tiểu luận môn quản trị chiến lược xây dựng chiến lược phát triển công ty bánh đức phát 2014 - 2020 - Pdf 25

VB16QT001 – Nhóm 5
TR NG I H C KINH T TP. H CHÍ MINHƯỜ ĐẠ Ọ Ế Ồ
KHOA QU N TR KINH DOANHẢ Ị
GVHD : TS. Hoàng Lâm Tịnh
Lớp : VB16QT001 – Nhóm 5
Sinh viên :
1. Lê Trung Tính (33131021532)
2. Diếp Văn Phụng (33131022556)
3. Trần Quang Thành (33131020225)
4. Nguyễn Thị Thảo (33131020250)
5. Lê Văn Quế (33131020717)
6. Nguyễn Văn Nguyên (33131020053)
7. Ngô Bảo Anh (33131010343)
Tháng 05/2014
ĐỀ TÀI :
XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
CÔNG TY BÁNH ĐỨC PHÁT 2014-2020
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG 1 – MÔN HỌC :
QUẢN TRỊ CHIẾN
LƯỢC
Tháng 11/2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÔN HỌC :
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
ĐỀ TÀI :
XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
CÔNG TY BÁNH ĐỨC PHÁT 2014-2020
GVHD : TS. HOÀNG LÂM TỊNH
KHÓA 16 - LỚP VB16QT001 – NHÓM 5
Sinh Viên :

DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 :Kao Siêu Lực, người tạo ra cả 2 thương hiệu bánh nổi tiếng Đức Phát
và ABC Bakery
Hình 1.2 :Sơ đồ tổ chức của Đức Phát Bakery
Hình 2.1 :Phân đoạn chiến lược SBU bánh bông lan
Hình 2.2 :Phân đoạn chiến lược SBU bánh cracker
Hình 2.3 :Phân đoạn chiến lược SBU bánh mì
Hình 2.2 :Mô hình áp lực cạnh tranh của Micheal Porter
Hình 2.3 :Chuỗi giá trị
Hình 3.1 :Ma trận BCG hiện tại
Hình 3.2 :Ma trận BCG tương lai
CHƯƠNG I: SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN ĐỨC PHÁT BAKERY
1.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐỨC PHÁT BAKERY
1.1.1. Lịch sử hình thành của Công ty
Năm 1995 thành lập Doanh Nghiệp Tư Nhân, và phát triển 12 chi nhánh
cửa hàng ở các Quận nội thành tại TP.HCM
Năm 2007, từ một DNTN chúng tôi đăng ký chuyển lên Công Ty TNHH SX-
TM Đức Phát Bakery gồm 12 chi nhánh công ty.
Năm 2008, do cung cấp không đủ nhu cầu thị trường. Chúng tôi đầu tư 1
xưởng ở khu Công Nghiệp Tân Tạo vốn đầu tư 160 tỷ, trang bị dây chuyền máy
móc hiện đại.
Năm 2009, chúng tôi mở Cty TNHH Đức Phát Water (Nước suối) tại Bình
Dương đưa ra phục vụ thị trường những dòng sản phẩm đa dạng như: Nước
Suối, Trà linh chi.
Không dừng phát triển ở thị trường Bánh ngọt.
Đầu năm 2010, chúng tôi đầu tư xây dựng tòa nhà Cao ốc văn phòng cho
thuê ở đường Nguyễn Trãi Q1, dự trù khánh thành vào cuối năm nay.
CÔNG TY TNHH SX-TM ĐỨC PHÁT BAKERY
Lô 22 Đường Trung Tâm, Khu Công Nghiệp Tân Tạo, Phường Tân Tạo A,

không về nhà, anh ngủ luôn trên xe, chờ cho các lò bánh mì ra bánh vào lúc 5
giờ sáng để nhận bánh mang đi bán.
Sau 3 tháng chạy xe thuê, đã biết chút ít điểm mua bán, anh chuyển sang
bán gạo. Thời điểm đó, chất lượng gạo không tốt, người mua luôn phải ăn gạo bị
pha lẫn tạp chất. Thế là, anh sắm chiếc nia để sàng gạo. Hình ảnh một thanh
niên ngồi sàng gạo đã gây tò mò và thu hút nhiều khách hàng. Không có tiền
mua cân, anh dùng lon sữa bò đong gạo, nhưng trọng lượng luôn đúng, giá cả
lại hợp lý.
Những năm 1979-1980, Việt Nam còn nhận viện trợ bột mì từ nước ngoài.
Rất nhiều người đem bột mì đi đổi lấy gạo vì ăn không quen. Anh đứng ra mua
và đem bỏ cho các lò làm bánh. Lúc đó, anh phát hiện mình có một biệt tài là
phân loại bột rất nhanh và chuẩn xác. Các lò bánh rất thích mua bột của anh vì
để làm được bánh ngon, chọn đúng loại bột. Giá bột anh giao cho các lò bánh
cũng khá rẻ.
Nhưng một lần, sau khi giao bột cho một lò bánh, người thợ chính nơi đó
nói rằng, một người khác đã đến giao bột với giá cao hơn của anh, nhưng chất
lượng cũng tốt hơn. Anh đem chuyện này hỏi chủ lò bánh và cam đoan nếu bột
của mình kém hơn sẽ không cung cấp hàng nữa. Khi quay lại để xem kết quả,
ông chủ lò bánh thông báo bột của anh kém xa bột của người kia. Sau khi tìm
hiểu anh biết người giao bột đã thông đồng với thợ làm bánh để “hất” anh ra.
Lúc đó, anh đã thề rằng, nếu sau này có mở cơ sở làm bánh, nhất thiết phải đi
lên từ vị trí người thợ để không quá phụ thuộc vào người khác.
Từ anh giao bột đến ông chủ
Không cam phận làm người giao bột, anh bắt đầu đến các lò bánh để học
cách làm bánh. Và bánh bông lan là thử nghiệm đầu tiên của anh.
Vốn có kiến thức về cơ khí, anh đưa ra ý tưởng rồi đặt hàng làm máy đánh
trứng loại lớn. Trớ trêu thay, máy nhỏ thì làm được, nhưng máy lớn đánh trứng
lại không nổi. Một lần, nằm nhìn lên trần nhà, anh thấy để cánh quạt tạo ra gió
mạnh, các cánh phải được cắt xéo. Thế là chỉ cần thay đổi chút ít, chiếc máy
đánh bột lớn đã ra đời.

chỉ có sản xuất mới nhanh phát triển, dù hai tay có làm hết sức thì cũng không
bao giờ đuổi kịp.
Một người đàn ông không trà, rượu, cà phê, cờ bạc… như ông Lực được
coi là quá tiết kiệm. Và lúc này, sự tiết kiệm đó đã có đất dụng võ. Dốc toàn bộ
80.000USD tích góp được, Kao Siêu Lực quyết định đặt mua dây chuyền công
nghệ làm bánh của Nhật.
Sự kết hợp giữa bí quyết làm bánh thủ công và dây chuyền hiện đại bậc
nhất lúc đó giúp cho bánh Đức Phát đẹp hơn, năng suất cao hơn. Sau croissant,
một sản phẩm khác tiếp tục làm nên tên tuổi của Đức Phát chính là “tuyệt phẩm”
bánh dừa lưới. Đây là loại bánh ngọt có nhân nổi tiếng trên thế giới. Vỏ bánh
hình mắt lưới, nhân được chế biến tùy thuộc gu ẩm thực của mỗi quốc gia.
Nhớ đến loại nông sản nổi tiếng của Việt Nam là dừa, ông Lực mày mò pha
trộn giữa bơ, trứng và dừa để cho ra công thức làm bánh đặc biệt và đặt tên là
bánh dừa lưới. Ngoài nhân dừa, ông còn sáng tạo ra 20 loại nhân bánh khác
nhau, tạo nên cơn sốt bánh “dừa lưới” trên thị trường. Vào thời điểm đó, mỗi
ngày, Đức Phát làm ra vài ngàn chiếc, nhưng vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu
của thị trường.
Nhu cầu của khách hàng liên tục tăng buộc ông Lực phải mở rộng sản xuất
và sáng tạo thêm nhiều loại bánh khác nhau. Năm 1998, Đức Phát lần đầu tham
gia thị trường bánh mì. Lúc này, bánh mì chủ yếu do các cơ sở nhỏ, các hộ gia
đình làm ra. Để tạo sự khác biệt với bánh mì dài thông dụng, Đức Phát tung ra
sản phẩm bánh mì cóc dạng tròn, giòn và xốp hơn. “Tôi không thích dùng sức
mạnh công nghệ để cạnh tranh với các cơ sở bánh mì nhỏ lẻ. Vì vậy, bánh mì
cóc của Đức Phát dù trọng lương nhỏ hơn nhưng giá lại cao hơn. Canh tranh
như vậy là quá công bằng”, ông Lực nói.
Cũng từ năm 1998, Đức Phát lần lượt cho ra đời các sản phẩm đóng gói,
thời hạn sử dụng lâu hơn. Điều này giúp sản phẩm Đức Phát vượt khỏi thị
trường thành phố Hồ Chí Minh, mở rộng dần ra các tỉnh lân cận.
Thương hiệu chia ly
Giới làm bánh Sài Gòn nói với nhau rằng, một người làm ăn như ông Lực

này phần lớn được ông đầu tư xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu mới và
xây thêm 6 cửa hàng.
Dù không thể quên nỗi đau mất “đứa con” mà ông đã dày công nuôi nấng
trong 20 năm trời, nhưng nỗi đau đó đã không biến thành thù hận. Khi có kết quả
phân xử của tòa án, với các phân xưởng thuộc quyền quản lý của ông, lẽ ra Kao
Siêu Lực có thể cắt nguồn cung cấp bánh cho các cửa hàng của vợ cũ. Nhưng
ông vẫn chờ đến khi bà xây dựng xong xưởng mới và ổn định nhân sự rồi mới
ngưng cung cấp bánh.
Có lẽ là các nhà phân phối lâu năm của Đức Phát là những người bị ảnh
hưởng xấu nhất từ cuộc chia tay này. Việc chia đôi tài sản tất nhiên cũng dẫn
đến việc tách đôi số nhân viên, quản lý và thợ làm bánh lành nghề. Các đối tác
làm ăn lâu nay với Đức Phát cũng phải lựa chọn hợp tác với một trong hai bên
hoặc với cả hai.
1.2. CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA ĐỨC PHÁT BAKERY
1.2.1 Hệ thống cửa hàng
 340 Huỳnh Tấn Phát, Phường Bình Thuận, Quận 7, TP.HCM
ĐT: (08)-38720271
 1118C Đường 3/2, Phường 12, Quận 11, TP.HCM
ĐT: (08)-39628381
 71 Cao Thắng, Phường 3, Quận 3, TP.HCM
ĐT: (08)-38397327
 286 Bạch Đằng, Phường 14, Quận Bình Thạnh, TP.HCM
ĐT: (08)-38412110
 313 Lê Quang Sung, Phường 6, Quận 6, TP.HCM
ĐT: (08)-39693520
 92A Hậu Giang, Phường 6, Quận 6, TP.HCM
ĐT: (08)-39603110
 513A Nguyễn Kiệm, Phường 9, Quận Phú Nhuận, TP.HCM
ĐT: (08)-38441088
 442A Cộng Hòa, Phường 13, Quận Tân Bình, TP.HCM

- Các nhãn hiệu bánh bơ và bánh mặn được đóng gói hỗn hợp: More,
Yame, Amara, Besco, Bisco up, Bosca, Celebis, Doremi, Dynasty, Gold time,
Famous, Lolita, Rhen, Spring time, Sunny, Year up…
- Các loại bánh nhân mứt như Fruito, Cherry, Fine, Ki-Ko, Kidos, Fruito,
Fruit treasure, Big day, Tropika, TFC, Fruitelo…
- Bánh trứng (cookies IDO)
- Bánh bơ làm giàu Vitamin: Vita, Marie…
- Bánh bơ thập cẩm: Fine, Always, Angelo, Big day, Cookie town, Elegent,
Heart to heart, Legend, The house of cookies, Twis, Good time, Let’s party.
 Bánh trung thu
Bánh trung thu là sản phẩm là sản phẩm có tính mùa vụ nhất, doanh thu
chiếm tỷ trọng chưa cao trong tổng doanh thu.
 Bánh kem
Bánh kem là sản phẩm được ưa chuộng nhất, chiếm tỷ trọng doanh thu
cao.
1.4. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY
Hiện tại, Công ty đang tập trung vào ngành nghề kinh doanh cốt lõi - hoạt
động chủ yếu tạo ra lợi nhuận trong năm 2011 và 2012 đó là sản xuất và cung
cấp bánh ngọt.
So với các công ty khác cùng ngành thì hiện tại Công ty đang chiếm lĩnh thị trường
bánh Buche và bánh kemvới thị phần tương ứng lần lượt là 76.5% và 56.3%, Công ty
cũng chiếm thị phần đáng kể tại phân khúc bánh kem (38.6%), bánh trung thu (14%) và
kem (17,5%). Sản phẩm phong phú, hương vị đa dạng phù hợp với thị hiếu người tiêu
dùng nội địa, giá cả cạnh tranh là những ưu thế của sản phẩm mang thương hiệu Đức
Phát Bakery.
Biểu đồ 1.1: Cơ cấu doanh thu lĩnh vực bánh ngọt Công ty Đức Phát năm 2012
Tốc độ tăng trưởng bình quân về doanh thu của Công ty là 38%/năm, tổng tài sản
tăng 18%/năm trong giai đoạn 2010 - 2012. Thêm vào đó, lợi nhuận của Công ty có mức
biến động mạnh giai đoạn sau sáp nhập và trước đó do sự thay đổi đáng kể các loại chi
phí trong quá trình tái cơ cấu.

theo kế hoạch và theo cơ chế thị trường: Trong năm có 17 tỉnh, thành
phố điều chỉnh giá dịch vụ y tế làm cho CPI của nhóm thuốc và dịch vụ y
tế tăng 18,97% so với tháng 12 năm trước, đóng góp vào chỉ số chung cả
nước gần 1,1%; các địa phương tiếp tục thực hiện lộ trình tăng học phí
làm làm CPI nhóm giáo dục tăng 11,71%, đóng góp vào chỉ số chung cả
nước tăng khoảng gần 0,7%; giá xăng dầu được điều chỉnh tăng/giảm và
cả năm tăng 2,18%, góp vào CPI chung cả nước mức tăng 0,08%; giá
điện điều chỉnh tăng 10%, đóng góp vào CPI chung khoảng 0,25%. Bên
cạnh đó, giá gas cả năm tăng gần 5%, đóng góp vào CPI cả nước với
mức tăng 0,08%.
˗ Nhu cầu hàng hóa tiêu dùng của dân cư và tiêu dùng cho sản xuất tăng
vào dịp cuối năm
˗ Ảnh hưởng của thiên tai, mưa bão
˗ Mức cầu trong dân yếu.
Biểu đồ 2.2: Chỉ số giá tiêu dùng CPI (Nguồn: Tổng cục Thống kê)
2.1.1.2. Xu huớng phát triển theo cơ cấu
Trong mức tăng 5,42% của toàn nền kinh tế:
˗ Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,67%, xấp xỉ mức tăng năm
trước, đóng góp 0,48 điểm phần trăm;
˗ Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,43%, thấp hơn mức tăng
5,75% của năm trước, đóng góp 2,09 điểm phần trăm;
˗ Khu vực dịch vụ tăng 6,56%, cao hơn mức tăng 5,9% của năm 2012,
đóng góp 2,85 điểm phần trăm.
Như vậy mức tăng trưởng năm 2013 chủ yếu do đóng góp của khu vực dịch
vụ, trong đó một số ngành chiếm tỷ trọng lớn có mức tăng khá là: Bán buôn và
bán lẻ tăng 6,52%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 9,91%; hoạt động tài chính,
ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,89%.
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, tuy mức tăng của ngành công
nghiệp không cao (5,35%) nhưng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng khá
ở mức 7,44% (Năm 2012 tăng 5,80%) đã tác động đến mức tăng GDP chung.

với năm 2012. (Kim ngạch xuất khẩu năm 2011 tăng 34,2%; năm 2012 tăng
18,2%). Trong năm 2013, kim ngạch xuất khẩu khu vực kinh tế trong nước đạt
43,8 tỷ USD, tăng 3,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cả dầu thô) đạt
88,4 tỷ USD, tăng 22,4%. Nếu không kể dầu thô thì kim ngạch hàng hoá xuất
khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài năm nay đạt 81,2 tỷ USD, tăng
26,8% so với năm trước. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu
năm 2013 tăng 18,2%.
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2013 tăng cao chủ yếu ở khu vực có
vốn đầu tư nước ngoài với các mặt hàng như: Điện tử, máy tính và linh kiện;
điện thoại các loại và linh kiện, hàng dệt may, giày dép Xuất khẩu của khu vực
này trong những năm gần đây có xu hướng tăng mạnh và chiếm tỷ trọng cao
trong tổng kim ngạch xuất khẩu: Năm 2011 chiếm 56,9% và tăng 41%; năm 2012
chiếm 63,1% và tăng 31,1%; năm 2013 chiếm 61,4% và tăng 22,4%.
Về thị trường:
˗ EU tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch
xuất khẩu năm 2013 ước đạt 24,4 tỷ USD tăng 20,4 % (tương đương 4,1
tỷ USD) so với năm 2012, kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng tăng so
với năm 2012 như: Điện thoại các loại và linh kiện tăng 56% (2,75 tỷ
USD); giầy dép tăng 10,5% (245 triệu USD); hàng dệt may tăng 11,2%
(243 triệu USD).
˗ Hoa Kỳ đứng thứ 2 với kim ngạch xuất khẩu ước tính đạt 23,7 tỷ USD,
tăng 20,3% (4 tỷ USD), kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng tăng như:
Hàng dệt may tăng 14% (973 triệu USD); giầy dép tăng 16,9% (340 triệu
USD); gỗ và các sản phẩm gỗ tăng 10,3% (167 triệu USD).
˗ Tiếp đến là ASEAN đạt 18,5 tỷ USD, tăng 6,3% (1,1 tỷ USD) với các mặt
hàng chủ yếu: Điện thoại các loại và linh kiện tăng 75,2% (992 triệu
USD); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 30,7% (414 triệu
USD).
˗ Nhật Bản ước tính đạt 13,6 tỷ USD, tăng 3,8% (496 triệu USD).
˗ Hàn Quốc 6,7 tỷ USD, tăng 19,9% (1,1 tỷ USD).

thuộc khá nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập từ nước ngoài do ngành công
nghiệp phụ trợ còn quá yếu. Tỷ trọng giá trị nhập khẩu các mặt hàng phục vụ
hoạt động gia công lắp ráp chiếm tỷ trọng khá cao trong kim ngạch xuất khẩu
hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu điện thoại các loại và linh kiện (trừ điện thoại di
động) chiếm 33,3% kim ngạch xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện; kim
ngạch nhập khẩu vải chiếm 48,3% giá trị xuất khẩu hàng dệt may…
Về thị trường:
˗ Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch
nhập khẩu từ thị trường này năm 2013 ước tính đạt 36,8 tỷ USD, tăng
26,7% (tương đương 7,8 tỷ USD), đây là thị trường nhập siêu lớn nhất
của Việt Nam với mức 23,7 tỷ USD. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt
hàng từ Trung Quốc tăng so với năm 2012: Máy móc thiết bị dụng cụ và
phụ tùng tăng 25,5% (1,2 tỷ USD); điện thoại các loại và linh kiện tăng
73,6% (2,3 tỷ USD); máy vi tinh sản phẩm điện từ và linh kiện tăng 36,8%
(1,1 tỷ USD).
˗ Thị trường ASEAN ước tính đạt 21,4 tỷ USD, tăng 2,8% (589 triệu USD)
với kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng tăng như: Máy vi tính, sản
phẩm điện tử và linh kiện tăng 56,3% (1,2 tỷ USD); máy móc thiết bị và
phụ tùng tăng 7,9% (16,9 tỷ USD).
˗ Kim ngạch nhập khẩu từ Hàn Quốc ước tính đạt 20,8 tỷ USD, tăng 34,1%
(5,3 tỷ USD) với các sản phẩm chủ yếu như: Máy vi tính tăng 60,3% (1,8
tỷ USD); máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng tăng 62,8% (993 triệu
USD); điện thoại các loại và linh kiện tăng 78,2% (918 triệu USD).
˗ Thị trường Nhật Bản ước tính đạt 11,6 tỷ USD, giảm 0,18% (21 triệu
USD).
˗ Thị trường EU ước tính đạt 9,2 tỷ USD, tăng 4,2% (373 triệu USD).
˗ Hoa Kỳ đạt 5,1 tỷ USD, tăng 6,1% (296 triệu USD).
2.1.1.4. Lãi suất và xu huớng lãi suất
Tại Nghị quyết phiên họp thường kỳ tháng 3/2014, Chính phủ có chỉ đạo
Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu điều chỉnh giảm lãi suất các khoản cho vay cũ

sản phẩm tín dụng cho người tiêu dùng được tung ra để hỗ trợ và khuyến khích
người tiêu dùng có tác dụng làm tăng tổng cầu, một trong những nguyên nhân
chủ yếu đẩy nền kinh tế vào tình trạng trì trệ. Cũng trong thời gian qua, Ngân
hàng Nhà nước đã ủng hộ và tạo điều kiện cho nhiều ngân hàng đưa ra những
gói tín dụng để tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản, cụ thể là chương
trình liên kết bốn nhà 50.000 tỷ đồng và mới đây gói 70.000 tỷ đồng của một số
ngân hàng khác. Ðiều đáng quan sát ở đây là Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp
với các bộ, ngành như Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch và Ðầu tư, Hiệp hội Bất động
sản và các cơ quan khác trong việc hỗ trợ những gói tín dụng chuyên ngành
này.
Nếu như cuối năm 2011, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay còn ở mức
rất cao, lãi suất trở thành gánh nặng của các doanh nghiệp, thì chỉ trong vòng
hơn hai năm qua, mặt bằng lãi suất đã giảm mạnh, không chỉ lãi suất của các
khoản cho vay mới giảm mà lãi suất của các khoản cho vay cũ cũng đã được
các ngân hàng xem xét điều chỉnh giảm phù hợp với mặt bằng lãi suất thị
trường. Ðến nay, lãi suất cho vay đã ở mức thấp và không còn là yếu tố trở ngại,
khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Ðây là một trong những
điểm sáng trong điều hành của NHNN. Song hành với chính sách lãi suất, NHNN
đã có những hỗ trợ mạnh mẽ đối với hệ thống ngân hàng trong việc khai thông
dòng vốn tín dụng đã và đang có những tác động tích cực đối với nền kinh tế
vào lúc này và trong thời gian sắp tới.
2.1.1.5. Dự báo kinh tế thế giới và Việt Nam đến năm 2020
Thương mại thế giới giai đoạn 2011-2020 được dự báo sẽ tăng trưởng
nhanh hơn sản lượng, đạt tốc độ trung bình 7,5%/năm, chiếm 45% GDP thế giới
vào năm 2020. Tự do hoá thương mại, chi phí vận tải và viễn thông giảm, các
luồng vốn di chuyển giữa các quốc gia ngày càng dễ dàng hơn là những nguyên
nhân chính thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển. Thương mại dịch vụ ngày
càng khẳng định vai trò của mình, trở thành một trong những nhân tố chính thúc
đẩy sự phát triển kinh tế của các quốc gia nói riêng và thế giới nói chung trong
giai đoạn 2011-2020

cho các ngành kinh tế, các doanh nghiệp kinh doanh và phát triển. Thể chế
chính trị ổn định, đường lối chính trị mở rộng giúp các ngành kinh tế, các doanh
nghiệp có điều kiện thuận lợi trong việc phát triển các mối quan hệ sản xuất kinh
doanh với bên ngoài.
Ngành sản xuất bánh cũng như các ngành khác độc lập tự chủ trong sản
xuất kinh doanh của mình, phát triển các mối liên doanh, liên kết lựa chọn đến
công tác làm ăn, tăng khả năng cạnh tranh có điều kiện mở rộng thị trường xuất
khẩu.
Nền kinh tế Việt Nam hoạt động theo cơ chế thị trường dưới sự kiểm soát
của nhà nước. Vì vây, giảm bớt được những rủi ro có thể xảy ra về mặt tài chính.
Việc kiểm soát và điều chỉnh tỷ giá tạo thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh
trong nước. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng của ta còn thấp kém, hệ thống pháp luật
lỏng lẻo, không hiệu quả dẫn đến tình trạng nhập lậu bánh, hàng kém chất
lượng.
Ngành sản xuất bánh là một trong những ngành có vai trò quan trọng vào
sự đóng góp chung đó. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, mức sống của nhân
dân không ngừng cải thiện, nhu cầu của người dân ngày càng phong phú và đa
dạng. Vì vậy ngành sản xuất bánh được nhà nước dành nhiều chính sách ưu

Trích đoạn Điều kiện về môi trường văn hoá xã hộ PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG ( CHUỖI GIÁ TRỊ ) Hoạt động chính 1 Logistic đầu vào Logistic đầu ra Hoạt động marketing & Sales
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status