skkn sử dụng bài tập tình huống và câu chuyện pháp trong giảng dạy môn giáo dục công dân 12 - Pdf 25

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Nguyễn Trãi

Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG VÀ CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT
TRONG GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN 12
Người thực hiện: NGUYỄN VĂN DUYÊN
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục 
Phương pháp dạy học bộ môn GDCD 
Phương pháp giáo dục 
Lĩnh vực khác 
Có đính kèm:
 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác
Năm học: 2013 - 2014
1
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN:
1. Họ và tên: NGUYỄN VĂN DUYÊN Ngày tháng năm sinh: 02 - 11 -
1982
2. Nam, nữ: Nam
3. Địa chỉ: G15 tổ 16 khu phố 7 Long Bình, Biên Hoà, Đồng Nai
4. Điện thoại: 0613.881221- 3884351 (CQ) (NR): 0965639025
5. Fax: E-mail: [email protected]
6. Chức vụ: Giáo viên
7. Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Trãi
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO:
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân
- Năm nhận bằng: 2005

Nguyên tắc tính Đảng.
Nguyên tắc tính khoa học.
Nguyên tắc tính thực tiễn.
Trong đó nguyên tắc thực tiễn được tôi luôn chú trọng, nên tôi xin trình bày
quan điểm của mình thông qua nội dung đề tài “ sử dụng bài tập tình huống và
câu chuyện pháp luật trong giảng dạy môn GCDC 12”
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Môn GDCD lớp 12 gồm 10 bài với nội dung chủ đạo “ công dân với pháp
luật” trang bị cho học sinh kiến thức cơ bản về pháp luật, các quyền cơ bản của
công dân. Bởi vậy, việc giảng dạy của giáo viên không những gặp khó khăn về nội
dung kiến thức pháp luật khô khan, khó nhớ và khó truyền tải mà còn chú trọng
việc rèn luyện một số kỹ năng cho học sinh, nhất là kỹ năng sống, kỹ năng ứng
xử
Có thể nói, môn GDCD lớp 12 có nhiều kiến thức liên quan với cuộc sống hiện
tại cho nên việc liên hệ giữa bài học và cuộc sống thực tiễn là điều cần thiết. Để
làm được điều này buộc người thầy phải tham khảo nhiều tài liệu, tích lũy nhiều
vốn sống, có kiến thức sâu rộng và truyền đạt đến học sinh bằng niềm say mê thực
sự của mình.
3
Việc gây hứng thú, cuốn hút và làm cho học sinh yêu thích bộ môn hay không
phần chính là ở người thầy chứ không phải là nội dung chương trình, đó cũng
chính là lý do khiến bản thân tôi cố gắng trong mỗi tiết dạy để đảm bảo hiệu quả
giảng dạy và mục tiêu giáo dục đặt ra.
Tạo cho người học khả năng trình bày những điều đã học và suy nghĩ về
điều đó (diễn đạt, nhận xét).
Tạo điều kiện để người học có thể trao đổi lân nhau và trao đổi với giáo
viên.
III. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Thuận lợi
Chương trình môn Giáo dục công dân lớp 12 có nhiều nội dung phù hợp với

1.Đối với giáo viên
4
Với việc chọn đề tài trên giúp cho giáo viên tự tìm tòi học hỏi củng cố lòng
nhiệt huyết trong quá trình giảng dạy trung thành với quan điểm đường lối của
Đảng và Nhà nước.
Thực hiện tốt “nguyên tắc tính thực tiễn” sẽ giúp cho người giáo viên
không ngừng cập nhật thông tin mới nhất để lấy dẫn chứng cho từng tiết giảng của
mình, có như vậy bài giảng mới được hấp dẫn và sinh động.
2. Đối với học sinh
Cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản về pháp luật, thái độ và hành động ứng
xử đúng đắn phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Trong giai đoạn ngày nay, học sinh chú trọng học kiến thức các môn khoa học
tư nhiên, chạy theo cái mới theo xu hướng hiện đại nên một bộ phận lớn học sinh
không nắm kiến thức pháp luật cơ bản dẫn tới tình trạng vi phạm pháp luật trong
học sinh ngày gia tăng. Việc giảng dạy gắn với các bài tập tình huống giúp hình
thành cho các em thái độ và hành động đấu tranh bảo vệ cái thiện, cái đúng cái
chuẩn mực, kiên quyết đấu tranh chống lại các hiện tượng vi phạm pháp luật.
Thông qua kiến thức đã học các em biết tuyên truyền, vận động người thân, gia
đình mọi người xung quanh cùng thực hiện tốt đường lối chính sách của Đảng và
Nhà nước ta.
PHẦN B:
NỘI DUNG SÁNG KIẾN.
I. KINH NGHIỆM ÁP DỤNG:
Trong việc giảng dạy công dân 12, để gây hứng thú cho học sinh, trong từng
bài học, tiết dạy của mình người thầy cần phải đưa ra nhiều tình huống thật gần gũi
với cuộc sống để các học sinh nhận xét xử lý, lựa chọn và sau mỗi tình huống đó
giáo viên sẽ chỉ ra cho các em thấy được vấn đề đúng ở đâu và sai ở đâu có thái độ,
hành vi như thế nào cho phù hợp?
Thông qua mỗi tình huống người thầy phải giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh. Dạy theo cách này học sinh rất thích vì được “phát ngôn” trình bày, tranh

Bài 1: Pháp luật và đời sống:
Ví dụ về bài tập tình huống:
Ví dụ 1:
Pháp luật là gì? Vì sao mỗi công dân cần phải sống và làm việc theo Hiến pháp
và pháp luật?
Đề xuất trả lời:
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt
ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi
nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được bảo đảm thực hiện bằng nhà
nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích tạo lập trật tự, ổn định cho
sự phát triển xã hội.
Trong hệ thống pháp luật Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu
lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác đều phải phù hợp với Hiến pháp.
Nếu mọi công dân đều thực hiện đúng khẩu hiệu ”Sống và làm việc theo Hiến
pháp và pháp luật” thì xã hội ngày càng phát triển, cái xấu sẽ bị đẩy lùi, cuộc sống
của chúng ta ngày càng tốt đẹp hơn. Do vậy, mỗi công dân cần phải hiểu và nắm
vững các quy định của pháp luật, có nắm vững thì mới thực hiện đúng pháp luật.
Ví dụ 2: Sống với nhau được gần 10 năm, nhưng bà H luôn phải nhẫn nhục
trước ông chồng vũ phu, nóng tính và hay chửi bới, đánh đập vợ con. Sự việc gần
đây nhất, do không đồng ý trước việc bà H dồn tiền mua cho con gái một cái xe
đạp để đi học, ông P đánh bà gẫy tay. Biết chuyện, mấy chị em trong Hội liên hiệp
phụ nữ xã khuyên bà H nên biết dùng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình. Đề nghị cho biết vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội đối với
mỗi công dân?
Đề xuất trả lời:
Pháp luật có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Đối với mỗi công dân,
pháp luật là phương tiện để công dân thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp
pháp của mình.
6
Ở nước ta, các quyền con người về chính trị, kinh tế, dân sự, văn hóa và xã hội

mình.
Pháp luật hình sự Việt Nam coi tình trạng của H là không có năng lực trách
nhiệm hình sự. Cụ thể, Khoản 1, Điều 13, Bộ luật hình sự quy định: “Người thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một
bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của
mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng
biện pháp bắt buộc chữa bệnh.”
Như vậy, do H là người không có năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi trái
pháp luật do anh thực hiện không phải là vi phạm pháp luật hình sự.
Ví dụ 2:
A đi xe máy qua ngã tư đường phố thì bị một CSGT yêu cầu dừng xe và ghi
biên lai xử phạt về hành vi vượt đèn vàng. A cho rằng, hành vi của CSGT là hành
vi thưc hiện sai pháp luật, còn hành vi của mình là thực hiện đúng pháp luật.
7
Theo em, hành vi của người CSGT có đúng là hành vi thực hiện pháp luật
không ? nếu đúng thì đó là hành vi áp dụng pháp luật hay tuân thủ pháp luật ?
Hành vi vượt đèn vàng không đúng quy định của chung là hành vi gì?
Qua tình huống nay em rút ra cho mình bài học gì ?
Đề xuất trả lời:
Trên thực tế, A đã vi phạm pháp luật vì đã vượt đèn vàng không đúng quy
định của luật giao thông đường bộ. Điểm c khoản 3 Điều 10 Luật giao thông
đường bộ quy định: Tín hiệu vàng là báo sự thay đổi tín hiệu. Khi đèn vàng bật
sang, người điều khiển phương tiện phải cho xe dừng lại trước vạch dừng, trừ
trường hợp đã đi qua vạch dừng thì được đi tiếp.
Bài 3 Công dân bình đẳng trước pháp luật:
Tình huống: An và Bình là đôi bạn thân cùng thi vào một khoa của trường
Đại học sư phạm. Hai bạn có số điểm thi bằng nhau. An đã đậu nguyện vọng 1 vì
An là người dân tộc thiểu số, còn Bình thì không đậu.
Theo em, điều đó có trái với nguyên tắc: Mọi công dân đều bình đẳng trước
pháp luật không? Vì sao?

trong khuôn khổ pháp luật. Người kinh doanh phải tuân theo quy định của pháp
luật và sự quản lý của Nhà nước như phải kê khai đúng số vốn, kinh doanh đúng
ngành, mặt hàng ghi trong giấy phép, không kinh doanh những lĩnh vực mà Nhà
nước cấm như thuốc nổ, vũ khí, ma túy, mại dâm…
Ví dụ 2
Chị Lan kết hôn cùng anh Tú. Trước khi kết hôn chị Lan làm thư ký Giám đốc
công ty TNHH. Do công việc phải thường xuyên đi công tác ký kết các hợp đồng,
chị Lan ít có thời gian chăm sóc gia đình. Kết hôn được 6 tháng anh Tú yêu cầu chị
Lan phải nghỉ việc với lý do “Phụ nữ phải có trách nhiệm chăm lo cho gia đình.
Kiếm tiền là công việc của đàn ông”. Chị Lan không đồng ý nhưng anh Tú tuyên
bố trong gia đình người chồng là chủ, mọi việc vợ phải nghe và làm theo lời
chồng. Nếu chị cứ đi làm hai người sẽ chia tay. Anh Tú có quyền buộc chị Lan
phải nghỉ việc cơ quan để ở nhà phục vụ gia đình không ? Suy nghĩ của anh Tú về
quan hệ vợ chồng có đúng không? Pháp luật quy định thế nào về quyền bình đẳng
giữa vợ và chồng?
Đề xuất trả lời:
Theo các quy định của Hiến pháp và Luật hôn nhân gia đình, công dân nữ và
nam có quyền ngang nhau về mọi mặt cả trong gia đình và ngoài xã hội.
Hiến pháp năm 1992 quy định công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về
mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình, vợ chồng bình đẳng với
nhau.
Điều 64 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã quy định:
“Gia đình là tế bào của xã hội. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình. Hôn
nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình
đẳng ”
Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng được quy định trong Luật Hôn nhân và gia
đình như sau:
- Vợ chồng chung thuỷ, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng
nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Vợ
chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia

lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có nghĩa là công dân có quyền theo hoặc
không theo một tín ngưỡng hay tôn giáo nào; người đã theo một tín ngưỡng hay
một tôn giáo nào đó có quyền thôi không theo nữa, hoặc bỏ để theo tín ngưỡng, tôn
giáo khác mà không ai được cưỡng bức hoặc cản trở. Như vậy ý kiến của Nam cho
rằng một người có thể không theo một tôn giáo nào là ý kiến đúng, vì đó chính là
nội dung của quyền tự do tín ngưỡng.
Tình huống 2 :
Việt Nam có 54 dân tộc anh em và có rất nhiều tôn giáo khác nhau. Mọi tôn
giáo đều bình đẳng trước pháp luật và mọi người có quyền tự do tín ngưỡng và tôn
giáo. Hãy giải thích ý nghĩa của quyền này?
Đề xuất trả lời:
Việt Nam là đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời và là một quốc gia đa tín
ngưỡng, tôn giáo. Từ xưa đến nay, các tín ngưỡng, tôn giáo luôn chung sống hòa
hợp, gắn bó với dân tộc. Nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công
dân, ngay từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1992 đều khẳng định quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của công dân.
Điều 70 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định:
“Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn
giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín
ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín
ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính
sách của Nhà nước”.
Việc Hiến pháp, pháp luật Việt Nam ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo, quyền theo hoặc không theo tôn giáo nào của công dân, cho thấy thái độ,
quan điểm đúng đắn của Nhà nước ta về các vấn đề tín ngưỡng và tôn giáo bởi tín
ngưỡng và tôn giáo là một nhu cầu quan trọng trong đời sống tinh thần của một bộ
phận rất lớn người dân.
10
Bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản.

Tại con gà mái! ( đề xuất sử dụng trong bài 6)
Ông Nguyễn Văn Nam, khởi kiện bà Nguyễn Thị Nghiệp, yêu cầu bà Nghiệp
phải nhổ cột mốc đã cắm sang đất nhà ông. Số là ông Nam và bà Nghiệp là hai anh
em, được cha mẹ để lại cho thửa đất và hai bên đã chia đôi, cắm cọc ranh giới đất.
Ông Nam đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà Nghiệp hiện đang làm thủ
tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì xảy ra chuyện ông Nam mang cọc
sang cắm vào đất bà Nghiệp, lấn sang 20cm. Bà Nghiệp nhổ cọc và yêu cầu cắm
lại mốc cũ; ông không chịu, ra xã giải quyết ông Nam vẫn cương quyết tranh chấp;
đồng thời gửi đơn lên tòa án yêu cầu bà Nghiệp trả phần đất bị bà lấn 20cm.
Tòa xem xét hồ sơ, đo đạc thực tế; tiến hành hòa giải; sau một hồi vòng vo, tòa
án hỏi: Dù đất ông thừa, thiếu, hay đủ thì ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện?
Ông Nam: Đúng.
Tòa: Ông có thể cho biết lý do?
11
Ông Nam: Ngày 5-11-2012, bà Nghiệp mất con gà mái mà cứ quay mồm sang
hướng nhà tui chửi. Tui ghét nên khi biết bà Nghiệp muốn làm giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, tui muốn tranh chấp đất để bà Nghiệp không được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Cho bõ ghét!
Tòa: !?
Điều đáng nói là nhà ông bà này cách tòa khoảng hơn 15km, mỗi lần đến tòa
họ đều tự đạp xe đạp !
Kết thúc câu chuyện giáo viên cho HS rút ra bài học.
Câu chuyện 2:
Xin được ở tù! ( đề xuất sử dụng trong bài 2)
Một thẩm phán kể: Tôi xét xử một bị cáo nữ về tội trộm cắp tài sản. Do bị cáo
này mắc bệnh phụ nữ, cán bộ quản trại hàng ngày phải phục vụ rửa ráy, vệ sinh
cho cô ta rất khổ sở nên trước khi vào xét xử có trình bày với tôi: xin cho cô này
được cải tạo ngoài xã hội. Sau đó lãnh đạo công an huyện cũng đã đề nghị như
vậy. Những việc này, tất nhiên chỉ có ý nghĩa nội bộ. Về tính chất, mức độ phạm
tội và các tình tiết khác, cô này có thể cho hưởng án treo.

bên ngoài chỉn chu của Hải đã hớp hồn cô gái mới lớn và họ đã trải qua một cuộc
tình “sét đánh”! Những lần hẹn hò, Hải thoải mái về thời gian, vì rất rảnh rỗi. Hải
cố giấu việc mình đã có vợ con, luôn đưa Thương đi chơi xa. Mà sau mỗi chuyến
đi xa, Thương lại nghĩ Hải là người lãng mạn và cô đã trao trọn tình cảm. Ban đầu,
hai người khá hạnh phúc nhưng dần dần Thương kịp nhận ra bản tính ghen tuông
của anh ta. Cứ ngỡ đó là tình yêu nên Thương càng tỏ ra vui khi thấy Hải quan tâm
đến giờ giấc, sinh hoạt, điện thoại của mình. Mọi chuyện càng ngày càng quá đà
khi từng tin nhắn của cô cũng bị Hải đem ra luận bàn, chỉ trích.
Hải luôn kiểm tra điện thoại của cô rồi hoạnh họe đủ chuyện khi thấy có tin
nhắn lạ. Cho dù cô cố gắng giải thích thì Hải cũng nghĩ theo hướng là “Thương
khinh thường mình, muốn bắt cá hai tay”! Biết tính khí của người yêu, Thương cẩn
thận xóa hết tin nhắn mà cô cảm thấy Hải có thể nghi ngờ. Và khi kiểm tra không
thấy còn nhiều tin như trước, anh ta cũng làm ầm lên mà cho rằng “có tật giật
mình, sao tự dưng lại không có ai nhắn tin nữa”!? Thương cảm thấy lòng nguội
lạnh, ngao ngán và tìm cách tránh mặt, từ chối những chuyến đi chơi xa đầy mệt
mỏi! Mà càng tránh thì Hải càng đổ khùng! Thêm vào đó, Thương lại phát hiện ra
mối quan hệ không trong sáng của mình vì có người báo cho cô biết về bộ mặt thật
của Hải. Vì cũng muốn Hải quay về với vợ con nên Thương càng quyết tâm chia
tay. Biết ý định này của Thương, Hải cố quay về sống với vợ con mà cứ ngẩn ngơ,
nhớ tới người yêu bé nhỏ rồi đâm cáu gắt và vợ làm gì cũng không vừa ý anh ta.
Nhân lúc vợ vắng nhà, Hải điện thoại cho Thương, những mong “nối lại tình xưa”
nhưng cô quyết tâm không nghe máy.
Buồn bực! Hải rủ bạn bè đi uống bia. Uống xong, Hải tiếp tục điện thoại cho
Thương, còn cô thì vẫn nhất định không nghe điện thoại, có ý bỏ mặc cho Hải
“làm gì thì làm”! Trong lúc nóng giận, Hải chạy xe một mạch từ Dầu Tiếng về Phú
Giáo gặp Thương để nói chuyện. Trên đường đi, hắn ghé vào tiệm tạp hóa mua con
dao Thái Lan giấu sẵn trong người, với ý định là sẽ giết Thương rồi tự sát. Song
khi vừa bước vào nhà thì Hải thấy bạn trai của Thương đang ngồi đó. Máu ghen
nổi lên, thế là hắn mất hết lý trí đâm anh này bị trọng thương và do vết thương quá
nặng nên anh ấy đã không qua khỏi.

đi tắm trước, sau đó H. vào tắm và khi quay ra thấy N. nằm trên giường. Cô gái
mới lớn, phổng phao xinh đẹp, má ửng hồng vì rượu khiến cho H. nảy sinh ý định
quan hệ. H. thăm dò với những hành vi “người lớn”; lúc đầu N. còn phản đối
nhưng sau đó thì nằm im cho H. thực hiện hành vi giao cấu.
Vài ngày sau, họ lại tổ chức uống rượu. Vẫn như lần trước, H. và N. lại đến
nhà nghỉ; cả hai tiếp tục quan hệ tình dục. Lần này là do N. hoàn toàn tự nguyện,
không có sự ép buộc từ phía H. Do có tình cảm yêu thương nên những ngày sau
đó, thỉnh thoảng họ lại đưa nhau đến nhà nghỉ. Quan sát thấy việc học của N. lơ là,
gia đình gặng hỏi thì biết được toàn bộ sự thật nên đã đưa đơn tố cáo hành vi của
H. đến cơ quan công an.
Khi biết gia đình mình làm đơn thưa H., N. đã năn nỉ hết lời, khóc lóc cầu xin
“gia đình hãy tha cho anh ấy vì đây là lỗi của con, do con đồng ý chứ không ai bắt
ép gì con hết”! Thế nhưng,bà mẹ của N. thì: “Tao phải cho nó chừa, làm hại đời
con gái người ta thì tao thưa cho tới, mày còn nhỏ đừng có can dự vào”! Lúc này,
N. báo tin cho H. biết và cả hai bàn nhau bỏ trốn nhưng chẳng biết trốn đâu khi
tiền bạc thì không có, xe cộ cũng không… H. đành quay về chịu tội. Trong thời
gian này, N. cũng thất thần không kém, việc học hành sa sút hẳn. Gia đình hai bên
đều nóng ruột nhưng mọi chuyện đã đi xa, không còn cách thoái lui.
Từng câu nói của bị hại N. trước tòa khiến gia đình cả hai bên cần nhìn nhận
lại cách giáo dục con, N. khóc ròng: “Mong tòa giảm nhẹ hình phạt cho anh H. vì
thật lòng tụi con không biết rằng đây là chuyện sai trái, không nghĩ rồi sẽ bị bắt
như thế này. Mỗi khi con hỏi cha mẹ về chuyện nam nữ thì họ cứ gạt phăng đi, nên
con tò mò và cứ vậy mà quan hệ với nhau…”!
Mẹ H. thì ứa nước mắt khi thấy con trai của mình rơi vào tình cảnh này. Trước
khi bị bắt, H. là học sinh khá giỏi của trường. Bà biết con mình cũng có quen nhiều
14
bạn gái nên bà luôn nhắc chừng con “phải lo chuyện học” nhưng không khuyên răn
giữ gìn chuyện quan hệ nam nữ; bởi ngay cả bà cũng không biết rằng việc quan hệ
với trẻ dưới 16 tuổi là vi phạm pháp luật. Đến khi công an đến làm việc thì gia
đình bà mới than trời! Việc làm ăn đã khiến họ không dành nhiều thời gian tiếp cận

Kha cũng nghĩ theo hướng tiêu cực là “vợ khinh thường mình nên… ngoại tình”!
Biết tính khí của chồng, chị Dung cẩn thận xóa hết tin nhắn mà chị cảm thấy chồng
có thể nghi ngờ. Khi không còn thấy tin nhắn, anh ta cũng làm ầm lên cho rằng
“chị có tật giật mình”. Kha bỏ về nhà mẹ ruột ở Dĩ An nhưng một phần vì… nhớ
vợ, một phần vì muốn làm hòa trước nên Kha nhiều lần điện thoại cho vợ, nhưng
chị Dung thì vẫn còn giận nên cố tình không nghe điện thoại.
Buồn! Kha rủ một số bạn đi uống bia. Uống xong, Kha tiếp tục điện thoại cho
vợ, còn chị Dung vẫn nhất định không nghe để Kha muốn làm gì thì làm. Bực tức,
Kha đến nhà gặp vợ và vào thăm con. Lúc này, Kha vẫn bình tĩnh hỏi vợ sao
không nghe điện thoại, chị Dung thì ngang bướng trả lời rằng: “Vì không thích
15
nghe, vậy thôi cũng hỏi!”. Lòng dạ Kha như đang sôi sục khi nghe câu trả lời nhát
gừng của vợ. Cùng lúc này, chị Hoa chủ nhà nghe tiếng cãi nhau nên can ngăn.
Thấy hai người gây nhau suốt ngày, chị này buông một câu: “Nếu không ở với
nhau được thì thôi nhau đi!”. Nghe nói vậy, cơn tức giận bùng lên, Kha chạy đến
kệ bếp lấy một con dao Thái Lan đâm nhiều nhát vào người vợ và nói: “Không thôi
gì hết, chết chung cho phải đạo vợ chồng”.
Nghe tiếng la của chị Dung, chị Hoa và mọi người cùng dãy nhà trọ chạy đến
để can ngăn. Đến khi nhiều người lao vào khống chế thì hắn mới chịu ngừng tay.
Lúc này, chị Dung đã gục ngã với con dao còn cắm trên người. Hắn toan bỏ chạy
nhưng bị mọi người đuổi theo bắt được và báo cho công an đến lập biên bản phạm
tội quả tang. Vì bị thương tích nặng nên chị Dung đã không qua khỏi.
Nghe tòa tuyên án, hắn khóc như chưa bao giờ được khóc, mọi người đều cảm
nhận được sự ăn năn, hối hận đang ngày ngày dày vò lương tâm hắn trong suốt
quãng đời còn lại…!
Câu chuyện 6: ( đề xuất sử dụng trong bài 4)
Đạo vợ chồng
Lư phu nhân, vợ ông Huyền Linh là người tuyệt đẹp và có đức hạnh.
Ông lúc tuổi trẻ hàn vi lắm. Một khi ốm nặng tưởng đã sắp chết, ông gọi Lư thị
đến bảo rằng:

những thoát khỏi cái nạn “đa nhân duyên nhiều đường phiền não” mà còn gây
được cái hạnh phúc lâu dài cho thân, cho gia đình, cho con cháu sau nữa.
Câu chuyện 7:
Không quên được cái cũ ( đề xuất sử dụng trong bài 1 )
Đức Khổng Tử ra chơi ngoài đồng, thấy một người đàn bà đứng khóc nỉ non ở chỗ
bờ đầm, Đức Khổng Tử lấy làm lạ, bảo học trò hỏi vì cớ gì mà khóc.
Người đàn bà nói: "Độ trước tôi cắt cỏ thi, tôi đánh mất cái trâm cài đầu bằng cỏ
thi, cho nên tôi khóc."
Đức Khổng Tử hỏi: "Đi cắt cỏ thi, mà mất cái trâm làm bằng cỏ thi thì việc gì phải
khóc?"
Người đàn bà nói: "Không phải vì tôi đánh mất cái trâm cỏ thi mà tôi khóc; tôi sở
dĩ khóc là tôi thương tiếc một vật cũ, dùng đã lâu, mà ngày nay không sao thấy
được nữa."
Lời Bàn:
Cái gì đã là của mình, mình có bụng yêu, mà lỡ khi đánh mất, thì về sau dù có
được cái khác giống như thế, hay hơn thế mình cũng không thể nào yêu cho bằng.
Thường, lại chỉ vì thấy cái mới mà hồi nhớ lại cái cũ, sinh ra chạnh lòng, nên câu
ta thán, có khi ngậm ngùi thương khóc nỉ non. Tại sao vậy? Tại đối với mình, cái
của mất không chỉ có giá của mà thôi, lại hình như còn có một phần tâm hồn mình
hay tâm hồn người để lại cho mình ngụ ở trong nữa. Sự cảm động đầu tiên bao giờ
cũng là sự cảm động hay nhất, bền nhất. Ôi! Cáo chết ba năm quay đầu về núi, con
người ta, dù cho lông bông phiêu bạt đến thế nào, còn có chút tâm tình cũng không
quên được gốc tích xứ sở mình. "Hồ mã tê bắc phong, Việt Điểu sào chi nam". Con
ngựa rợ Hồ (phía bắc nước Tàu) thấy gió bắc còn cất tiếng kêu, con chim đất Việt
(phía Nam nước Tàu) chọn cành nam mới chịu làm tổ, huống chi là người mà lại
quên được nguồn gốc ư?
Câu chuyện 8:
Ngọc ở trong đá ( đề xuất sử dụng trong bài 6)
Một người thợ ngọc qua hàng thợ đá, vào xem các thứ đá, thấy một tảng trong có
ngọc, mua về, đẽo ra quả nhiên được ngọc. Ngọc ấy trắng nuốt và có gân đỏ, quý

Ủng hộ
pp dạy học
tình huống
Không ủng hộ pp
dạy học tình huống
không
có ý kiến
12A2 42 38 90.4% 0 4
9.5%
12A3 45 40 88.8% 0 5
11.1%
12A4 45 39 86.6% 0 6
13.3%
12A6 45 40 88.8% 0 5
11.1%
III .KẾT QUẢ THỰC HIỆN
1- Kết quả thực tiễn:
Dạy học tình huống là một trong những phương pháp giảng dạy hiệu quả nhằm
khơi dậy sự nhiệt tình của HS, khuyến khích HS tham gia bài học một cách sôi nổi,
chủ động. Ngoài ra HS cũng tập phản ứng với những tình huống phức tạp và “có
thật” sẽ gặp trong cuộc sống sau này.Cụ thề là:
- Khả năng hoà nhập, kĩ năng giao tiếp tốt hơn.
- Khả năng vận dụng kiến thức.
- Kết quả và thành tích học tập cao hơn:
+ Kiến thức của HS không bị bó hẹp ở lí luận mà còn mang tính thực tiễn.
+ Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được vận
dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống.
18
2- Bài học kinh nghiệm:
Để tổ chức dạy học có hiệu quả, có nhiều phương tiện giúp giáo viên kích

Xin chân thành cảm ơn!
Biên Hòa, ngày 20 tháng 04 năm 2014
NGƯỜI VIẾT
NGUYỄN VĂN DUYÊN
19
MỤC LỤC
NỘI DUNG Trang
ĐỀ TÀI Sử dụng bài tập tình huống và câu chuyện pháp luật
trong giảng dạy GDCD 12
0
PHẦN A: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 3
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
II/ CƠ SỞ LÝ LUẬN
III/ CƠ SỞ THỰC TIỄN
PHẦN B : NỘI DUNG SÁNG KIẾN 5
I. KINH NGHIỆM ÁP DỤNG
II.CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1.Giáo viên phải hiểu rõ thế nào là sử dụng tình huống trong
giảng dạy
6
2.Cách thức sử dụng tình huống pháp luật
3.Ngoài sử dụng tình huống pháp luật. Giáo viên nên sưu tầm
những câu chuyện liên quan pháp luật phụ trợ cho bài giảng
11
4.Khảo sát và kiểm chứng:
III- KẾT QUẢ THỰC HIỆN 18
1. Kết quả thực tiễn
2. Bài học kinh nghiệm
IV- KẾT LUẬN 19
MỤC LỤC

- Có giải pháp hoàn toàn mới 
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có 
2. Hiệu quả:
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao 
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng tại đơn vị có hiệu quả 
3. Khả năng áp dụng:
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính
sách:
Tốt  Khá  Đạt 
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực
hiện và dễ đi vào cuộc sống:
Tốt  Khá  Đạt 
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt
hiệu quả trong phạm vi rộng:
Tốt  Khá  Đạt 
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status