nguyên lí hình thái kinh tế và ảnh hưởng của nó trong hoạt động ngân hàng - Pdf 25

Tiểu luận triết
A.GIớI THIệU Đề TàI
M ọi ngời đều biết, trong lịch sử t tởng nhân loại trớc Mác đã có không
ít cách tiếp cận khi nghiên cứu sự phát triển của xã hội. Xuất phát từ những
nhận thức khác nhau, với những ý tởng khác nhau mà có sự phân chia lịch sử
tiến hóa của xã hội theo những cách khác nhau. Chẳng hạn, nhà xã hội học
Vi cô ở Italia (1668-1744) đã phân chia các thời kì phát triển của xã hội
giống nh phân chia các giai đoạn của một đời ngời: thơ ấu, thanh niên, thành
niên và tuổi già. Nhà triết học duy tâm Hê-ghen (1770 -1831) phân chia lịch
sử xã hội loài ngời thành ba thời kì chủ yếu: thời kì phơng Đông, thời kì cổ
đại và thời kì Giéc- ma- ni . Nhà xã hội chủ nghĩa không tởng Pháp Phu- ri-
ê (1722-1837) chia lịch sử xã hội thành bốn giai đoạn: giai đoạn mông muội,
giai đoạn dã man, giai đoạn gia trởng, giai đoạn văn minh. Còn nhà nhân
chủng Mỹ Hang- ri Moóc- găng ( 1818-1881 ) lại phân chia xã hội thành ba
thời đại : thời đại mông muội , thời đại dã man và thời đại văn minh
Mọi ngời cũng đã quen với những khái niệm : thời đại đồ
đồng , thời đại cối xay gió, thời đại máy hơi nớc, và gần đây là các nền văn
minh : văn minh nông nghiệp, văn minh hậu công nghiệp.
Mỗi cách tiếp cận nêu trên có những điểm hợp lí nhất định,
và do đó đều có ý nghĩa nhất định, nhng cha nói lên bản chất sự phát triển
của xã hội một cách toàn diện, tổng thể, do đó mà còn hạn chế.
Dựa trên những kết quả nghiên cứu lí luận và tổng kết quá
trình lịch sử đã hình thành nên học thuyết về hình thái kinh tế -xã hội. Hình
thái kinh tế- xã hội là một khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để
chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định với một kiểu quan hệ sản xuất
đặc trng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lợng sản
xuất và một kiến trúc thợng tầng tơng ứng đợc xây dựng trên những mối
quan hệ sản xuất.
Tiểu luận triết
Là sự biểu hiện tập trung của quan niệm duy vật lịch sử, lí
luận về hình thái kinh tế xã hội nghiên cứu lịch sử xã hội trên cơ sở xem

Hình thái kinh tế-xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy
vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu
quan hệ sản xuất đặc trng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định
của lực lợng sản xuất và với một kiến trúc thợng tầng tơng ứng đợc xây dựng
trên những quan hệ sản xuất ấy
Khi nghiên cứu lịch sử phát triển của xã hội xuất phát từ
những nhận thức khác nhau, với những ý tởng khác nhau mà có sự phân lịch
sử tiến hóa của xã hội theo những cách khác nhau.
Đơn cử nh triết gia duy tâm Hê-ghen(1770-1831) phân kì lịch
sử xã hội loài ngời thành ba thời kì chủ yếu:Thời kì Phơng Đông, thời kì cổ
đại và thời kì Grec-mani. Và nh nhà xã hội không tởng của Pháp là Phu-ri-
ê(1772-1831) chia lịch sử xã hội thành bốn giai doạn: giai đoạn mông
Tiểu luận triết
Dựa trên những kết quả nghiên cứu lý luận và tổng thể quá
trình lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã vận dụng phép biện chứng
duy vật để nghiên cứu lịch sử xã hội, đa ra quan điểm duy vật về lịch sử và
hình thành nên học thuyết về hình thái kinh tế-xã hội.
Học thuyết hình thái kinh tế-xã hội với t cách là: " Hòn đá tảng"
của xã hội học Mác Xít nói chung cho phép chúng ta hình dung quá trình
phát triển của lịch sử là quá trình lịch sử tự nhiên.
Loài ngời đã trải qua năm hình thái kinh tế-xã hội theo thứ tự
hình thái kinhtế-xã hội cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến,
t bản chủ nghĩa và hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Hình thái kinh tế-xã hội có tính lịch sử, có sự ra đời và diệt
vong. Chế độ xã hội lạc hậu sẽ mất đi, chế độ xã hội mới cao hơn sẽ thay thế
nó. Đó là khi phơng thức sản xuất cũ đã trở nên lỗi thời, khủng hoảng do
mâu thuẫn của quan hệ sản xuất với lực lợng sản xuất.

Lực lợng sản xuất là nền tảng vật chất kĩ thuật của mỗi hình

Muốn thay thế học thuyết hình thái kinh tế xã hội bằng học
thuyết khác. Điển hình cho loại quan điểm này là tiếp cận theo nền văn
minh. Xã hội phát triển từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh công
nghiệp và văn minh hậu công nghiệp. Sai lầm căn bản của cách tiếp cận này
là "coi trình độ phát triển khoa học, công nghệ, lực lợng sản xuất là yếu tố
quyết định duy nhất bỏ qua vai trò của quan hệ kinh tế, giai cấp, chế độ
chính trị".

Qua đó chúng ta rút ra: ý nghĩa của học thuyết hình thái kinh
tế- xã hội và vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Tiểu luận triết

Học thuyết hình thái kinh tế- xã hội vạch ra nguồn gốc, động
lực bên trong của sự phát triển xã hội, tìm ra nguyên nhân và cơ sở của sự
xuất hiện và biến đổi những hiện tợng xã hội đặt ra cơ sở lý luận cho khoa
học và xã hội học nâng nó lên thành khoa học thực sự. Chống lại quan điểm
duy tâm về lịch sử, coi xã hội là sự kết hợp có tính chất máy móc của nhiều
cá nhân và gia đình, coi sự vận động và phát triển của xã hội là lý do ý chí
của những nhà cầm quyền chi phối, coi kỹ thuật là cái chung quyết định tính
chất chế độ xã hội, là tiêu chuẩn khách quan phân biệt các hình thái kinh tế-
xã hội.

Học thuyết hình thái kinh tế-xã hội vũ trang cho chúng ta ph-
ơng pháp khoa học để nghiên cứu sự phát triển xã hội qua các chế độ xã hội
khác nhau, hiểu rõ cơ cấu chung của hình thái kinh tế-xã hội và những quy
luật phổ biến tác động, chi phối sự vận động và phát triển của xã hội
.
Rõ ràng, học thuyết Mác về hình thái kinh tế -xã hội là một
thành tựu vĩ đại của khoa học xã hội, là một bớc tiến khổng lồ trong
lịch sử t tởng nhân loại. Sự ra đời của học thuyết này là một cuộc cách

:
Nền kinh tế nớc ta tiếp tục phát triển và đạt mức tăng trởng
khá.
Tiểu luận triết
Năm 1997, GDP tăng 9% cao hơn bình quân của năm trớc là
8,2%. Năm 1999, tăng 4,7%- 5%.

Theo số liệu Ban chấp hành Trung ơng Đảng- Hội nghị lần
thứ VIII- khóa 8 thì mức độ thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của nền kinh tế n-
ớc ta năm 1999 nh sau:
- Tổng sản phẩm trong nớc(GDP) tăng 4,7%- 5%
- Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5,2%- 5,5%
- Sản lợng lơng thực quy thóc đạt 33,8 triệu tấn.
- Giá trị sản lợng công nghiệp tăng 10,3%- 10,5%
- Giá trị các ngành dịch vụ tăng 3,5%- 3,8%
- Kim ngạch xuất khẩu tăng 14,3%
- Lạm phát 2%
- Bội chi ngân sách 4,9%(so với GDP)
- Số hộ đói nghèo giảm 40 vạn hộ.
- Tạo việc làm mới cho 1,2 triệu ngời.
- Số tỉnh hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ là
58/61 tỉnh.
-Trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn và thách thức nhng nền
kinh tế vẫn duy trì đợc tốc độ tăng trởng. Mặc dù GDP năm 1999 tăng 5% so
với năm 1998 có kém hơn so với tốc độ của các năm trớc nhng mức tăng tr-
ởng đã nhích dần từng tháng, từng quý: Quý I, GDP tăng 4,2%- Quý II tăng
4,5%- Quý III tăng 5% làm xuất hiện khả năng chặn đà giảm sút, tuy còn

năm 1998 làm cho mức nhập siêu khoảng 600 triệu USD, bằng 5,6% so với
kim ngạch xuất khẩu. Đây là mức thấp nhất trong nhiều năm qua, nhờ có cán
cân thanh toán quốc tế cả năm có đợc cải thiện, bội thu khá làm cho dự trữ
ngoại tệ đợc tăng lên.

Tiểu luận triết
Trong bối cảnh đầu t nớc ngoài giảm do hậu quả của khủng
hoảng kinh tế, tài chính trong khu vực và trên thế giới, với t tởng chỉ đạo của
TW4 và nghị quyết TW6 lần 1, chúng ta đã có một bớc tiến trong việc phát
huy nội lực để bù đắp và bổ xung một phần thiếu hụt cho đầu t phát triển do
sự giảm sút của đầu t trực tiếp từ nớc ngoài.

Đánh giá sơ bộ cho thấy tổng đầu t xã hội năm 1999 đạt 105
ngàn tỉ (tăng 9% so với năm 1998), đây là một sự cố gắng lớn. Nét nổi bật là
trong khi vốn đầu t trực tiếp từ nớc ngoài giảm từ 24,3 ngàn tỉ (năm 1998)
xuống còn 18,8 ngàn tỉ đồng (năm 1999) nhng tổng vốn đầu t phát triển vẫn
tăng 9%. Điều đó nói lên t tởng phát huy nội lực của các Nghị quyết Trung -
ơng bớc đầu đi vào cuộc sống.

Nguồn vốn đầu t phát triển xã hội đã đợc tập trung đầu t nhiều
hơn cho nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển công nghiệp chế biến
và các ngành công nghiệp then chốt, xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, bu
điện, giáo dục, khoa học công nghệ, y tế, văn hóa

Thu ngân sách có nhiều cố gắng đạt dự toán năm. Việc thông
qua và đa vào áp dụng lần đầu tiên ở nớc ta thuế V.A.T là một cố gắng lớn,
bớc đầu có sự chuyển biến tích cực ở một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.

Nh vậy, mặc dù đứng trớc hoàn cảnh kinh tế thế giới giảm
sút, khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực, nhng nền kinh tế nớc ta cơ bản

trớc là 6%. Ngành thơng nghiệp chiếm tỉ trọng cao thong lĩnh vực dịch vụ
nhng chỉ đạt mức tăng trởng dới 2%.

Tốc độ tăng tỉ trọng vốn đầu t toàn xã hội đang có xu h-
ớng giảm dần: từ 28%GDP (năm 1997) xuống còn 26,7% (năm1998) và
Tiểu luận triết
26,3% (năm 1999). Vốn đầu t trực tiếp của nớc ngoài vẫn tiếp tục giảm
mạnh. Điều này nếu không đợc khắc phục sẽ ảnh hởng trực tiếp đến tốc độ
tăng trởng kinh tế ở những năm đầu thế kỷ XXI.
Chỉ số giá tiêu dùng giảm mạnh dẫn đến hàng hóa ứ đọng,
thị trờng kém sôi động, cơ hội và môi trờng đầu t còn bấp bênh. Tỉ lệ nợ quá
hạn trong hệ thống tín dụng vợt quá giới hạn an tòan (mức an toàn là 5%, nh-
ng hiện nay đã lên tới 14%). Trong số nợ quá hạn thì trên 7% là nợ khó đòi.
Đây là vấn đề bức xúc trong ngành tín dụng-ngân hàng.
Một vấn đề đợc toàn xã hội quan tâm đó là tình trạng
thất nghiệp. Hiện nay thất nghiệp ở Hà Nội đã dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội vì
tỷ lệ thất nghiệp đã lên tới 10%, Thành phố Hồ Chí Minh 7%. Đặc biệt ở
nông thôn số thời gian lao động mới đợc sử dụng khoảng 70%.
* Một số vấn đề cản trở sự phát triển:

Vấn đề chất lợng, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp vẫn là
tồn tại lớn nhất của nền kinh tế nớc ta, vấn đề này đã đợc hội nghị trung ơng
khóa VIII chỉ ra song trong hai năm qua không có chuyển biến tích cực. Biểu
hiện rõ nét nhất là chi phí vật chất trong việc sản xuất kinh doanh có chiều h-
ớng tăng cao và khó tiêu thụ. Chi phí sản xuất vật chất toàn bộ các ngành
kinh tế chiếm khoảng 48% trong giá trị sản xuất năm 1998 và tăng lên 50%
trong năm 1999.
Sức cạnh tranh của nền kinh tế nớc ta đã thấp lại càng
thấp hơn khi các nền kinh tế bị khủng hoảng trong khu vực đang có dấu hiệu
phục hồi. Điều này chúng ta không thể đổ lỗi cho các ngành sản xuất kinh

xã hội năm 1999 kết luận của hội nghị Trung ơng 8 ghi rõ:
- Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội năm 1999 theo tinh thần nghị quyết Trung ơng 4, Trung ơng 6 (lần 1) và
nghị quyết 06 của Bộ chính trị, mặc dù gặp phải khó khăn và thách thức to
lớn do những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới chúng ta vẫn duy trì
đợc tốc độ tăng trởng khoảng 5%.
Theo số liệu thống kê của bá Nguyễn Thị Hằng - Đăng
trên tạp chí Cộng sản 2/2000.
Hàng năm chúng ta giải quyết việc làm mới cho 1,2 -1,3
triệu ngời lao động có trình độ nghề.
Đời sống của tuyệt đại bộ phận nhân dân đợc cải thiện rõ
rệt. Tỉ lệ đói nghèo cả nớc đã giảm từ 20,3%(năm 1995)- xuống 14% (1999).
Bình quân mỗi năm giảm 300 ngàn hộ (2% tổng số hộ
đói nghèo) 805 ngời có công đã có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống
trung bình của dân c cùng xã, phờng nơi c trú.
Để đạt đợc những thành tựu đó là do: Sự nỗ lực, quyết
tâm cao của toàn dân, toàn Đảng, sự cố gắng của các ngành, các cấp thực
hiện Nghị quyết Trung ơng 4, và Nghị quyết Trung ơng 6 (lần 1).
Tiểu luận triết
Cơ chế, chính sách, pháp luật đã đợc đồng bộ hóa thêm
một bớc. Công tác chỉ đạo, điều chỉnh của Chính phủ, các ngành, các cấp có
tiến bộ. Bám sát kịp thời những biến động bất thờng trong tình hình kinh tế -
xã hội.

Một số mặt tồn tại và yếu kém của Đảng- Nhà nớc ta xuất
phát từ các nguyên nhân sau:
Công tác dự báo có cố gắng nhng cũng có nhiều thiếu sót là
một trong những nguyên nhân dẫn đến cơ cấu đầu t kém hiệu quả. Khó khăn
ngày càng tồn đọng là áp lực đè nặng lên sự phát triển.
Các chính sách, cơ chế đợc ban hành cha thực sự đồng bộ,

Với những tiên đề tiền lệ đó Đảng ta có những chính sách,
chủ trơng gì để phát triển đất nớc trong thời kì đổi mới ?

Một trong những chính sách và chủ trơng lớn của Đảng, của
Nhà nớc là: ta tiếp tục nghiên cứu:

2.Đờng lối lãnh đạo của Đảng.
Tiểu luận triết
Với chủ trơng "''Nâng cao chất lợng và hiệu quả hoạt động
của hệ thống ngân hàng ở nớc ta'', Đảng ta đã vận dụng linh hoạt học thuyết
hình thái kinh tế-xã hội vào thực tiễn và lý luận nhằm phát triển nền kinh tế
nớc ta.
2.1 Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở việt nam

Những nhợc điểm và sai lầm của cơ chế quản lý kinh tế theo
mô hình kinh tế hóa tập trung thật ra đã đợc Đảng và Nhà nớc ta phát hiện từ
lâu. Ngay từ 1972 Hội nghị TW Lần thứ 20( khóa III )đã dề ra Xóa bỏ lối
quản lý hành chính cung cấp. Đặc biệt từ sau khi thống nhất đất nớc, những
ý đồ chủ quan , duy ý chí , muốn áp đặt cơ chế quản lý tập trung quan liêu
bao cấp trên cả nớc đã gặp không ít những phản ánh từ cơ sở ,địa phơng ,
nhất là ở các tỉnh miền Nam. Các cấp lãnh đạo của Đảng và nhà nớc, các nhà
nghiên cứu và quả lý kinh tế đều nhận thức đợc rằng trong suốt một thời gian
quá dài chúng ta điều hành nền kinh tế chỉ bằng những mệnh lệnh hành
chính ,bằng bằng những Nghị quyết của Đảng là chủ yếu mà không coi trọng
đầy đủ các quy luật khách quan, coi nhẹ lợi ích kinh tế, quan hệ thị trờng,
quan hệ hàng hóa tiền tệ. Chúng ta từ lâu cũng đã nhìn thấy tính chất bao cấp
tràn lan trong cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đơn thuần dựa
vào chế độ cấp phát và giao nộp, hạch toán kinh tế chỉ là giả tạo hình thức
chính vì vậy mà các cơ sở kinh doanh luôn ở trong tình thế bị gò bó, thụ
động và ỷ lại mất hết động lực kinh tế, không quan tâm tới năng suất lao

Nh vậy, quá trình đổi mới cơ chế quản lý đã tạo điều kịên cho quan hệ hàng
hóa phát sinh và phát triển tạo quá trình đổi mới hệ thống tiền tệ ,tín dụng,
Tiểu luận triết
ngân hàng. Nhng ngợc lại quá trình đổi mới hệ thống tiền tệ, tín dụng, ngân
hàng lại đóng vai trò bà đỡ trong tiến trình đối mới kinh tế.
Chính vì vậy, trong điều kiện kinh tế của ta hiện nay, nh
trong nhiều Nghị quyết của Đảng đã đánh giá, còn ở trong tình trạng phân
tán, chia cắt, cơ chế thị trờng đang ở dạng hoang sơ , quá trình đổi mới kinh
tế còn phải tiến hành trong một thời gian tơng đối dài mới trở nên tơng đối
hoàn chỉnh, quá trình đổi mới hệ thống tiền tệ tín dụng, ngân hàng nhất thiết
phải đợc coi nh một khâu quan trọng và có ý nghĩa quyết định trong công
cuộc đổi mới cơ chế kế hoạch và quản lý kinh tế trong giai đoạn hiện nay.
Ngân hàng phải thực sự là một tác nhân thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hoàn
thiện cơ chế thị trờng hội nhập vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới, thực
sự là bà đỡ của tiến trình đổi mới kinh tế theo những định hớng mà Đảng
đã đề ra.
2.3. Tiếp tục đổi mới và chấn chỉnh hệ thống ngân hàng

Trong nhiệm vụ chấn chỉnh và lành mạnh hóa hệ thống
ngân hàng, cùng với việc xúc tiến mạnh hơn các biện pháp theo chơng trình
đã đề ra, cần giả quyết vấn đề bức xúc hiện nay là tỉ lệ quá cao của nợ quá
hạn đang gây ách tắc, ứ đọng vốn trong hoạt động tín dụng. Giải pháp cơ bản
và lâu dài là đổi mới cơ chế lãi suất, đồng thời đòi hỏi các doanh nghiệp phải
làm ăn có lãi, trả đợc nợ, nếu mất khả năng thanh tóan thì áp dụng luật phá
sản, kể cả với doanh nghiệp nhà nớc. Hệ thống ngân hàng thơng mại mà hạt
nhân là các ngân hàng phải đợc chấn chỉnh và tổ chức lại để kinh doanh có
hiệu quả, thực hiện đầy đủ quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động
tín dụng, chấm dứt việc ngân hàng thơng mại cho vay cho vay theo lệnh
Tiểu luận triết
hành chính. Chính phủ tạo nguồn vốn để hỗ trợ việc giải quyết các khoản nợ

2.4.4. Các công cụ thực hiện cải tổ:
Mục tiêu cải tổ tài chính nhằm phục hồi khả năng thanh
toán của các ngân hàng bằng cách lành mạnh hóa bảng cân đối tài sản và báo
cáo thu nhập để đảm bảo các tiêu chuẩn về vốn, khả năng sinh lời, tăng cờng
khả năng thanh toán, quản lý rủi ro.
3/ ý nghĩa rút ra đối với bản thân:
Nhận thức đợc vai trò to lớn của hoạt động đổi mới hệ
thống ngân hàng Đảng và Nhà nớc ta luôn ra sức phát triển và xây dựng,
nhằm phục vụ lý tởng xã hội chủ nghĩa cao cả là: Vì con ngời, do con ngời.
Chính vì lẽ đó phát huy nhân tố con ngời, luôn là mục tiêu hàng đầu và thiết
thực nhất. Đảng và Nhà nớc ta đã luôn cố gắng không mệt mỏi để đấu tranh
Tiểu luận triết
vì nhân quyền và nhân lợi đi đôi với giáo dục đào tạo vì một tơng lai tơi sáng
hơn.
Là một sinh viên khoa Ngân Hàng Tài Chính, KTQD,
em hiểu ý nghĩa của học thuết kinh tế-xã hội có tác dụng nh thế nào đối với
bản thân và luôn tự nhủ mình phải làm gì để học thuyết hình thái kinh tế - xã
hội đi sâu hơn vào cuộc sống.
Sống và học tập dới mái trờng xã hội chủ nghĩa, mỗi
sinh viên chúng ta đợc thừa hởng những thành quả to lớn mà chế độ đã mang
tới. Đó là một cơ sở hạ tầng tơng đối hoàn chỉnh với một hệ thống trờng lớp
từ thấp đến cao. Cộng với một đội ngũ thầy cô giáo đợc đào tạo căn bản và
chuyên sâu là một nguồn tài sản vô giá của quốc gia bởi nguồn nhân lực của
một nớc mạnh hay yếu là phụ thuộc vào giáo dục và đào tạo.
Thoát khỏi các cuộc chiến tranh liên miên, đặc biệt là
sau chiến thắng năm 1975 cả nớc ta đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa với
một cơ sở hạ tầng bị tàn phá gần hết. Nhng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
chúng ta từng bớc xây dựng lại đất nớc: " Đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" theo
nh mong muốn của Bác và toàn thể mọi ngời dân Việt Nam.
Đợc thừa hởng thành quả to lớn mà Đảng đã mang lại cho

đề môi sinh môi trờng và đặc biệt là hòa bình và ổn định thế giới, ổn định
trong nớc. Nhng chúng ta tin rằng với chủ trơng và đờng lối chíng sách của
Đảng, mọi vấn đề sẽ đợc giải quyết, tạo mọi hành lang pháp lý thuận lợi cho
cả xã hội phát triển.
Tiểu luận triết
c. kết luận.

Thực tế đã khẳng định rằng, cho đến nay học thuyết
của Mác về hình thái kinh tế -xã hội vẫn là quan niệm duy nhất khoa học và
cách mạng để nghiên cứu phân tích lịch sử và nhận thức các vấn đề trong xã
hội . Bởi vì học thuyết đó đòi hỏi phải phân tích sự phát triển của các xã hội
nh một quá trình lịch tổng hợp các nhân tố và quy luật khách quan, nó là cơ
sở phơng pháp luận của sự phân tích khoa học về xã hội, là hòn đá tảng của
khoa học xã hội. Là nguyên lý để nớc ta áp dụng vào phát triển kinh tế.
Phát triển kinh tế không những là đòi hỏi cho mỗi Đảng mỗi
Nhà nớc mà còn là nhiệm vụ trọng tâm của toàn xã hội. Nớc ta dới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam "Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ
Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động " đã lãnh đạo nhân dân ta đi từ
thắng lợi này đến thắng lợi khác, đi từ khó khăn ban đầu đến vẻ vang độc lập
nh ngày hôm nay.
Dới ánh sáng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta với t cách là thành
viên của giai cấp vô sản trên thế giới đã đồng tâm, đồng sức cùng với nhân
dân cả nớc, nhân dân tiến bộ trên thế giới mãi mãi dơng cao ngọn cờ cách
mạng phấn đấu không mệt mỏi vì ''Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng và
văn minh ".
Cùng với các chủ trơng đờng lối chíng sách phát triển kinh tế
đất nớc, Đảng luôn ra sức để phát huy nhân tố con ngời là yếu tố quyết định
cho sự tồn tại của đất nớc.
Tiểu luận triết
Trong sự nghiệp đổi mới của Đảng hiện nay, Đất nớc ta đã đạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status