Luận văn thạc sỹ "Nghiên cứu hiện trạng tài nguyên cây gỗ bộ đậu và giải pháp bảo tồn, phát triển một số loài cây chủ yếu ở tỉnh Quảng trị" - Pdf 25

LỜI CAM ĐOAN
Tôi Lê Công Định, sinh ngày 6 tháng 2 năm 1982 tại Quảng Bình, xin cam
đoan luận văn thạc sỹ mang tên “Nghiên cứu hiện trạng tài nguyên cây gỗ bộ Đậu và
giải pháp bảo tồn, phát triển một số loài cây chủ yếu ở tỉnh Quảng Trị” là công trình
nghiên cứu của bản thân tôi.
Tôi xin cam đoan đề tài này là của tôi, các kết quả phân tích nêu trong đề tài là
khách quan, trung thực và chưa được công bố. Nếu có thừa kế kết quả nghiên cứu của
người khác thì đều được trích dẫn rõ nguồn gốc.
Huế, ngày 26 tháng 7 năm 2014
Người cam đoan
Lê Công Định
i
LỜI CẢM ƠN
Đề tài luận văn cao học “Nghiên cứu hiện trạng tài nguyên cây gỗ bộ Đậu
và giải pháp bảo tồn, phát triển một số loài cây chủ yếu ở tỉnh Quảng Trị” đến nay
đã hoàn thành.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Trần Minh Đức - giáo
viên Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Huế đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo và các đồng nghiệp Trung tâm
Khoa học Lâm nghiệp Bắc Trung Bộ, cán bộ Trung tâm Điều tra Quy hoạch Thiết kế
Nông - Lâm tỉnh Quảng Trị, Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị, hạt Kiểm lâm các huyện
Hướng Hóa, Đakrông, Cam Lộ, Vĩnh Linh, phòng Bảo tồn, phòng Quản lý Bảo vệ
rừng, các Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Bắc Hướng Hóa, Đakrông, Khu Bảo vệ cảnh
quan đường Hồ Chí Minh, các Kiểm lâm địa bàn và các hộ dân đã nhiệt tình giúp đỡ
để tôi hoàn thành đề tài này.
Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo,
bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ nhiệt tình và động viên tôi trong quá trình
thực hiện đề tài.
Do điều kiện hạn chế về thời gian và kinh phí, địa bàn nghiên cứu rộng, kinh
nghiệm còn thiếu nên chắc chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong

1.6. Những nghiên cứu về các loài cây thuộc bộ Đậu 27
1.7. Các loài thực vật quý hiếm thuộc đối tượng nghiên cứu 30
Chương 2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1. Mục tiêu cụ thể 34
2.2. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 34
iii
2.3. Nội dung nghiên cứu 34
2.4. Phương pháp nghiên cứu 35
2.4.1. Thu thập số liệu nghiên cứu 35
2.4.2. Phương pháp điều tra chuyên ngành ở thực địa 36
2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu 37
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1. Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Trị 38
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 38
3.1.2. Kinh tế - xã hội 44
3.1.3. Truyền thống văn hóa - tập quán sử dụng tài nguyên rừng 45
3.2. Thành phần loài thực vật thuộc bộ Đậu theo địa phương và tiểu vùng sinh thái 47
3.2.1. Thành phần loài thực vật thân gỗ bộ Đậu tỉnh Quảng Trị 47
3.2.2. Nguồn gốc và phân bố các loài theo vùng sinh thái 51
3.3. Giá trị và công dụng các loài cây gỗ bản địa bộ Đậu 52
3.3.1. Giá trị bảo tồn 52
3.3.2. Giá trị sử dụng 53
3.4. Phân bố, hiện trạng và tình hình gây trồng các loài thực vật quý, hiếm, có giá trị
thuộc bộ Đậu 58
3.4.1. Phân bố và hiện trạng các loài thực vật quý, hiếm, có giá trị thuộc bộ Đậu 58
3.4.2. Tình hình gây trồng các loại cây gỗ bộ Đậu 67
3.5. Hiện trạng quản lý bảo tồn và phát triển các loài trên địa bàn tỉnh Quảng Trị 71
3.5.1. Các văn bản chính sách 71
3.5.2. Công tác thừa hành pháp luật của lực lượng kiểm lâm tỉnh Quảng Trị 82
3.5.3. Những kết quả và tồn tại trong công tác bảo tồn và phát triển các loài 84

EN Loài nguy cấp (Endangered)
GMS Greater Mekong Subregion
IA Thực vật rừng của nhóm nghiêm cấm khai thác sử dụng
IIA Thực vật rừng của nhóm hạn chế khai thác và sử dụng
IUCN International Union for the Conservation of Nature
LR Loài ít nguy cấp (Lower risk)
NĐ32 Nghị định 32/2006NĐ-CP
NE Không đánh giá (Not evaluated)
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NXB Nhà xuất bản
PCCCR Phòng cháy, chữa cháy rừng
QPPL Quy phạm pháp luật
SĐVN Sách đỏ Việt Nam
UBND Ủy ban nhân dân
UNCED United Nations Conference on Environment and Development
UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
VQG Vườn quốc gia
VU Loài sẽ nguy cấp (Vulnerable)
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
vii
DANH MỤC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ
viii
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nằm ở vùng Đông Nam châu Á với diện tích khoảng 330.541 km
2
, Việt Nam là
một trong 16 nước có tính ĐDSH cao trên thế giới [4]. Đặc điểm về vị trí địa lý, địa

cochinchinensis), Cẩm lai (D. oliveri), Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus), Gụ
2
lau (Sindora tonkinensis), Gụ mật (Sindora siamensis), Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), Lim
xanh (Erythrophloeum fordii)
Nhiều loài thuộc bộ Đậu có giá trị kinh tế cao được bán theo kilôgam như Sưa
(Delbergia tonkinensis), Trắc (Delbergia cochinchinesis), Cẩm lai (Dalbergia oliveri)
và Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus). Ngoài ra, còn nhiều loài cho gỗ tốt được
sử dụng trong xây dựng và đồ mộc đang bị khai thác nghiêm trọng sẽ dẫn đến tuyệt
chủng trong tự nhiên như: Lim xanh (Erythrophleum fordii), Gõ đỏ (Afzelia
xylocarpa), Gụ mật (Sindora siamensis), Gụ lau (Sindora tonkinensis) [6].
Quảng Trị là một tỉnh thuộc phía Nam khu vực Bắc Trung Bộ, cũng là một
trong những nơi có sự giao lưu giữa hai khu hệ thực vật Bắc và Nam Trường Sơn. Do
vậy, ở đây có tính đa dạng cao về thực vật rừng, trong đó có các loài cây gỗ thuộc
nhiều bộ, họ khác nhau, đặc biệt là bộ Đậu (Fabales).
Qua khảo sát sơ bộ và các tài liệu nghiên cứu cho thấy tại Quảng Trị có nhiều
loài cây gỗ quý hiếm thuộc bộ Đậu như: Gụ lau (Sindora tonkinensis), Sưa (Delbergia
tonkinensis), Trắc (Delbergia cochinchinesis), Lim xanh (Erythrophleum fordii), Gõ
đỏ (Afzelia xylocarpa) mọc tự nhiên hoặc được gây trồng ở các quy mô và địa
phương khác nhau.
Hiện nay, tại Quảng Trị vẫn chưa có bất kỳ một công trình nghiên cứu chuyên
sâu nhằm đánh giá đầy đủ tiềm năng và hiện trạng các loài này cũng như các yếu tố
ảnh hưởng đến chúng để có kế hoạch quản lý bảo tồn và phát triển hợp lý. Đó là lý do
chúng tôi chọn và thực hiện đề tài “Nghiên cứu hiện trạng tài nguyên cây gỗ bộ Đậu
và giải pháp bảo tồn, phát triển một số loài cây chủ yếu ở tỉnh Quảng Trị”.
2. Mục đích nghiên cứu
Cung cấp cơ sở dữ liệu về nhóm loài và loài chủ yếu phục vụ công tác bảo tồn
và phát triển tài nguyên cây gỗ rừng tại địa phương.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a) Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu bổ sung dữ liệu khoa học cho hệ thực vật tỉnh Quảng Trị.

đỉnh về Trái đất, tên chính thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp
quốc (UNCED). Tại đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản
và phát động một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tên Chương
trình Nghị sự 21. Với sự tham gia của đại diện hơn 200 nước trên thế giới cùng một số
các tổ chức phi chính phủ, Hội nghị đã đưa ra bản Tuyên ngôn Rio về Môi trường và
Phát triển cũng như thông qua một số văn kiện như hiệp định về sự ĐDSH, bộ khung
hiệp định về sự biến đổi khí hậu, quản lý, bảo tồn rừng tự nhiên. Năm 2002, Hội nghị
thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững nhóm họp tại Johannesburg, Nam Phi là
dịp cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã làm sau 10 năm theo phương hướng
mà Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21 đã vạch ra, tiếp tục tiến hành với một
số mục tiêu được ưu tiên [61].
1.1.1. Nghiên cứu về hệ thực vật.
Từ thế kỷ XV-XVI với sự phát triển của các ngành khoa học kỹ thuật kéo theo
sự phát triển của thực vật học. Thời kỳ này diễn ra 3 sự kiện quan trọng đối với sự phát
triển của thực vật học đó là: Sự phát sinh tập Bách thảo (Herbier) thế kỷ XVI, thành
lập Vườn bách thảo (thế kỷ XV-XVI) và biên soạn cuốn “Bách khoa toàn thư về thực
vật”. Từ đây xuất hiện các công trình như của Andrea Caesalpino (1519-1603) ông
đưa ra bảng phân loại đầu tiên và đã được đánh giá cao; John Ray (1628-1705) mô tả
được gần 18.000 loài thực vật trong cuốn “Lịch sử thực vật”. Tiếp sau đó, Linnée
(1707-1778) với bảng phân loại được coi là đỉnh cao của hệ thống phân loại thực vật.
5
Ông đã đưa ra cách đặt tên bằng tiếng La tinh gồm 2 từ ghép lại mà ngày nay chúng ta
còn sử dụng và ông đưa ra hệ thống phân loại gồm 7 đơn vị: Giới, Ngành, Lớp, Bộ,
Họ, Chi, Loài [9].
Longchun và cộng sự (1993) nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái
nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã đưa ra kết luận: Khi
nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá được 19 năm thì có
60 họ, 134 chi và 167 loài [48].
Đến nay, theo số liệu của Trung tâm Giám sát Bảo tồn Thế giới (2000) trên thế
giới đã thống kê được 1.700.000 loài sinh vật, trong đó thực vật bậc cao có 250.000

nhiệt đới, Kiểu thảo nguyên ôn đới, Kiểu đầm lầy, Kiểu hoang mạc nóng và Kiểu
hoang mạc khô lạnh [46].
1.2. Nghiên cứu về thực vật ở Việt Nam
1.2.1. Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam
Một số công trình mang tính chất cơ bản và cổ điển của các tác giả là người
nước ngoài nhằm thống kê các loài thực vật Việt Nam như: J. Loureiro (1793), J.B.L.
Pierre (1880) và đến đầu thế kỷ XX có H. Lecomte và cộng sự (1907-1952). Đây là
những công trình được đánh giá là nền tảng cơ sở cho các nghiên cứu hệ thực vật Việt
Nam sau này. Để biên soạn bộ sách này, các tác giả đã thu mẫu, định tên, lập khoá mô
tả các loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương lúc bấy giờ [40].
Một số nghiên cứu về đa dạng thành phần loài: T. Pócs (1965) khi nghiên cứu
về hệ thực vật ở miền Bắc Việt Nam đã thống kê được ở miền Bắc có 5.196 loài. Phan
Kế Lộc (1969) đã thống kê lại và có bổ sung nâng số loài ở miền Bắc lên 5.609 loài,
1.660 chi và 140 họ xếp theo hệ thống của Engler [8], [40].
Thái Văn Trừng (1978) đã phân tích và cho rằng hệ thực vật Việt Nam, gồm
7.004 loài, 1850 chi, 289 họ trong đó, ngành thực vật Hạt kín chiếm ưu thế với 6.366
loài, 1.727 chi và 239 họ [46].
Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1990), thực vật rừng Việt Nam có 2.084 loài đặc
hữu chiếm 27,5% tổng số loài. Ngoài ra, hệ thực vật Việt nam còn liên hệ chặt chẽ với
3 hệ thực vật xung quanh: Hệ thực vật Malaixia - Inđônêxia, Trung Hoa và Ấn Độ -
Miến Điện [33].
Trần Đình Lý (1993) cho rằng, thực vật rừng Việt Nam rất phong phú đa dạng,
chỉ riêng ngành Khuyết thực vật (Ptesydophyta), ngành Hạt trần (Gymnospermae) và
ngành Hạt kín (Angiospermae) đã có trên 11.000 loài của trên 2.500 chi [33].
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã tổng hợp, chỉnh lý tên các loài thực vật theo hệ
thống Brummitt (1992) và đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.178 loài, 2.582
chi, 395 họ thực vật bậc cao [41].
Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang
dại có mạch, 2.010 chi, 291 họ, 733 loài cây trồng, như vậy tổng số lên tới 10.361
loài, 2.256 chi, 305 họ. Lê Trần Chấn (1999) khi nghiên cứu một số đặc điểm của

và 4 dạng lai giống tự nhiên của chi Lan hài, loài Lan hài (Paphiopedilum) và các
giống lai tự nhiên đã được biết đến một cách chắc chắn. Các tác giả đã mô tả rất chi
tiết về hình thái, sinh thái và phân bố các loài Lan hài ở Việt Nam. Mặc dù tình trạng
của các loài Lan hài hoang dại của Việt Nam là đang hay sắp bị tuyệt chủng nhưng chỉ
có 3 loài được đưa vào Sách đỏ Việt Nam (1996), đó là: P. appletonianum, P.
delenatii và P. hrsutissimum [53].
Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc, Nguyễn Đức Tố Lưu, P.I. Thomas, A.
Farjion, L. Averyanov và J. Regalado Jr. (2005) đã nghiên cứu về hiện trạng bảo tồn
các loài Thông ở Việt Nam. Công trình đã xác định được 33 loài Thông bản địa thuộc
5 họ. Trong đó có 14 loài thuộc danh sách các loài bị đe dọa tuyệt chủng trên thế giới;
29 loài được đánh giá bị đe dọa tuyệt chủng ở cấp độ quốc gia, đồng thời xác định
được danh sách 10 loài Thông ưu tiên cho công tác bảo tồn. Những mối đe dọa đối với
8
Thông Việt Nam được xác định là: Mức sử dụng không bền vững của khai thác thương
mại và khai thác tại địa phương, khai thác sản phẩm ngoài gỗ, cháy rừng, chuyển đổi
thành đất nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, lai tạp với các loài ngoại lai được nhập
nội, cùng với những vấn đề về tái sinh và di truyền đối với những quần thể nhỏ, phân
tán của những loài cây gỗ đang chịu sức ép về sinh thái [24].
Lê Ngọc Công (2004) nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống kê
được các taxon thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ, 468 chi, 654
loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây gỗ quý như: Lim, Dẻ,
Trai, Nghiến [14].
Nguyễn Thị Yến (2008) khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng
nguồn tài nguyên cây thuốc ở một số kiểu thảm thực vật tại xã Xuân Sơn, huyện Tân
Sơn, tỉnh Phú Thọ, đã thống kê được 20 loài thực vật quý hiếm, trong đó có 15 loài ở
mức sẽ nguy cấp (VU) và 5 loài ở mức nguy cấp dựa theo những thứ hạng và tiêu
chuẩn của Sách đỏ Việt Nam (2007) và IUCN (1994) [52].
Hoàng Văn Sâm và cộng sự (2009) đã công bố khu hệ thực vật ở Vườn quốc
gia Bến En với 1.389 loài của 65 chi, 173 họ. Họ đa dạng nhất là họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae) với 113 loài, bên cạnh đó có 47 họ chỉ có duy nhất một loài đại

lông, Thành ngạnh,
(4) Kiểu rú kín lá cứng, hơi khô nhiệt đới: Kiểu này ít gặp ở Việt Nam, thường
ở ven biển và Nam Trường Sơn.
+ Các kiểu rừng thưa:
(1) Kiểu rừng thưa cây lá rộng, rụng lá, khô nhiệt đới: Phân bố ở các vùng Đắc
Lắc, Thuận Hải, Buôn Ma Thuột, Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hà Tây, Hoà Bình.
(2) Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp: Phân bố ở Sơn La,
Đà Lạt.
Các kiểu rừng thưa trên chiếm một diện tích rộng ở miền Nam, có đặc điểm
chính là tầng cây gỗ thưa cây. Các loài cây chủ yếu là: Dầu, Bàng, Cẩm liên, Cà chắc,
Chiêu liêu, Sơn, Thẩu tấu lông, Me rừng
+ Các kiểu trảng, truông:
(1) Kiểu trảng cây to, cây bụi cỏ cao, khô nhiệt đới (gặp nhiều ở miền Nam, ở
miền Bắc gặp ở Hà Bắc, Lai Châu, Nghệ An, Hà Tĩnh). Đặc điểm của kiểu này là tầng
ưu thế sinh thái là tầng cỏ, trong tầng cây thì mật độ cây to, nhỏ cây bụi rất thưa thớt.
Thực vật chủ yếu là các cây thuộc các họ Lúa, họ Tuế, họ Thầu dầu, họ Trôm và họ Cỏ
lào.
(2) Kiểu truông bụi gai, hạn nhiệt đới (thường gặp ở vùng thấp và cao trung
bình) với nét đặc trưng là thành phần thực vật chủ yếu là cây bụi có gai, và thảm cỏ
thưa thớt.
10
- Nhóm các kiểu thảm vùng núi có độ cao trên 1000m (ở miền Nam) và trên
700m (ở miền Bắc) gồm:
+ Các kiểu rừng kín:
(1) Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp (thường gặp
miền Bắc);
(2) Kiểu rừng kín hỗn hợp lá rộng, lá kim, ẩm á nhiệt đới núi thấp (thường gặp
ở miền Bắc);
(3) Kiểu rừng lá kim ẩm ôn đới núi vừa (thường gặp ở vùng núi cao như dãy
Hoàng Liên Sơn, Lai Châu, Nam Trung Bộ).

Vũ Tự Lập và cộng sự (1995) cho rằng, khí hậu ảnh hưởng đến sự hình thành
và phân bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm. Dựa vào mối quan hệ giữa
hình thái thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác nhau: Kiểu rừng rậm nhiệt đới
gió mùa rụng lá; kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm thường xanh; kiểu rừng rậm nhiệt đới gió
mùa nửa rụng lá; kiểu rừng khô nhiệt đới gió mùa khô rụng lá; kiểu rừng thưa nhiệt
đới khô lá kim; kiểu sa van nhiệt đới khô; kiểu truông nhiệt đới khô; kiểu rừng nhiệt
đới trên đất đá vôi; kiểu rừng nhiệt đới trên đất mặn; kiểu rừng nhiệt đới trên đất phèn;
kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm hỗn
giao; kiểu rừng thưa á nhiệt đới hơi ẩm lá kín; kiểu rừng rêu á nhiệt đới mưa mùa; kiểu
rừng lùn đỉnh cao [29].
Lê Ngọc Công (2004) cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO (1973) đã
phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ: Rừng rậm; rừng
thưa; trảng cây bụi và trảng cỏ. Ở đây, những trạng thái thứ sinh (được hình thành do
tác động của con người như: khai thác gỗ, củi, chặt đốt rừng làm nương rẫy ) bao
gồm: trảng cỏ; trảng cây bụi và rừng thưa [14].
1.2.3. Văn bản chính sách về công tác bảo tồn đa dạng sinh học
Việt Nam đã có những cam kết và hành động cụ thể để quản lý, bảo tồn và phát
triển nguồn tài nguyên động, thực vật hoang dã. Điều này được thể hiện bằng một loạt
các văn bản, chính sách đã ra đời. Ba mốc quan trọng nhất trong lĩnh vực bảo tồn của
Việt Nam là sự ra đời của Nghị định 18/HĐBT (1992), Nghị định 48/2002/NĐ-CP
(2002) và Nghị Định 32/2006/NĐ-CP. Nghị định 18/HĐBT nhằm thực hiện Điều 19
của Luật bảo vệ rừng năm 1991. Nghị định này quy định danh mục các loài động thực
vật rừng quý hiếm cần được bảo vệ. Đây là nghị định đầu tiên có định nghĩa về các
loài quý, hiếm và các loài động vật hoang dã thông thường ở Việt Nam. Năm 2002,
Chính phủ ban hành Nghị định số 48/2002/NĐ- CP để sửa đổi, bổ sung danh mục thực
vật, động vật hoang dã quý hiếm ban hành theo Nghị định 18/HĐBT và chế độ quản lý
bảo vệ. Việc ban hành và thực hiện Nghị định này đã đem lại nhiều cơ hội tồn tại cho
nhiều loài động thực vật hoang dã. Ví dụ, trước năm 1992, nhiều loài cây lấy gỗ bị
khai thác kiệt, do không có chính sách và cơ chế quản lý, bảo vệ. Sau khi Nghị định
18/HĐBT được ban hành rất nhiều các vụ việc liên quan đến việc khai thác, buôn bán

1992, 1996 và mới nhất là năm 2007. Trong cuốn “sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)”
năm 2007 đã công bố 847 loài (thuộc 201 họ) quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần
được bảo vệ [2].
Theo nghị định 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật, động vật rừng nguy
cấp, quý, hiếm đã chia thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thành 2
nhóm [13]:
- Nhóm I: Nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những
loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc có
giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt
chủng cao. Thực vật rừng, động vật rừng nhóm I được phân thành: nhóm IA gồm các
13
loài thực vật rừng thuộc 2 ngành là: ngành Thông với 7 loài và ngành Ngọc lan với 8
loài, nhóm IB gồm các loài động vật rừng.
- Nhóm II: Hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài
thực vật rừng, động vật rừng có giá trị khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về
kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Thực vật
rừng, động vật rừng nhóm II cũng được chia thành: nhóm IIA gồm các loài thực vật
rừng thuộc 2 ngành: ngành Thông với 10 loài và ngành Ngọc lan với 27 loài, nhóm IIB
gồm các loài động vật rừng có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong
tự nhiên.
1.3. Tài nguyên cây gỗ và một số tư liệu về tiêu chuẩn phân loại gỗ tại Việt Nam
1.3.1. Tài nguyên cây gỗ rừng Việt Nam
Theo Trần Hợp, Nguyễn Bội Quỳnh (1993) dựa trên thống kê của các nhà khoa
học Pháp thì trong hệ thực vật Đông Dương nhóm cây thân gỗ chiếm khoảng 1.200
loài thuộc trên 100 họ thực vật có hạt. Trong số 1.200 loài thì chỉ có khoảng vài trăm
loài gỗ có giá trị kinh tế cao và chỉ có trên dưới 100 loài có tác dụng tạo nên các kiểu
rừng giàu với trữ lượng lớn, còn đa số mọc hỗn giao, rải rác trong các kiểu rừng khác
nhau. Các tác giả cũng đã giới thiệu một số họ thực vật có nhiều loài cây gỗ có giá trị
kinh tế cần được quan tâm quản lý và phát triển (bảng 1.1) [28].
Cũng trong cuốn sách “Cây gỗ kinh tế ở Việt Nam” các tác giả Trần Hợp và

Cây ưa sáng mọc nhanh, rải rác trong rừng, trường
cho gỗ có chất lượng trung bình (Mít, Mít nài) hay
kém (Đa, Sung, Si, Sui…)
3.Họ Sồi dẻ
(Fagaceae)
5 >100
Cây gỗ lớn, mọc rải rác trên các loại hình rừng núi,
khí hậu thiên về á nhiệt đới miền Bắc VN. Cây cho gỗ
cứng, tủy tuyến rõ, vân không rõ và dễ bị nứt nẻ,
dùng để xây dựng, đóng đồ thông thường (Cà ổi,Sồi
phảng, Dẻ cau, )
4. Họ Long não
(Lauraceae)
15 78
Đóng vai trò rất lớn trong các quần xã sinh vật rừng ở
các tỉnh phía Bắc. Cây cho gỗ tuy mềm nhưng kết cấu
mịn, đặc biệt có hương thơm (Re hương, Re gừng,
Bời lời, Long não, Pháo lái)
5. Họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae)
30 50
Cây thường mọc nhanh, tiên phong nơi đất rừng mới
phục hồi. Gỗ nhỏ dễ gia công để đóng đồ mộc thông
dụng (Sòi, Ba soi, Vạng…)
6. Họ Dầu
(Dipterocarpaceae
)
7 45
Số cá thể lớn, tập trung, chiếm ưu thế trong nhiều loại
rừng, đặc biệt là ở các tỉnh phía Nam (Kiền kiền, Sao

nhiệt đới; một số loài đã được gây trồng rộng rãi
(Thông nhựa, Thông ba lá, Thông mã vĩ).
(Nguồn: Trần Hợp, Nguyễn Bội Quỳnh, 1993)
15
1.3.2. Phân loại gỗ tại Việt Nam
Trong xã hội phong kiến khi nền kinh tế còn kém phát triển, việc phân loại gỗ
cũng mang tính chất tự phát không có những quy định mang tính pháp lý; khi đó các
sản phẩm gỗ chỉ là gỗ tròn hoặc gỗ đẽo vuông được chia thành 3 hạng là: Thiết mộc,
hồng sắc và tạp mộc [45].
- Thiết mộc với đặc tính là cứng chắc và bền lâu, hạng này còn được gọi là tứ
thiết vì dựa vào 4 loại gỗ cứng thường dùng là Đinh, Lim, Sến, Táu; các loại gỗ có
tính năng tương tự 4 loại này gồm: Trai, Nghiến, Kiền kiền, cũng được xếp vào hạng
thiết mộc;
- Hạng gỗ hồng sắc được xác định bằng một số tính chất không cụ thể, bao
gồm nhiều yếu tố khác nhau về màu sắc, độ cứng và độ bền tự nhiên ở mức độ trung
bình như các loại Dẻ, Gội, Re,
- Tạp mộc hay bạch tạp, thường là những loại gỗ có màu trắng sáng, mềm và
dễ bị sâu nấm phá hoại trong điều kiện sử dụng tự nhiên như Bồ đề, Trám, Vạng,
Trong thời kỳ Pháp thuộc, tháng 10/1921 ở Việt Nam đã có Nghị định (số
2957) quy định về phân hạng gỗ, theo đó các loại gỗ thương phẩm được xếp thành hai
hạng (nhóm): gỗ tròn và gỗ đẽo vuông, mỗi hạng gỗ lại được chia thành 5 hạng nhỏ:
Hạng gỗ quý, gồm 11 loại gỗ; Hạng nhất, gồm 17 loại gỗ; Hạng nhì, gồm 28 loại gỗ;
Hạng ba, gồm 37 loại gỗ; Hạng tư, gồm tất cả loại gỗ chưa được xếp vào các hạng trên.
Đối với mỗi hạng gỗ trên còn quy định đường kính tối thiểu của cây được chặt
và tiền bán lâm sản do người khai thác phải nộp cho nhà nước tính theo mét khối.
Sau Cách mạng tháng Tám (1945) và miền Bắc được giải phóng, ngày 1/3/1957
các Bộ Nông lâm - Tài chính đã ban hành Nghị định số 4ND/LB quy định phân chia
gỗ tròn thành 8 hạng [45]:
- Hạng 1: gồm những loại gỗ khan hiếm vì ít có trong rừng hoặc đã bị khai thác
quá nhiều. Đặc tính chủ yếu là màu gỗ đẹp, vân nhiều hoặc có hương vị đặc biệt, được

màu sắc, vân đẹp, có hương
thơm, bền
41
Lát hoa
Gụ lau
Giáng hương
Chukrasia tabularis
Sindora tonkinensis
Pterocarpus macrocarpus
II
Gỗ nặng, cứng bao gồm các
loài cây cho tỷ trọng lớn,
cường độ chịu lực cao
26
Lim xanh
Kiền kiền
Nghiến
Erythrophleum fordii
Hopea pierrei
Parapentace tonkinensis
III
Gỗ nhẹ và mềm hơn nhưng
dẻo dai, bền, chịu lực cao
thường dùng trong xây dựng,
đóng tàu thuyền
24
Chò chỉ
Cà ổi
Huỷnh
Parashorea chinensis

Ràng ràng mít
Xoan đào
Dipterocarpus tonkinensis
Ormosia balansea
Pygeum arborium
VII
Nhóm gỗ nhẹ, có sức chịu lực
kém, sức chống mối mọt thấp
46
Cao su
Trám trắng
Ươi
Hevea brasiliensis
Canarium album
Scaphyum macropodum
VIII
Nhóm gỗ nhẹ, có sức chịu lực
và khả năng chịu mối mọt rất
kém
48
Ba bét
Bồ đề
Hu đay
Mallotus cochinchinensis
Styrax tonkinensis
Trema orientalis
(Nguồn: Lê Xuân Tình, Nguyễn Đình Hưng, Nguyễn Xuân Khu, 1992)
Tháng 4/1960, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định 10-CP vạch ra
phương châm và nguyên tắc cơ bản cho nhiệm vụ quản lý sản xuất và tiêu thụ nguyên
liệu gỗ, đồng thời quy định hệ thống đầu tiên về phân loại và tiêu chuẩn hóa các sản

thuộc động A Pông ở khu BTTN Đakrông. Kiểu rừng này ít bị tác động, còn giữ được
nhiều tính chất nguyên sinh, tán rừng chia 4 tầng. Độ tàn che dao động trong khoảng
0,7-0,8; có những chỗ đạt tới 0,9. Tổ thành thực vật chủ yếu là các loài cây lá rộng
thuộc các họ Dẻ (Fagaceae), Long não (Lauraceae), Thầu dầu (Euphorbiaceae), Đậu
(Fabacea), Ngọc lan (Magnoliaceae), Sến (Sapotaceae)…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status