điểm thứ ba là họ thuộc đủ thành phần, tầng lớp xã hội và đa dạ
ng về
trình độ văn hóa, kiến thức. Như vậy, tính tập trung dân số cao, dày đặc về nơi cư trú
và đa dạng hóa thành phần dân cư là các yếu tố cơ bản nói lên sự phức tạp của đời
sống xã hội đô thị và kéo theo đó là tính phức tạp của công tác quản lý.
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đóng một vai trò trọng yếu trong đời sống kinh tế
-
xã hội của đô thị. Thông qua hệ thống này, người dân trong đô thị có thể tiến hành các
hoạt động kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật, văn hóa và sinh hoạt hàng ngày, có thể
liên lạc từ đô thị này sang đô thị khác và với khu vực xung quanh. Có thể nói, hạ tầng
kỹ thuật chính là động lực để đô thị phát triển, thiếu nó xem như các hoạt động trong
đô thị sẽ rơi vào tình tr
ạng tê liệt. Hạ tầng kỹ thuật đô thị nói chung, là tổng hợp của
các ngành sản xuất mang tính phục vụ với những qui định đặc biệt, sử dụng mạng lưới
cơ sở vật chất để cung cấp cho dân cư và các tổ chức trong đô thị. Theo Luật Xây
dựng 2003, hạ tầng kỹ thuật bao gồm các loại hình phục vụ như hệ thống giao thông,
thông tin liên lạ
c, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thoát nước,
hiện đại, cao tầng, cho hệ thống đường dây cung cấp điện và hành lang hàng không.
Nếu việc xây dựng không được tiến hành theo đúng quy hoạch thống nhất, thì hệ
thống đường sá trên mặt
đất, hệ thống đường ống trong lòng đất và các công trình trên
cao có thể không hài hòa, bị rối loạn khi vận hành, không ổn định trong thời gian dài.
Ngoài ra, phát triển thống nhất hệ thống công trình hạ tầng đô thị là điều kiện đảm bảo
cho sự phát triển mạnh mẽ các hạng mục xây dựng đô thị, rút ngắn thời gian xây dựng,
hạ giá thành xây dựng công trình và nâng cao hiệu quả kinh tế.
1.2. KHÁI NIỆM VỀ HẠ T
ẦNG KỸ THUẬT KHU DÂN CƯ
1.2.1. Khái niệm Khu dân cư
Theo Jay.M. Shafritz trong Tự điển chính quyền và chính trị Hoa Kỳ, Khu dân
cư được xem là một địa bàn có một nhóm người đang sống chung [Community,
201]. Tự điển Lạc Việt [dẫn theo Oxford] thì đưa ra định nghĩa: “Khu dân cư hay
residential district” là nơi, địa bàn mà một nhóm, hay cộng đồng công dân sinh
sống hay có nhà ở tại đó.
10
Nhiều hãng phải đầu tư vào việc tự phát điện. Tính trung bình, họ phải sản xuấ
t ra một
lượng điện tương đương với lượng điện mua của NEPA. Chỉ có 16% hãng nhỏ không thể tự
lo chuyện phát điện và phải dựa vào NEPA. Không có một hãng qui mô trung bình hay lớn
nào làm như vậy. Tuy giá thành mỗi KW đã cao gấp 3 lần do qui mô phát điện nhỏ không
thể giảm chi phí, nhưng những hãng lớn và trung bình chỉ tốn thêm chi phí từ 14 đến 17%
trong khi các hãng nhỏ tốn thêm 24% do sự cắt điện của NEPA. Môi trườ
ng đầu tư trở nên
tệ hại vì tình trạng này.
[Ngân hàng thế giới, Báo cáo phát triển thế giới 2005, P.178]
11
người sinh sống hay có nhà tại đó. Lưu ý rằng bản thân Khu dân dân cư cũng được
Jay.M.Shafritz xem là một đơn vị hành chính cơ sở; có không gian riêng, có hoặc
không có tổ chức của chính quyền. Trong trường hợp Việt Nam, hình ảnh rõ ràng nhất
của Khu dân cư (cũng phù hợp với định nghĩa của Nguyễn Thế Bá) là Tổ dân phố.
1.2.2. Hạ tầng kỹ thuật khu dân cư - HTKTKDC
Hệ thống HTKTKDC gồ
m toàn bộ các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho
nhu cầu phát triển của một khu dân cư, như: công trình giao thông, hệ thống thông tin
liên lạc (điện thoại, điện báo…), công trình cung cấp năng lượng (điện, chất đốt…),
công trình chiếu sáng công cộng, hệ thống cấp nước và hệ thống thoát nước, hệ thống
quản lý thu gom chất thải.
Theo sự phân loại của nhóm tác giả
Nguyễn Hoàng Nhân, HTKTKDC được
xếp vào nhóm hạ tầng cấp 3, chủ yếu phổ biến ở các khu dân cư cũ, thu nhập thấp
[Nguyễn Hoàng Nhân: 2006, tr. 8]. Thực tế điều tra của chúng tôi cho thấy hiện nay hạ
tầng kỹ thuật ở các Tổ dân phố gồm hệ thống các đường phố nội bộ (hay còn gọi là
HẺM), hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, h
ệ thống chiếu sáng hẻm, hệ thống
nước có thể được bố trí dưới dạng rãnh có nắp đan hay cống ngầm dưới lòng đường.
Những khu ph
ố cũ tại thành phố hầu hết có cống ngầm đã cũ, đường kính cống nhỏ và
chỉ thích hợp với mật độ dân cư vừa phải, vì thế đa phần là đang quá tải.
1.2.2.3. Hệ thống cấp nước
+ Chức năng chính : cung cấp nước từ đường ống lớn của nhà máy (qua hệ
thống chung của quận, thành phố) nhằm đảm bảo đủ nước sinh họat đúng tiêu chuẩn
đến dân cư.
+ Đặc điểm : tùy theo từng khu vực, hệ thống cấp nước có thể liên thông và sử
dụng nguồn nước thủy cục của toàn khu vực (tỉnh, thành phố, quận, huyện) hay đơn
giản là xây dựng và sử dụng hệ thống cấp nước riêng biệt của khu dân cư từ nguồn
nước ngầm tại chỗ.
1.2.2.4. Hệ th
ống chiếu sáng vỉa hè khu dân cư
+ Chức năng chính: cung cấp ánh sáng cho khu dân cư để đảm bảo sinh hoạt
công cộng cho người già, trẻ em; trật tự, an toàn lưu thông và an ninh khu vực.
+ Đặc điểm: hệ thống chiếu sáng vỉa hè khu dân cư do nhà nước chịu chi phí
điện, tuy nhiên hệ thống này đơn thuần chỉ làm chức năng chiếu sáng ở mức trung
bình, hợp lý. Phần lớn hệ thống chiếu sáng t
ại các khu phố đang trong tình trạng thiếu
đèn, lắp đặt không kịp thời hoặc không kịp với nhu cầu do dân cư từng khu và nhà ốc
đều đã tăng nhanh.
1.2.2.5. Hệ thống điện sinh hoạt (lắp điện kế và sử dụng nguồn điện quốc gia)
13
+ Chức năng chính: cung cấp nguồn điện sinh hoạt cho người dân trong khu
dân cư từ nguồn điện chính thức của quốc gia nhằm đảm bảo mọi người dân đều được
hưởng lợi và an toàn trong sử dụng, quản lý.
+ Đặc điểm: hệ thống điện sinh họat hiện đang đặt dưới sự quản lý trực tiếp của
điện l
chức của hệ thống này khá hợp lý với bố cục quy hoạch đô thị lúc bấy giờ và chú trọng
14
nhiều về phát triển thương mại, dịch vụ. Nhưng sau ngày giải phóng, cơ cấu kinh tế
thành phố được cải tạo lại theo hướng XHCN cùng với quan điểm chuyển Thành phố
Sài Gòn trước đây từ thành phố tiêu thụ sang thành phố sản xuất; hàng loạt cơ sở sản
xuất lớn nhỏ hình thành ngay trong lòng nội thành hiện nay, tạo sự hỗn độn giữa nơi
cư trú và nơi làm vi
ệc. Thậm chí các cơ sở có yêu cầu vận chuyển nguyên liệu cồng
kềnh, quá tải (các xưởng cưa xẻ gỗ, chế biến thủy hải sản, vật liệu xây dựng…) còn
tập trung phát triển trong nội thành, làm hư hỏng nghiêm trọng các công trình hạ tầng
giao thông khu vực vốn chủ yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt dân cư. Thêm vào đó, sự
gia tăng dân số, nhà ở trong khi việc đầu tư cho hạ
tầng kỹ thuật không được chú trọng
đã dẫn đến thời kỳ suy giảm năng lực, mất cân đối giữa hệ thống hạ tầng có sẵn với
yêu cầu tổ chức sản xuất và phục vụ dân cư vào đầu những năm 90.
Trải qua 30 năm phát triển thành phố, để đảm bảo phù hợp giữa phát triển kinh
tế xã hội và hệ thống công trình hạ tầ
ng kỹ thuật, Chính quyền TPHCM cùng với các
bộ ngành trung ương đã thực hiện nhiều biện pháp, giải pháp nhằm phát triển hệ thống
công trình hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng giao thông, điện, cấp thoát nước, bưu
chính viễn thông, phù hợp với định hướng phát triển không gian đô thị thành phố đến
năm 2020. Việc phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong nh
ững năm qua đã góp phần
bổ sung chỉ số tăng trưởng kinh tế của thành phố, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội
các quận mới thiếu hạ tầng trước đây, thu hẹp khoảng cách giữa vùng nông thôn và
thành thị, đồng thời đã ngăn chặn một phần sự xuống cấp của các công trình hạ tầng
nhờ các DA bảo trì, duy tu nâng cấp và chỉnh trang đô thị, tạo bộ
mặt mới cho thành
phố, nhất là tại các quận trung tâm như dự án (DA) nâng cấp đô thị: Tiểu DA
km
là đường hẻm có chiều rộng dưới 7m.
Đặc biệt, 410
km
đã có tráng nhựa hình thức này hay hình thức khác, số còn lại trên
100
km
chỉ là đường đất hoặc đá (Bảng 1.1.)
Bảng 1.1: Tình hình đường bộ khu dân cư tại TPHCM
Trong đó, chia ra Chia ra Chia ra
Chỉ số
Tổng qui
mô
đường bộ
thành
phố (km)
Thành
phố
quản
lý
Quận,
huyện
quản lý
Trung
ương
quản
lý
Rộng
dưới
cấu và khác nhau về chất lượng. Trong 1.893km đường do chính quyền các cấp của
thành phố qu
ản, có 27% là đường hẻm thuộc thành phần HTKTKDC mà đề tài này
khảo sát. 3/4 trong số 27% này đã có tráng nhựa nhưng chất lượng rất đa dạng. Đa số
trong chúng có nền nhựa thực hiện từ trước 1975; nay trên nền này, nhà nước (hoặc
nhà nước và nhân dân) đã phủ lên từ một đến nhiều lớp nhựa mới. Số khác bằng
bêtông ciment, số còn lại là tô trát ciment thuần túy không có cốt betông. 1/4 còn lại là
đường đất, đường tr
ải đá cấp phối chưa tráng nhựa, chủ yếu phân bổ ở các quận huyện
mới thành lập, vùng ngoại thành.
Không kể 1/4 chưa chỉnh trang, nâng cấp này, trong số 3/4 (của 515
km
) đường
tráng nhựa, tỷ lệ hư hỏng hiện cũng đã khá cao. Theo thống kê trên đơn vị ngẫu nhiên
trong mẫu của nhóm điều tra, gần 40% số hẻm này đã xuống cấp. Bên cạnh đó, tuy số
liệu của thành phố cho biết có 60% trong 513
km
hẻm là rộng dưới 7
m
, thực tế có đến
hơn 1/2 là nhỏ dưới 3
m
và trong số này, số lượng hẻm nhỏ hơn 2
m
là rất nhiều. Nghĩa
là có ít nhất một nửa đường bộ khu dân cư hiện nay trong tình trạng phải chỉnh trang,
nâng cấp càng sớm càng tốt. Phần còn lại cũng phải thực hiện trong thời gian vài năm
tới.
Hệ thống chiếu sáng và cấp nước, thoát nước, xử lý rác thải cũng có vấn đề.
Kết quả điều tra cho thấy chỉ có 40% đường khu dân cư có hệ thống chiếu sáng công
hỏi phải có sự liên kết chặt chẽ với nhau. Song, trên thực tế các văn bản pháp qui trong
lĩnh vực này còn nhiều hạn chế, chưa hoàn chỉnh, thể hiện rõ nhất là việc chia cắt ở
các lĩnh vực hạ tầ
ng trong quản lý, sự thiếu đồng bộ trong phối hợp giữa chính quyền
địa phương với trung ương và với các ngành, thậm chí ngay trong nội bộ của ngành.
Trong quá trình quản lý các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị trong các khu dân
cư tại TPHCM những năm qua, có thể thấy có những bất cập sau:
a. Trước hết, việc thiếu quy hoạch chi tiết sử dụng đất đã gây rất nhiều khó khăn
cho các c
ơ quan thẩm định DA đầu tư nói chung và các khu dân cư đô thị nói
riêng trong việc xác lập các căn cứ pháp lý để quản lý xây dựng đô thị. Việc
không đánh giá đúng thực trạng quỹ đất hiện có và dự kiến quỹ đất dự trữ, cũng
như thiếu nguồn lực tài chánh để thực hiện các DA nên nhiều DA phải nằm chờ
để tìm kiếm nguồn đầu tư, dẫn
đến tình trạng nhiều khu vực đất bị hoang hóa,
gây lãng phí xã hội.
18
b. Có quá nhiều quy hoạch chi tiết nhỏ, lẻ trong các khu dân cư đã được các cơ
quan hữu quan chấp thuận; trong khi không ít các chủ đầu tư thiếu thực lực về
vốn đã tự ý phân lô bán nền, phân lô hộ lẻ một cách tùy tiện, dẫn đế hệ quả phát
sinh hàng ngàn lô phố, hàng trăm đoạn đường ngắn không liên thông với nhau,
không tên gọi, số nhà đặt tùy tiện vv…, phá vỡ qui hoạch, khiến hệ
thống hạ
tầng kỹ thuật không đảm bảo. Sự thiếu sót này dẫn đến hệ lụy là chính quyền
địa phương hoàn toàn lúng túng, buông lỏng công tác quản lý, có nơi đi đến
thỏa hiệp. Kết quả là chỉ mang lại lợi ích cho một số nhà đầu tư, còn nhà nước
phải gánh chịu hậu quả trong việc chỉnh trang, nâng cấp đô thị về sau. Các DA
khu dân cư tại Quận 2, Gò Vấp, Tân Bình mà thành phố ph
ải xử lý vừa qua là
1.4.1. Khái niệm huy động đóng góp người dân hay Quyền tham gia của công dân
“Huy động đóng góp người dân, huy động sức dân cho các công trình công ích”
là quá trình xác định và huy động các nguồn lực, các khoản đóng góp có thể có của
dân cư trong cộng đồng vào ho
ạt động quy hoạch, thực hiện và quản lý sử dụng hoặc
duy trì một công trình công ích. Sự đóng góp này có thể ở dưới dạng vốn, lao động,
quyền sử dụng đất đai, nguyên vật liệu, chất xám, kỹ thuật chuyên môn…
Ở nước ngoài, việc huy động nguồn lực từ cư dân ở khu dân phố (Residential
District) được hiểu theo nghĩa Đồng tham gia hay Quyền tham gia của công dân.
Cũng Jay.M. Shafritz trong Tự điể
n chính quyền và chính trị Hoa Kỳ đưa ra một định
nghĩa rất thú vị rằng: “Citizen Participation: Quyền tham gia của công dân là một
phương tiện trao cho các cá nhân hay nhóm cá nhân quyền thương lượng để đại diện
cho lợi ích riêng của họ, lập kế hoạch và thực hiện chương trình riêng của họ với ý
định hướng tới việc nắm quyền kiểm soát chương trình này. Một vài chương trình của
chính phủ (Hoa Kỳ) có nh
ững qui định mang tính pháp lý yêu cầu một cách cụ thể các
công dân bị ảnh hưởng bởi các chương trình này phải được tham gia vào những quyết
định hành chính của chúng. Có lẽ mức độ tham gia của công dân vào một chương
trình (có liên quan đến quyền lợi của họ) càng lớn, thì chương trình đó càng đáp ứng
được nhiều hơn nhu cầu của cộng đồng và cộng đồng càng đáp ứng được nhiều hơn
yêu cầu của ch
ương trình.”
Như vậy, huy động đóng góp người dân chính là một bộ phận trong việc
thực thi quyền tham gia của công dân ở một đất nước dân chủ. Huy động đóng
góp người dân hay huy động sức dân cho các công trình công ích mang lại các lợi ích
sau:
- Giảm thiểu gánh nặng cho ngân sách của thành phố/tỉnh trong quá trình chỉnh
trang đô thị để đảm bảo hài hoà giữa cảnh quan và phát triển kinh tế.