SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT ĐỒNG NAI
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ÁP DỤNG NGÔN NGỮ KÍ HIỆU
VÀO GIẢNG DẠY BỘ MÔN ĐỊA LÍ LỚP 6
CHO HỌC SINH KHIẾM THÍNH
Người thực hiện: LÊ THANH HƯƠNG
Lĩnh vực/ Môn nghiên cứu:
- Giáo dục Khuyết tật: Địa lí
Có đính kèm:
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2013 - 2014
1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT ĐỒNG NAI
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ÁP DỤNG NGÔN NGỮ KÍ HIỆU
VÀO GIẢNG DẠY BỘ MÔN ĐỊA LÍ LỚP 6
CHO HỌC SINH KHIẾM THÍNH
Người thực hiện: LÊ THANH HƯƠNG
Lĩnh vực/ Môn nghiên cứu:
- Giáo dục Khuyết tật: Địa lí
Có đính kèm:
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2013 - 2014
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: LÊ THANH HƯƠNG
2. Ngày tháng năm sinh: 20/10/1979
bàn tay, kết hợp cử chỉ điệu bộ, nét mặt. Đó là những kinh nghiệm cũng như sự
đúc kết chắt lọc để nhằm giúp các em học tốt phân môn Địa lý lớp 6. Ngày nay
cộng đồng người Điếc Việt Nam ngày càng phát triển, nhu cầu của người điếc
cũng không khác so với người bình thường, việc học, tiếp thu tri thức là rất cần
thiết đối với các em. Nhưng trong thực tế việc tiếp thu tri thức đối với các em hoc
sinh khiếm thính rất khó vì tất cả các tài liệu, sách vở đều là ngôn ngữ viết và đây
cũng là điểm hạn chế của các em học sinh khiếm thính. Vì vậy khi viết đề tài sáng
kiến kinh nghiệm này với việc dùng ngôn ngữ kí hiệu của cộng đồng người Điếc,
tôi cũng hy vọng góp được phần nhỏ bé nhằm giúp các em học sinh khiếm thính
được tiếp thu kiến thức dễ dàng hơn trong quá trình học.
Trong những năm qua điều mà tôi trăn trở là làm như thế nào để học sinh
khiếm thính, những em mà khi sinh ra hoặc vì lí do nào đó dẫn đến bị khiếm
khuyết phần nghe, dẫn tới không nói được, các em sẽ được bù đắp bằng việc các
em sẽ hiểu được thầy (cô) giảng dạy thông qua ngôn ngữ của người Điếc. Vì vậy
tôi chọn đề tài “ Áp dụng ngôn ngữ kí hiệu vào giảng dạy bộ môn địa lí lớp 6 cho
học sinh khiếm thính’’ để thực hiện nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy
tại Trung tâm.
II . CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Trẻ khiếm thính
* Trẻ khiếm thính được các nhà nghiên cứu nhìn nhận ở rất nhiều góc độ khác
nhau.
- Dưới góc độ y học: Trẻ khiếm thính là những trẻ bị suy giảm một phần hay
mất hoàn toàn chức năng nghe.
- Dưới góc độ tâm lý học: Trẻ khiếm thính là những trẻ bị suy giảm sức nghe ở
nhiều góc độ khác nhau dẫn đến khó khăn trong giao tiếp và ảnh hưởng nhiều đến
quá trình nhận thức. Người ta chia ra các mức độ khiếm thính như sau:
Mức độ 1: Điếc nhẹ (20-40)dB. Trẻ nghe được hầu hết âm thanh nhưng không
nghe được tiếng nói thầm.
3
Mức độ 2: Điếc vừa (40-70)dB. Có thể nghe được những âm thanh to nhưng không
- Trẻ khiếm thính thể hiện ghi nhớ không chủ định về vị trí của các đối tượng
không thua kém trẻ bình thường.
- Trẻ ghi nhớ tư liệu bằng lời: thông qua cử chỉ điệu bộ.
2.2. Đặc điểm tưởng tượng
- Tưởng tượng là môt quá trình nhận thức cao cấp bao gồm việc biến đổi
những biều tượng và thiết lập những hình tượng mới trên cơ sở những cái đã có,
nhưng đối với trẻ khiếm thính thì khó khăn hơn để thiết lập được quá trình tưởng
tượng. + Tưởng tượng tái tạo:
Ví dụ: Trẻ khó có biểu tượng về những sự kiện, địa lý, lịch sử, …
+ Tưởng tượng sáng tạo: do sự hạn chế trong giao tiếp nên các em đã bị mất đi
một số khối lượng thông tin cần thiết vì không có những thủ thuật xây dựng các
biểu tượng mới của tưởng tượng.
4
2.3. Đặc điểm tư duy
- Tư duy là một quá trình nhận thức phức tạp, bao gồm việc phản ánh hiện thực
một cách khái quát gián tiếp, có mục đích, là quá trình tìm tòi và phát hiện cái mới.
- Tư duy trực quan bằng hành động, trực quan hình tượng có thể có, tư duy
trừu tương hoàn toàn không có do trẻ thiếu ngôn ngữ thiếu sự giáo dục đặc biệt
thiếu sự hình thành ngôn ngữ.
- Trẻ gặp nhiều khó khăn trong các thao tác tư duy.
- Khả năng giải quyết các bài tập: Trẻ gặp khó khăn trong việc vận dụng lý
thuyết để làm bài tập.
2.4. Đặc điểm ngôn ngữ
- Khi trẻ còn nhỏ thì khó phát hiện ra và khi trẻ lớn trong quá trình giao tiếp
với thế giới xung quanh thì mới nhận ra.
- Ngôn ngữ viết của trẻ mạnh hơn hoặc song song với ngôn ngữ nói.
- Sự tiếp nhận ngôn ngữ nói diễn ra chủ yếu trên cơ sở thính giác, còn sự tiếp
nhận ngôn ngữ viết thì diễn ra trên cơ sở thị giác.
- Do trẻ bị tổn thương về thính giác nên việc nghe của trẻ bị hạn chế và kho từ
vựng của trẻ không nhiều nên thường thì trẻ sử dụng ngôn ngữ kí hiệu.
- Công tác chuẩn bị bài giảng.
- Chú ý vào đặc điểm nhận thức của người học.
- Chú ý tới 5 thành tố cơ bản và quy ước chuyển động của các dấu hiệu.
- Chú ý tới đặc trưng trong ngữ pháp của ngôn ngữ kí hiệu.
2. Biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
Trong quá trình thực hiện giải pháp của đề tài cũng như trong quá trình giảng
dạy người giáo viên cần lồng ghép các phương pháp để giúp các em tiếp thu tri
thức một cách dễ dàng hiệu quả. Với đề tài này tôi xin trình bày giải pháp áp dụng
ngôn ngữ kí hiệu vào giảng dạy giúp học sinh khiếm thính tiếp thu tri thức một
cách có hiệu quả cao, từ đó xóa dần mặc cảm tự ti, rụt rè và tự tin mở rộng giao
tiếp với mọi người xung quanh, cũng như người giáo viên có điều kiện và thời gian
để mở rộng nguồn tri thức vô tận trau dồi cho học sinh.
2.1. Áp dụng Ngôn ngữ kí hiệu có chọn lọc
- Việc sử dụng ngôn ngữ kí hiệu mà nhiều người nghe thường cho rằng ngôn
ngữ kí hiệu là toàn cầu. Hay là người nghe cho rằng lịch sử và cấu trúc của ngôn
ngữ kí hiệu là tương tự với ngôn ngữ nói trong một quốc gia. Tuy nhiên, với những
bằng chứng mà tôi được biết thì tôi khẳng định rằng ngôn ngữ kí hiệu không phải
là toàn cầu bởi vì những từ vựng của ngôn ngữ kí hiệu thay đổi thậm chí trong một
đất nước Việt Nam.
- Áp dụng ngôn ngữ có chọn lọc trong quá trình giảng dạy, nhằm giúp học sinh
khiếm thính học các môn xã hội được tốt hơn đặc biệt là với môn Địa lí lớp 6.
Trong quá trình giảng dạy học sinh khiếm thính người giáo viên cần áp dụng ngôn
ngữ kí hiệu trong giải thích từ, giải thích câu, giải thích nghĩa của từ, nghĩa của
câu, đặt câu hỏi và với những từ mang tính trừu tượng.
- Ngôn ngữ kí hiệu Tp Hồ Chí Minh đặt số từ sau danh từ, trong khi ngôn ngữ
nói / viết tiếng Việt đặt số từ trước danh từ, … Trong quá trình giảng dạy cần chú
ý để áp dụng một cách phù hợp có hiệu quả.
Ví dụ: Khi giảng bài 22: Các đới khí hậu trên Trái đất (sách giáo khoa Địa lí
trang 67, địa lí 6).
+ Trong ngôn ngữ nói: 5 vành đai nhiệt.
Hoạt động 3: Bài mới: Giáo viên giới thiệu bài và nhắc các em giở sách giáo
khoa chuẩn bị đọc nội dung bài, giáo viên gọi một em đọc bài mới, em học sinh
đó với vị trí đứng trước lớp đối diện với các bạn còn lại, sách giáo khoa để trên
bàn và đọc nội dung bằng ngôn ngữ kí hiệu quy ước.
+ Sau khi em học sinh đọc xong nội dung bài thì trở về chỗ ngồi.
7
(
T
P
H
C
M
)
M
ộ
t
n
g
ó
n
t
a
y
c
h
ỉ
t
h
ẳ
n
g
r
a
v
à
t
ừ
t
ừ
c
h
u
y
ể
n
đ
ộ
n
g
m
ặ
t
THỜI TIẾT
(HN)
Bàn tay úp lại trên đầu, di chuyển lúc lắc bàn
tay, các ngón tay chuyển động để trên đâu và
di chuyển hai lần
THỜI TIẾT
+ Giáo viên tóm tắt nội dung bài cần tìm hiểu trong bài và cung cấp những từ,
câu trong bài mới mà ngôn ngữ kí hiệu quy ước trước đó chưa có, giáo viên thực
hiện lại từ 1 đến 3 lần.
+ Tìm hiểu nội dung: Giáo viên trình bày các câu hỏi bằng ngôn ngữ kí hiệu
cho các nhóm, đồng thời viết lại câu hỏi của các nhóm lên bảng. Học sinh thảo
luận, trình bày trên giấy và đại diện một thành viên trong nhóm lên trình bày bằng
ngôn ngữ kí hiệu quy ước. Các nhóm khác nhận xét nội dung bài và cách trình bày
bằng ngôn ngữ kí hiệu của nhóm trước đó. Các nhóm khác trình bày và nhận xét
bài của các nhóm, giáo viên tổng hợp ý kiến của các nhóm và kết luận.
Hoạt động 4: Củng cố: Giáo viên chuẩn xác lại nội dung bài vừa tìm hiểu, thể
hiện lại những từ, câu của ngôn ngữ kí hiệu mới trong bài và gọi một vài em trình
bày lại. Học sinh làm bài tập cá nhân trong vở bài tập, giáo viên kiểm tra lại và
sửa lỗi.
Hoạt động 5: Dặn dò: Giáo viên nhắc nhở các em về học bài và ôn lại những
ngôn ngữ kí mới vừa học nhiều lần, hoàn thành bài tập xem trước bài mới, những
từ câu nào thể hiện bằng ngôn ngữ kí hiệu chưa được thì ghi lại để chuẩn bị cho
bài mới tiếp theo.
* Lưu ý: Trong quá trình người giáo viên thực hiện một tiết dạy, ngoài nội
dung bài cần truyền đạt cho học sinh thì giáo viên cần chú ý học từ mới, câu bằng
ngữ kí hiệu mới quy ước trong bài. Được như vậy thì học sinh nắm bài tốt, tự tin,
Chuyển động lên xuống
Chuyển động qua lại hai bên
x x Tay chạm vào tay/ người
\\ // Chuyển động rung các ngón tay, bàn
tay
Chuyển động từ dưới lên hai
lần
Chuyển động từ trên xuống hai
lần
Chuyển động từ trái sang
phải, từ trong ra ngoài hai lần
Chuyển động từ phải sang
trái, từ ngoài vào trong hai lần
Chuyển động cong từ trên
xuống dưới hai lần
Chuyển động cong từ dưới
lên trên hai lần
Chuyển động tròn từ trái
sang phải hai lần
Chuyển động tròn từ phải
sang trái
Chuyển động theo dạng
sóng
Ví dụ: Minh họa cụ thề trong quá trình giảng dạy bằng ngôn ngữ kí hiệu cần
chú ý đến 5 thành tố và các quy ước chuyển động của một kí hiệu:
9
2.5. Trong quá trình giảng dạy cần nắm được và áp dụng một số đặc trưng
cơ bản trong ngữ pháp của ngôn ngữ kí hiệu
- Với câu phủ định:
+ Trong ngôn ngữ nói, các từ phủ định luôn được nói trước một động từ
học hiện nay để giúp học sinh khiếm thính tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng và
đạt hiệu quả cao hơn.
* Người giáo viên cần chú ý thực hiện một cách linh hoạt các giải pháp trong
của đề tài, việc áp dụng phải thường xuyên, liên tục, tạo thành thói quen trong
quá trình giảng dạy cũng như trong quá trình giao tiếp giữa thầy và trò, đặc biệt
người giáo viên luôn trau dồi kiến thức và cập nhật hằng ngày để phù hợp thực tế
và cũng như sự phát triển, tiến tới hòa nhập với nền văn minh của cộng đồng người
Điếc ngày một tốt hơn.
11
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Bảng so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện đề tài của lớp 6 năm học
(2013 – 2014):
Bảng 1: Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ kí hiệu trước và sau khi được áp dụng
dạy ngôn ngữ kí hiệu
(số liệu lấy từ kết quả học tập của học sinh lớp 6 năm học 2013 – 2014)
STT Họ và tên học sinh
Trước khi áp
dụng ngôn ngữ kí
hiệu
(%)
Sau khi áp
dụng ngôn ngữ
kí hiệu
(%)
1 Trần Hải Hà Anh 50 80
2 Thòng Minh Chánh 40 85
3 Nguyễn Hữu Đức 30 70
4 Tăng Thế Giang 30 70
5 Hoàng Thị Liên 50 80
năm dạy trẻ khiếm thính ở cấp Trung học cơ sở cũng như ở lớp 6 với bộ môn Địa
lý tôi thấy được việc áp dụng ngôn ngữ kí hiệu vào giảng dạy là vô cùng quan
trọng nó giúp việc tiếp thu kiến thức, truyền thụ tri thức được dễ dàng hơn, ngoài
ra việc sử dụng ngôn ngữ kí hiệu còn giúp người giáo viên có điều kiện và thời
gian để mở rộng kiến thức, trau dồi tri thức cho học sinh, …. Bên cạnh đó, việc áp
dụng ngôn ngữ kí hiệu vào giảng dạy còn là cơ hội giúp trẻ khiếm thính xóa dần
mặc cảm, tự ti, rụt rè và tự tin mở rộng giao tiếp với mọi người xung quanh.
- Sau nhiều năm áp dụng ngôn ngữ kí hiệu vào giảng dạy bộ môn Địa lí cho học
sinh lớp 6, tôi ghi nhận được là:
+ Học sinh tiếp nhận kiến thức một cách dễ dàng thuận lợi, trẻ có nhiều tiến
bộ hơn, nhất là giao tiếp bằng ngô ngữ kí hiệu. Trẻ đã mạnh dạn hơn không còn
nhút nhát như trước, trẻ giao tiếp với giáo viên thường xuyên hơn.
+ Giáo viên trong quá trình truyền thụ tri thức thuận tiện, học sinh hiểu bài,
trong quá trình giao tiếp được diễn ra trôi chảy không bị gián đoạn.
- Việc áp dụng ngôn ngữ kí hiệu vào giảng dạy trong bộ môn Địa lí lớp 6, 7, 8,
9 cho trẻ khiếm thính là rất cần thiết cho học sinh và cho giáo viên.
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
- Kết luận: Việc áp dụng ngôn ngữ kí hiệu vào giảng dạy bộ môn là rất cần
thiết, giúp cho các em học sinh học hứng thú, tự tin, xóa bỏ mặc cảm trong giao
tiếp với các bạn bè xung quanh và với giáo viên, giúp cho người giáo viên hiểu,
chia sẻ khó khăn của các em cũng như với phụ huynh. Giúp cho học sinh dễ dàng
hiểu nội dung bài giảng.
* Qua 6 năm giảng dạy tại Trung tâm tôi thấy việc áp dụng ngôn ngữ kí hiệu
vào giảng dạy cho học sinh khiếm thính là rất cần thiết. Vì vậy tôi mạnh dạn đề
xuất một số ý kiến sau:
- Đối với giáo viên: Trong quá trình giảng dạy cần chú ý và áp dụng ngôn ngữ
kí hiệu, thường xuyên tự trau dồi ngôn ngữ kí hiệu mới, hiểu thông cảm chia sẻ
tâm tư nguyện vọng cùng học sinh và các đồng nghiệp. Và đó là một trong các
phương pháp hiệu quả đem lại kết quả cao cho cả trò và thầy.
- Đối với phụ huynh: Phải kết hợp cùng giáo viên, bảo mẫu và Ban Giám Đốc
trường đại học sư phạm Tp HCM(2012)
Biên Hòa, ngày 17 tháng 04 năm 2014
Người thực hiện
Lê Thanh Hương
15
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TT NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Biên Hoà, ngày tháng năm 2014
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2013- 2014
Tên sáng kiến kinh nghiệm: ÁP DỤNG NGÔN NGỮ KÍ HIỆU VÀO GIẢNG DẠY BỘ MÔN
ĐỊA LÍ LỚP 6 CHO HỌC SINH KHIẾM THÍNH.
Họ và tên tác giả: LÊ THANH HƯƠNG. Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Tổ Chuyên môn (Trung học cơ sở)
Lĩnh vực/Môn nghiên cứu: Giáo dục khuyết tật
- Quản lý giáo dục - Phương pháp dạy học:
- Phương pháp giáo dục - Lĩnh vực khác:……………………………
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị Trong Ngành
1. Tính mới
- Đề ra giải pháp thay thế hoàn toàn mới, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn.
- Đề ra giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn.
- Giải pháp mới gần đây đã áp dụng tại đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở đơn vị
mình nay tác giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị.
2. Hiệu quả
- Giải pháp thay thế hoàn toàn mới, đã được thực hiện trong toàn ngành có hiệu quả
cao.
- Giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, đã được thực hiện trong toàn ngành có
hiệu quả cao.