skkn hình thành năng lực tự học cho học sinh qua dạy học bài đọc thêm ở sách giáo khoa ngữ văn lớp 10 và lớp 11 - Pdf 25

Hình thành năng lực tự học cho học sinh qua dạy học bài đọc thêm ở sách giáo khoa Ngữ văn
lớp 10 và lớp 11- GV: Nguyễn Văn Hồng, trường THPT Sông Ray, Cẩm Mỹ, Đồng Nai.
HÌNH THÀNH NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC
BÀI ĐỌC THÊM Ở SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP 10 VÀ LỚP 11
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chúng ta đang sống trong một xã hội bùng nổ của tri thức khoa học và công
nghệ. Tốc độ thông tin diễn ra vô cùng nhanh chóng, nhu cầu luân chuyển tri thức
phong phú, đa dạng, nhiều chiều. Ở những năm cuối thập kỉ XX “Tạp chí khoa học
thế giới” đã công bố: trong năm 1997 mỗi ngày trên toàn thế giới có khoảng 2400
phát minh. Người ta ước tính sau khoảng một thập kỉ khối lượng thông tin lại tăng
gấp đôi. Thông tin lí thuyết và thông tin ứng dụng phát triển song song thâm nhập
nhanh chóng vào mọi lĩnh vực của sản xuất và đời sống, trở thành một sức mạnh to
lớn trong tương lai. Sự biến động mau lẹ đó của khoa học kỹ thuật, đòi hỏi ngành GD
- ĐT (Giáo dục – Đào tạo) phải nhanh chóng đổi mới mục tiêu, nội dung và phương
pháp dạy học phù hợp với thực tiễn, đào tạo cho thế hệ trẻ có được những năng lực
mới đủ khả năng đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ mà đời sống xã hội đang đặt ra.
Khoa học công nghệ thông tin phát triển tạo ra những phương tiện, phương
pháp giao lưu mới, mở rộng khả năng tự học, tạo cơ hội cho mỗi người có thể tiếp
cận trí thức dưới nhiều hình thức khác nhau theo khả năng và điều kiện cho phép.
Giáo dục nhà trường không còn là nguồn duy nhất đem đến cho HS (học sinh) những
thông tin mới, đa dạng và phong phú của loài người. Bên cạnh đó, việc dạy học theo
quan điểm mới hiện nay không cho phép chúng ta tiếp tục đơn điệu với các phương
pháp dạy học thụ động một chiều. Cái quan trọng hơn, kịp thời hơn là trang bị cho
HS một hệ thống kỹ năng, kỹ xảo, một quan điểm đúng đắn về tự học, một hệ thống
phương pháp dạy tự học.
Bồi dưỡng năng lực tự học cho HS là việc làm rất quan trọng và cần thiết trong
điều kiện hiện nay. Có thể khẳng định, thời gian tự học là lúc HS có điều kiện tự
nghiền ngẫm vấn đề học tập theo một yêu cầu, phong cách riêng và với tốc độ thích
hợp, điều đó không chỉ giúp các em nắm vấn đề một cách chắc chắn và bền vững mà
còn là dịp tốt để các em rèn luyện ý chí và năng lực hoạt động sáng tạo. Đây là những
phẩm chất mà không ai cung cấp được nếu các em không thông qua hoạt động bản

phục, vì nó chính là một trong những nguyên nhân tạo nên sức ỳ, thói quen xấu dẫn
đến giảm sút chất lượng dạy học văn ở trường THPT hiện nay.
Vì những lí do thực tế nêu trên, chúng tôi mạnh dạn đề xuất nghiên cứu đề tài: Hình
thành năng lực tự học cho học sinh qua dạy học bài đọc thêm ở sách giáo khoa
Ngữ văn lớp 10 và lớp 11 với mong muốn sẽ đề xuất được các biện pháp sư phạm để
góp phần nâng cao hiệu quả trong giờ dạy học bài đọc thêm nói riêng và dạy học Ngữ
văn nói chung.
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lí luận
1.1. Quan niệm về tự học và vấn đề hình thành năng lực tự học cho học
sinh trong dạy học
1.1.1. Quan niệm về tự học
Tự học là một vấn đề có tính truyền thống và tính phổ biến không chỉ ở nước ta
mà còn là vấn đề của toàn thế giới. Con người ta ngay khi sinh ra đã phải tự học, tự
học để nhận biết thế giới xung quanh, tự học để tồn tại và phát triển. Khổng Tử cho
rằng cách học như thế nào quan trọng như học cái gì, học không chỉ ở trường còn học
ở bạn bè “Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư” (trong 3 người đi cùng, tất có thầy
2
Hình thành năng lực tự học cho học sinh qua dạy học bài đọc thêm ở sách giáo khoa Ngữ văn
lớp 10 và lớp 11- GV: Nguyễn Văn Hồng, trường THPT Sông Ray, Cẩm Mỹ, Đồng Nai.
ta trong đó).
Cha ông ta từ xưa cũng luôn đặt tự học làm trọng. Người đã kế thừa và phát
huy cao nhất truyền thống đó là Bác Hồ. Bác đã từng căn dặn: “Còn sống thì còn
phải học, còn phải hoạt động cách mạng”. Theo Người, tự học chính là sự nỗ lực của
bản thân người học, sự làm việc của bản thân người học một cách có kế hoạch trên
tinh thần tự giác học tập. Người cho rằng trong tự học, ý chí tự học tập và sự sáng tạo
là điều vô cùng quan trọng. Rubakin trong cuốn “Tự học như thế nào” đã kết luận
rằng: “Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời đó là
phương pháp tự học” [33]. Theo ông tự học không chỉ là xem sách mà phải biết so
sánh cái viết trong sách với thực tế cuộc sống, biết so sánh cái khoa học với cái không

lớp 10 và lớp 11- GV: Nguyễn Văn Hồng, trường THPT Sông Ray, Cẩm Mỹ, Đồng Nai.
tr. 59, 60]. Theo GS. Có 3 cấp độ tự học:
- Tự học dưới sự hướng dẫn của thầy, giáp mặt thầy một số tiết trong ngày,
trong tuần.
- Tự học có hướng dẫn của thầy nhưng không giáp mặt thầy mà nhận được sự
giúp đỡ của thầy từ xa.
- Tự học không có sự hướng dẫn của thầy. Người học tự đọc Sách giáo khoa,
tài liệu thông qua đó mà tự hiểu, tự thấm các kiến thức trong sách (tự học ở mức cao).
Như vậy “tự học” là cả một quá trình con người vượt qua hoàn cảnh và
vượt qua chính mình, tự vận dụng tất cả ý chí nghị lực, phẩm chất tư duy, phẩm
chất nhân cách, tâm hồn, bản lĩnh văn hóa, mục đích sống, khát vọng sống của
bản thân để vượt mọi khó khăn, tự so sánh, đối chiếu, tự phê bình, tự sửa chữa để
chiếm lĩnh tri thức. “Tự học”được diễn ra mọi nơi, mọi lúc, học ở mọi người và
bằng mọi cách. Hiệu quả của việc tự học được đánh giá bởi chính hiệu suất và
hiệu quả công việc của từng người. Việc tự học được thực hiện ở những mức độ
khác nhau tùy thuộc vào mục đích và khả năng tiếp thu, hoàn cảnh và thời gian
của từng người không ai giống ai. Người nông dân tự học để làm thế nào điều
khiển được những công cụ lao động tiên tiến hiện đại, làm thế nào để sản xuất đạt
năng suất cao. Còn người công nhân tự học để làm chủ máy móc hiện đại, người
làm khoa học tự học tự nghiên cứu để bắt kịp nền khoa học tiên tiến của thế giới,
sáng tạo ra những phát minh mới áp dụng vào cuộc sống… Việc tự học vô cùng
đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, tất cả mọi người tự học đều nhằm đến mục
đích biết được càng nhiều càng tốt để nâng mình lên đến một trình độ cao hơn,
phục vụ cho công việc của mình thuận lợi và có hiệu quả hơn. Thế giới đang
bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ của thông tin, của khoa học và công nghệ hiện đại,
bất cứ ai, ở bất cứ địa vị và vị trí nào trong xã hội cũng đều phải tự học, bởi chỉ
có như vậy mỗi người mới tồn tại, tự đứng vững trên đôi chân của mình và góp
phần thúc đẩy xã hội phát triển.
1.1.2. Vấn đề hình thành năng lực tự học cho học sinh trong nhà trường
phổ thông

thêm người giáo viên hướng dẫn rèn luyện năng lực tự học cho học sịnh.
“Tự học” trong nhà trường THPT trên thực tế vẫn còn là một vấn đề mới mẻ
mặc dù giáo dục hiện đại đã đề cập đến hàng mấy thập kỉ nay. Trong giới học đường
cũng không ít những học sinh ham mê học hỏi và luôn có ý thức tự học nhưng thực sự
số đó chưa nhiều. Trong xu thế khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, vấn đề “tự học”
trong nhà trường lại càng được quan tâm hơn bao giờ hết. Tự học cần phải trở thành
một trong những kỹ năng quan trọng số một của giáo dục, trở thành năng lực không thể
thiếu trong mỗi cá nhân học sinh. Bản thân mỗi học sinh cần làm quen với vấn đề tự
học, hình thành một năng lực tự học để sau này dù có điều kiện học tiếp nữa hay không
vẫn có thể tự học hỏi trau dồi tri thức để tiến kịp và thích nghi với bước tiến của thời
đại. Đặt vấn đề tự học của học sinh trong nhà trường THPT là một việc làm cần thiết
mang tính chiến lược.
“Tự học” của học sinh THPT luôn gắn liền với năng lực chủ động tích cực, học
sinh phải tự nghiên cứu tài liệu, tự mình phát hiện kiến thức, nắm bắt kiến thức, tự
mình biết vận dụng chuyển hóa kiến thức bài học dưới sự dẫn dắt, định hướng của
giáo viên. “Tự học” của học sinh THPT chỉ mới dừng ở cấp độ một nhưng đây chính
là cơ sở, là nền móng vững chắc cho kinh nghiệm tự học, tự nghiên cứu ở mức độ cao
sau này. Phạm vi kiến thức tự học của học sinh THPT trước hết thuộc chương trình
sách giáo khoa phổ thông và những tài liệu có liên quan “Đối với học sinh, tự học, tự
nghiên cứu phải dựa trên cơ sở của viêc học và nắm vững một hệ thống kiến thức cơ
5
Hình thành năng lực tự học cho học sinh qua dạy học bài đọc thêm ở sách giáo khoa Ngữ văn
lớp 10 và lớp 11- GV: Nguyễn Văn Hồng, trường THPT Sông Ray, Cẩm Mỹ, Đồng Nai.
bản, đồng thời được trang bị để nắm đựoc cách học và cách nghiên cứu, có kỹ năng
học nghiên cứu, tiến tới có kỹ xảo và thói quen tự học, tự nghiên cứu, vì vậy ở đây vai
trò của các nhà giáo dục trực tiếp hơn, cần thiết hơn [35, tr. 68].
Theo Nguyễn Kỳ “tự học” của học sinh THPT có bốn đặc trưng cơ bản.
- Người học tự tìm kiến thức bằng chính hành động của mình.
- Người học tự thể hiện mình.
- Người thầy hướng dẫn tổ chức cho trò tự nghiên cứu.

lớp 10 và lớp 11- GV: Nguyễn Văn Hồng, trường THPT Sông Ray, Cẩm Mỹ, Đồng Nai.
Như vậy, nói đến vấn đề tự học của học sinh THPT không phải là nói tới một
vấn đề gì cao siêu khó thực hiện. Tự học của học sinh không đòi hỏi mức độ cao như
tự học của một nhà nghiên cứu. Tự học của các em chủ yếu dựa vào các bài học cụ
thể trong Sách giáo khoa, những tài liệu có liên quan đến bài học để đối chiếu, so
sánh mở rộng làm cho quá trình nhận thức của các em mang tính chủ động và có tính
chất nghiên cứu. Quan trọng hơn việc tự học của học sinh được hình thành và rèn
luyện dưới sự hướng dẫn định hướng của giáo viên. Mục đích “tự học” của học sinh
THPT là làm sao giúp các em hiểu sâu sắc trọn vẹn bài học bằng chính năng lực của
mình và biết vận dụng nó như một “kinh nghiệm” của bản thân. Đây chính là yêu cầu
hàng đầu cần đặt ra trong quá trình học tâp của học sinh. Điểm mấu chốt để rèn luyện
cho học sinh có được năng lực tự học tốt trong mỗi giờ học, chính là người giáo viên
phải biết cách hướng dẫn các em phương pháp tự học cũng như biết tự học từ mức độ
thấp đến cao để khi rời ghế nhà trường các em có được một năng lực tự học hoàn
thiện.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Thực trạng dạy học bài đọc thêm trong chương trình Ngữ văn ở phổ
thông hiện nay
2.1.1. Thực trạng dạy bài đọc thêm của giáo viên
Những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp giảng dạy nói chung và đổi
mới dạy học Ngữ văn nói riêng đã được nhà trường phổ thông thực hiện một cách
tích cực và bước đầu đã mang lại hiệu quả nhất định trên cả hai bình diện lí luận và
thực tiễn. Trước hết, giáo viên đã có nhận thức một cách đúng đắn hơn về một số
quan điểm dạy học tích cực như đặt học sinh vào vị trí trung tâm của hoạt động dạy
học, dạy học nêu vấn đề, dạy học tương tác, dạy học theo dự án, dạy học điều khiển,
dạy tự học… Trong đó, việc dạy tự học cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều
giáo viên. Hầu hết giáo viên được khảo sát đều cho rằng tự học có vai trò trọng trong
quá trình dạy học nhất là trong cơ chế dạy học hướng vào người học hiện nay. Giáo
viên không phải là diễn viên mà chỉ là người hướng dẫn, tổ chức học sinh tự chiếm
lĩnh tri thức và hình thành kỹ năng. Tuy nhiên, vẫn còn một số lớn giáo viên chưa

01 Dạy như bài học chính 4 33,33
02 Dạy cho có 6 50
03 Bài dạy, bài không 2 16,66
04 Không dạy 0 0,0
Từ nhận thức không giống nhau nên việc dạy học bài đọc thêm của GV cũng
có những khác biệt. Kết quả ở bảng trên cho thấy việc dạy học bài đọc thêm của GV
ở trường phổ thông là không đồng đều: 33,33% dạy như bài học chính; 50% dạy cho
có; 16,66% bài dạy, bài không. Điều này cũng là một trong những nguyên nhân làm
cho HS không thích học văn, coi thường môn văn.
2.1.2. Thực trạng học bài đọc thêm của học sinh
Việc đổi mới phương pháp dạy học suy cho cùng là làm sao để bài dạy đạt
8
Hình thành năng lực tự học cho học sinh qua dạy học bài đọc thêm ở sách giáo khoa Ngữ văn
lớp 10 và lớp 11- GV: Nguyễn Văn Hồng, trường THPT Sông Ray, Cẩm Mỹ, Đồng Nai.
được hiệu quả cao, tác động tới được từng đối tượng làm cho đối tượng có được say
mê và hứng thú trong quá trình học. Phương pháp dạy tự học cũng không năm ngoài
mục tiêu đó. Học sinh THPT cùng với quá trình học tập và sinh hoạt đã tích lũy cho
bản thân một lượng tri thức và kinh nghiệm sống nhất định, tâm lí của các em cũng
có sự thay đổi đáng kể so với học sinh THCS. Cá tính, thói quen, tính độc lập trong
cuộc sống và học tập cũng bắt đầu hình thành. Sự thay đổi nói trên tác động rất lớn
đến quá trình dạy học Ngữ văn ở bậc THPT.
Trong quá trình dạy học Ngữ văn, đặc biệt là dạy học bài đọc thêm, đa số học
sinh tỏ ra tích cực, chủ động trong việc tìm hiểu bài, xây dựng bài, bày tỏ quan điểm
của mình về các vấn đề được nêu ra trong bài học. Đây có thể xem là một tín hiệu
đáng mừng đối với việc dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông. Tuy nhiên, bên
cạnh mặt tích cực đó thì việc học Ngữ văn của học sinh nói chung còn bộc lộ nhiều
vấn đề đáng lo ngại. Điều này được thể hiện rất rõ qua thái độ, phương pháp học tập
của các em, nhiều học sinh tỏ ra thờ ơ, xem nhẹ môn học nhất là với những bài học
đọc thêm trong chương trình. Thái độ “lạnh nhạt” đó dẫn đến việc học tập thiếu tính
chủ động tích cực của học sinh. Phần nhiều học sinh được khảo sát cho thấy các em

bài đọc thêm cũng là điều dễ hiểu. Tuy vậy, trong quá trình điều tra chúng tôi còn
phát hiện được một số nguyên nhân khác có tác động trực tiếp đến nhận thức cũng
như việc dạy, việc học bài đọc thêm của cả giáo viên và học sinh.
Đó là thời lượng dành cho mỗi bài đọc thêm quá hạn hẹp; các bài kiểm tra, các
kì thi kiến thức ít liên quan đến hệ thống bài học này; dạy bài học chính không kịp
chương trình nên dùng quỹ thời gian này để dạy bù. Hiểu được những nguyên nhân
trên chúng ta sẽ có những định hướng nghiên cứu, đề xuất những giải pháp sư phạm
phù hợp và hiệu quả
Từ cơ sở lí luận và thực tiễn trên, chúng tôi nhận thấy việc hướng dẫn học sinh
hình thành năng lực tự học thông qua hệ thống bài đọc thêm là vấn đề vô cùng cần thiết.
Bởi lẽ, một giờ đọc văn có thành công hay không, không khí giờ học như thế nào, chất
lượng dạy học văn ra sao không phải ở chỗ giáo viên truyền đạt được bao nhiêu kiến
thức mà chính là ở chỗ học sinh nắm bắt và hiểu được gì qua bài học đó. Và lẽ dĩ nhiên
hình thành năng lực tự học cho học sinh thông qua dạy học bài đọc thêm ở sách giáo
khoa Ngữ văn 10, 11 là một trong những yếu tố làm nên chất lượng dạy học văn trong
nhà trường phổ thông hiện nay.
III. CÁCH THỨC TỔ CHỨC VÀ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN
1. Định hướng tổ chức dạy - học bài đọc thêm nhằm hình thành năng lực
tự học cho học sinh
1.1. Dạy học bài đọc thêm phải thông qua tổ chức được các hoạt động tự học
thực sự của học sinh
Trong phương pháp tổ chức, người học - đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng
thời là chủ thể của hoạt động “học” - được tham gia vào các hoạt động học tập do GV
tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó, tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ
10
Hình thành năng lực tự học cho học sinh qua dạy học bài đọc thêm ở sách giáo khoa Ngữ văn
lớp 10 và lớp 11- GV: Nguyễn Văn Hồng, trường THPT Sông Ray, Cẩm Mỹ, Đồng Nai.
không phải thụ động tiếp thu những trí thức đã được giáo viên sắp đặt. Được đặt vào
những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, giải
quyết vấn đề đặt ra theo suy nghĩ của mình. Từ đó, nắm được kiến thức, kỹ năng mới,

tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn; phát triển đựoc tình bạn,
ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ một yếu tố quan trọng của giáo dục hiện nay.
Phối hợp hài hòa giữa học tập cá thể với học tập hợp tác (học nhóm) sẽ tạo
nên bước nhảy trong quá trình hình thành năng lực tự học cho học sinh. Vì với
11
Hình thành năng lực tự học cho học sinh qua dạy học bài đọc thêm ở sách giáo khoa Ngữ văn
lớp 10 và lớp 11- GV: Nguyễn Văn Hồng, trường THPT Sông Ray, Cẩm Mỹ, Đồng Nai.
phương pháp học này học sinh sẽ biết tự điều chỉnh mình trong việc chiếm lĩnh tri
thức đồng thời cũng từ đó mà năng lực tư duy của các em phát triển hơn.
1.3. Dạy bài đọc thêm phải có sự kết hợp giữa đánh giá của thầy với tự đánh
giá của trò
Đây là bước vô cùng quan trọng trong quá trình dạy học: sự đánh giá của thầy
sẽ là những định hướng để học sinh kiểm nghiệm lại cách hiểu của mình ngược lại, sự
tự đánh giá của học sinh lại là những thông tin phản hồi có giá trị để giáo viên nắm
bắt được đối tượng của mình. Từ đó, cả hai phía có những điều chỉnh cho phù hợp.
Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh. Trong phương pháp
tích cực, giáo viên phải hướng dẫn HS phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều
chỉnh cách học. Liên quan đến điều này, GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS
tham gia đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là
năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho
học sinh.
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người
năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể
dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến
khích trí thông minh, óc sáng tạo khi giải quyết những tình huống thực tế. Ví dụ khi
dạy đoạn trích Tiễn dặn người yêu ngoài những nội dung như tâm trạng mâu thuẫn
nửa như muốn chấp nhận sự thật, nửa như muốn níu kéo tình yêu; lòng quyết tâm giữ
trọn tình yêu giữa chàng trai và cô gái… Giáo viên khuyến khích học sinh:
- Phác thảo chân dung chàng trai và cô gái Thái trong tình yêu qua những lời
tiễn dặn.

không chỉ duy nhất có một con đường đảm bảo cho mọi HS học tốt mà điều cốt yếu
là sử dụng một cách hợp lí các phương pháp GV mới có thể đảm bảo cho HS điều
kiện tốt nhất để học tập tự học, tự nghiên cứu. Vì trong quá trình dạy học không chỉ
có hoạt động dạy của thầy mà còn có những hoạt động học của học sinh.
2. Các hình thức tổ chức dạy - học bài đọc thêm ở Sách giáo khoa Ngữ văn
10, 11 nhằm hình thành năng lực tự học cho học sinh
2.1. Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà
* Hướng dẫn học sinh đọc Sách giáo khoa và trả lời câu hỏi trong Sách
giáo khoa.
Sách giáo khoa là sự cụ thể hóa chương trình, là nguồn trí thức thống nhất và là
chỗ dựa cơ bản cho GV khi dạy học. Ở nước ta, Sách giáo khoa có vai trò vô cùng
quan trọng. Điều 25 của Luật Giáo dục đã khẳng định: “Sách giáo khoa để sử dụng
chính thức, thống nhất, ổn định trong giảng dạy, học tập ở nhà trường và các cơ sở
giáo dục khác”.
Đã từ lâu, các nhà nghiên cứu lý luận dạy học đã khẳng định vai trò quan trọng
của Sách giáo khoa trong quá trình học tập của học sinh. Sách giáo khoa là nguồn cung
cấp tri thức đúng đắn, khoa học và thống nhất trong nền giáo dục quốc dân. Tri thức
được đưa vào Sách giáo khoa có tính tinh giản, cô đọng, súc tích, phong phú. Nó có thể
giúp người học nghiên cứu, tìm tòi, phát huy tính sáng tạo linh hoạt, đa dạng. Để giúp
HS có phương pháp tự học, tự nghiên cứu GV cần có những định hướng cho HS trong
các hoạt động tiếp xúc với Sách giáo khoa, tập cho các em biết gia công tìm tòi, sáng
tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức.
13
Hình thành năng lực tự học cho học sinh qua dạy học bài đọc thêm ở sách giáo khoa Ngữ văn
lớp 10 và lớp 11- GV: Nguyễn Văn Hồng, trường THPT Sông Ray, Cẩm Mỹ, Đồng Nai.
Đối với tác phẩm văn học để hiểu trước hết HS phải đọc để thâm nhập. Có
nhiều mức độ đọc khác nhau: đọc lướt, đọc kỹ, đọc sâu… Nói cách khác cảm nhận
văn chương điều đầu tiên là phải đọc; đọc để rung động, để thẩm thấu. Đối với học
sinh, việc soạn bài ở nhà yêu cầu không thể thiếu là phải đọc văn bản nhưng cốt yếu
là GV hướng dẫn HS khi đọc phải thực hiện các công việc sau:

phẩm trên lớp. Nếu giáo viên làm tốt bước này thì khâu lên lớp sẽ nhẹ nhàng hơn, giờ
học sôi nổi hơn và tất nhiên hiệu quả giờ học sẽ cao hơn đặc biệt là đối với bài đọc
14
Hình thành năng lực tự học cho học sinh qua dạy học bài đọc thêm ở sách giáo khoa Ngữ văn
lớp 10 và lớp 11- GV: Nguyễn Văn Hồng, trường THPT Sông Ray, Cẩm Mỹ, Đồng Nai.
thêm khi mà lượng thời gian không có nhiều. Ta dễ dàng nhận thấy rằng, khi đọc tác
phẩm và trả lời những câu hỏi theo yêu cầu của Sách giáo khoa, của giáo viên thì học
sinh đã làm việc với đối tượng(tác phẩm văn học) và đã có những suy nghĩ, những lý
giải đối tượng theo ý riêng của mình. Tuy nhiên cũng cần hiểu đây không phải là
những ý riêng vô căn cứ, tùy tiện mà là ý riêng có định hướng có tác động sư phạm.
(định hướng của SGK, của GV). Ví dụ, khi hướng dẫn HS soạn bài Vi hành của Hồ
Chí Minh điều mà người GV phải làm là dặn dò các em chú ý đến tình huống nhầm
lẫn mà tác giả tạo nên trong câu truyện, tình huống đó đã mang đến những hiệu quả
nghệ thuật gì?
Tổ chức phân công từng vấn đề cụ thể cho từng nhóm học sinh.
Sau khi kết thúc một giờ học công việc thường thấy từ trước tới nay là GV dặn
dò HS về nhà học bài và chuẩn bị bài mới cho giờ học tiếp theo. Đây là việc làm lấy
lệ máy móc, qua loa, chung chung làm cho xong vì thế tính hiệu quả thấp. Kinh
nghiệm cho thấy đối với tuổi của các em giao việc càng cụ thể thì tính hiệu quả càng
cao. Vì vậy, tổ chức phân công vấn đề cho HS chuẩn bị trước là bước đệm rất quan
trọng cho bài học mới đạt kết quả. Để việc làm này có chất lượng GV phải thực hiện
những bước sau:
- Giáo viên chuẩn bị trước các vấn đề
- Chia nhóm
- Phân công vấn đề cụ thể cho từng nhóm
- Thời gian: giáo viên dành khoảng 5 phút cuối mỗi giờ học để làm việc này.
Chẳng hạn khi dạy bài Cha con nghĩa nặng của Hồ Biểu Chánh ngoài việc HS
chuẩn bài theo phần hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa, GV có thể chuẩn bị
trước các vấn đề sau để giao cho HS và yêu cầu mỗi nhóm phải chuẩn bị kĩ phần việc
của nhóm mình. Đọc kĩ và tóm tắt đoạn trích? Phân tích, làm rõ tình nghĩa cha con

- Nêu lên mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể mà các em phải có trách nhiệm hoàn
thành qua giờ học. Làm rõ ý nghĩa, tầm quan trọng về mặt khoa học và xã hội của hệ
thống tri thức mà các em cần nắm vững trong bài học.
* Tổ chức cho học sinh giải quyết các vấn đề của bài học.
Giáo viên căn cứ vào những bài học, tiết học, lớp học cụ thể để đưa ra những
cách thức, biện pháp tổ chức hoạt động phù hợp để HS chiếm lĩnh bài học một cách
hiệu quả nhất. Tuy nhiên, cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Phối hợp chặt chẽ hoạt động của thầy và trò.
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
- Tạo tình huống để HS rõ vấn đề,
thấy mâu thuẫn cần giải quyết
- Nghe, tiếp thu, chuyển mâu thuẫn bên ngoài
thành mâu thuẫn bên trong, có nhu cầu giải
quyết mâu thuẩn.
- Giao nhiệm vụ học tập (đặt câu
hỏi, ra bài tập…).
- Tiếp nhận nhiệm vụ học tập qua câu hỏi,
bài tập…
- Hướng dẫn HS hoạt động (đọc
giáo trình, nghiên cứu tài liệu, tổ
chức thảo luận
- Đọc giáo trình, tái hiện, suy nghĩ, sáng tạo,
trả lời câu hỏi, thảo luận…
- Theo dõi sự tự học của các em, tổ - Phát huy tính tích cực, sự nổ lực sáng tạo,
16
Hình thành năng lực tự học cho học sinh qua dạy học bài đọc thêm ở sách giáo khoa Ngữ văn
lớp 10 và lớp 11- GV: Nguyễn Văn Hồng, trường THPT Sông Ray, Cẩm Mỹ, Đồng Nai.
chức nhóm thảo luận, đặt câu hỏi bổ
sung khi cần thiết.
trao đổi bạn bè để thảo luận giải quyết nhiệm

cáo
- HS báo cáo một vấn đề đã được chuẩn bị
trước.
- Cả lớp nghe, trao đổi thảo luận.
- GV định hướng tổng kết.
17
Hình thành năng lực tự học cho học sinh qua dạy học bài đọc thêm ở sách giáo khoa Ngữ văn
lớp 10 và lớp 11- GV: Nguyễn Văn Hồng, trường THPT Sông Ray, Cẩm Mỹ, Đồng Nai.
* Hướng dẫn học sinh tự hệ thống hóa kiến thức bài học.
Hệ thống hóa kiến thức bài học là việc làm vô cùng quan trọng không thể bỏ
qua trong quá trình dạy học. Vì vậy, mỗi giáo viên phải rèn luyện cho học sinh của
mình có được kỹ năng này để đảm bảo tính hiệu quả của giờ dạy. Như chúng ta đã
biết, học sinh THPT phải học rất nhiều môn học chứ không chỉ riêng môn Ngữ Văn.
Vì thế, cứ hết 45 phút của môn học các em lại phải chuẩn bị tâm thế cho một môn học
khác với những tri thức khác cho nên, việc hướng dẫn các em hệ thống hóa kiến thức
bài học chính là một bước củng cố, khắc sâu kiến thức cho các em về môn học của
mình. Đồng thời, những đơn vị kiến thức này sẻ là tài liệu rất quan trọng để các em
học sau những giờ lên lớp có hứng thú và hiệu quả. Có thể khẳng định rằng: con
người sẽ rất hứng thú trước sản phẩm tự tay mình làm ra hoặc có sự đóng góp công
sức. Học sinh cũng vậy, các em sẽ học tập một cách hiệu quả những kiến thức mà tự
các em suy nghĩ rút ra hoặc có sự đóng góp ý kiến.
Tuy nhiên khi hệ thống hóa kiến thức giáo viên cần lưu ý học sinh phải làm
theo ý riêng của mình, nghĩa là, mỗi học sinh hệ thống theo một kiểu mà các em thấy
phù hợp với bản thân khi học. Nhưng yêu cầu phải ngắn gọn sao cho dễ học và phải
đảm bảo được kiến thức trọng tâm.
Ví dụ: Hướng dẫn học sinh hệ thống hóa bài “Lời tiễn dặn” (trích “Tiễn dặn
người yêu” dưới dạng dàn bài. Giáo viên yêu cầu học sinh khi hệ thống phải thể hiện
được những vấn đề sau:
Về nội dung
1. Tâm trạng của chàng trai(và gián tiếp là tâm trạng của cô gái qua sự mô tả

tổ chức, định hướng. Vì thế, mà hoạt động tự đánh giá của học sinh sau mỗi tiết học
là rất quan trọng. Ở đây, các em sẽ có một lượng thời gian nhất định để so sánh, đối
chiếu giữa cái mình đã hệ thống qua tiết học ở lớp và bài soạn của chính mình ở nhà.
Với việc làm này, học sinh sẽ có cái nhìn sâu sắc và khách quan hơn về tác phẩm,
đồng thời, cũng tự mình rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân khi đứng trước công
việc tìm hiểu và khám phá một tác phẩm văn học.
Như vậy, việc hướng dẫn học sinh tự đánh giá kết quả học tập của mình phải
luôn được duy trì trong mỗi tiết học Ngữ văn. Phải hình thành được cho các em kỹ
năng tự đánh giá, tự ý thức về bản thân sự hiểu biết của mình đối với môn học. Từ đó,
các em sẽ tự có sự điều chỉnh cho phù hợp.
3. Các biện pháp cụ thể hướng dẫn học sinh giải quyết các vấn đề của bài
đọc thêm ở lớp
3.1. Giáo viên xác lập, định hướng cho học sinh những kiến thức trọng tâm
* Đặc điểm, phạm vi sử dụng
Kiến thức trọng tâm chính là cái cốt lõi nhất của bài học, từ kiến thức này học
sinh tự suy nghĩ thêm ra theo cách cảm, cách hiểu của mình. Kiến thức trọng tâm
luôn luôn gắn kết với mục tiêu cần đạt làm sáng rõ mục tiêu cần đạt. Hai bộ Sách
giáo khoa Ngữ văn cơ bản và nâng cao ở những tác phẩm đựợc giảng chính đều có
mục: kết quả cần đạt học sinh dựa vào đây để xác định trọng tâm bài học.
Đối với bài đọc thêm: cả hai bộ sách đều không có mục: kết quả cần đạt, do
vậy, việc xác định trọng tâm kiến thức sẽ khó hơn đối với học sinh. Cho nên, giáo
19
Hình thành năng lực tự học cho học sinh qua dạy học bài đọc thêm ở sách giáo khoa Ngữ văn
lớp 10 và lớp 11- GV: Nguyễn Văn Hồng, trường THPT Sông Ray, Cẩm Mỹ, Đồng Nai.
viên phải có bước xác lập và định hướng cho các em. Điều này sẽ giúp cho các em có
hướng xác định đúng, không ra khỏi quỹ đạo của bài học và cũng vì thế mà tiết học
nhẹ nhàng hơn, hiệu quả đạt cao hơn. Có thể khẳng định rằng: trong dạy học Ngữ văn
nếu muốn hiệu quả của mỗi tiết học, bài học đạt chất lượng cao thì đây là một công
việc không thể không làm đối với mỗi giáo viên dạy văn ở tất cả các bài học chứ
không chỉ có bài đọc thêm.

Động viên, khuyến khích, kích thích nhu cầu giao tiếp, trao đổ thông tin là việc
20
Hình thành năng lực tự học cho học sinh qua dạy học bài đọc thêm ở sách giáo khoa Ngữ văn
lớp 10 và lớp 11- GV: Nguyễn Văn Hồng, trường THPT Sông Ray, Cẩm Mỹ, Đồng Nai.
làm đặc biệt phải chú trọng khi thực hiện quá trình dạy học. Trong dạy học Ngữ văn,
giáo viên không chỉ chú trọng đến việc cung cấp thông tin, định hướng nhận thức mà
phải kích thích nhu cầu giao tiếp, trao đổi thông tin của học sinh. Hoạt động này
không chỉ giúp giáo viên phát hiện tín hiệu ngược từ phía học sinh mà còn kịp thời
điều chỉnh hành vi nhận thức của các em. Để kích thích nhu cầu giao tiếp và trao đổi
thông tin, giáo viên phải có những biện pháp phù hợp dựa trên những đặc điểm tâm lí,
thói quen giao tiếp của học sinh. Trước hết, giáo viên phải tạo ra môi trường giao tiếp
tốt, gần gũi và phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ học. Môi
trường giao tiếp trong dạy học Ngữ văn được hiểu là không khí lớp học. Đó là, sự
tổng hợp các yếu tố như lời nói, cử chỉ, thái độ của giáo viên, tinh thần, thái độ học
tập của học sinh… Trong đó, giáo viên là người đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo ra
môi trường giao tiếp nhằm kích thích nhu cầu giao tiếp của học sinh. Vì vậy, giáo
viên phải có thái độ hòa đồng, thân thiện, gần gũi khi giao tiếp, xóa bỏ đi khoảng
cách giữa giáo viên và học sinh trong khi bàn luận về các vấn đề cả hai bên cùng
quan tâm, động viên, khuyến khích, khơi gợi để các em tranh luận, bày tỏ quan điểm
của mình. Đồng thời, cũng phải có biện pháp uốn nắn để tạo cho học sinh có thói
quen biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác.
Mỗi học sinh là một chủ thể với những vốn sống, kinh nghiệm, cá tính và
quan niệm khác nhau, đặc biệt là học sinh THPT lứa tuổi luôn muốn khẳng định
mình. Tuy nhiên, điều này không phải bao giờ cũng được bộc lộ ra ngoài. Để kích
thích được nhu cầu bày tỏ quan điểm của học sinh, giáo viên phải luôn luôn có thái
độ tôn trọng các ý kiến, nhận xét của học sinh trong giờ học. Sự nghiêm khắc và
cứng nhắc trong việc đánh giá ý kiến của học sinh sẽ làm hạn chế tính chủ động
tích cực của các em khi tranh luận cũng như bày tỏ quan điểm của bản thân. Có thể
nói, động viên, khuyến khích và có cách thức uốn nắn phù hợp khi học sinh sai
lệch sẽ tạo ra một giờ học dân chủ, sôi nổi và hiệu quả.

3.2. Tổ chức cho học sinh thuyết trình trong giờ đọc thêm
* Đặc điểm, phạm vi ứng dụng
Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là phát huy tính tích cực chủ động sáng
tạo của học sinh, vì thế việc thay đổi tư duy và cách thức, phương pháp lên lớp là yêu
cầu đặt ra cho mỗi giáo viên. Lựa chọn phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy
học như thế nào nhằm giúp học sinh học tập tích cực, sôi nổi, chủ động và sáng tạo
phụ thuộc rất nhiều vào năng khiếu và nghệ thuật sư phạm của từng giáo viên.
Tổ chức thuyết trình là một vấn đề tương đối khó đối với HS. Đây chính là quá
trình “chế biến” kiến thức. Theo Nguyễn Cảnh Toàn thì “qua hoạt động này HS có
điều kiện để khẳng định mình khi trình bày trước GV và bạn bè điều mà các em hiểu,
các em tâm đắc. Tổ chức cho học sinh thuyết trình chính là cách tạo dựng cho các em
khả năng sử dụng ngôn ngữ và lòng tin vào chính bản thân mình”. Tuy nhiên, để tổ
chức được giờ học hợp tác, theo nhóm, giờ học cémina, thuyết trình, trao đổi thì đòi
hỏi phải có sự chuẩn bị kỹ càng và chu đáo từ cả hai phía giáo viên và học sinh. Đặc
biệt là học sinh. Vì vậy, để tiến hành biện pháp này một cách có hiệu quả giáo viên
phải căn cứ vào từng bài học, lớp học cụ thể để tổ chức thực hiện.
* Cách thức tiến hành
Bước 1: Giáo viên đưa ra các vấn đề đã giao cho học sinh từ tiết học trước,
kiểm tra việc chuẩn bị bài của từng học sinh, nhóm học sinh yêu cầu các nhóm cử đại
diện của nhóm mình lên thuyết trình.
Bước2: Học sinh tự chọn một vấn đề mà mình, nhóm mình đã chuẩn bị để
22
Hình thành năng lực tự học cho học sinh qua dạy học bài đọc thêm ở sách giáo khoa Ngữ văn
lớp 10 và lớp 11- GV: Nguyễn Văn Hồng, trường THPT Sông Ray, Cẩm Mỹ, Đồng Nai.
lên thuyết trình. Giáo viên động viên, khích lệ học sinh làm việc, điều khiển, điều
chỉnh cho đúng hướng. Lưu ý, vấn đề học sinh đem ra thuyết trình thường là do
các em hứng thú và tự chọn. cho nên, trong khi thuyết trình bên cạnh việc phát huy
tối đa khả năng vận dụng tri thức, tìm tòi, sáng tạo còn thể hiện những suy nghĩ,
cách đánh giá chủ quan của các em về vấn đề đó. Bài thuyết trình là “một công
trình sáng tạo” mà học sinh thể hiện toàn bộ tri thức, kĩ năng, tâm huyết của mình.

thoại, trao đổi, sẽ chia với những bạn đọc khác (thầy giáo và các bạn cùng lớp) những
mối quan tâm chung và những thu hoạch riêng, để rồi được bổ sung, điều chỉnh và
23
Hình thành năng lực tự học cho học sinh qua dạy học bài đọc thêm ở sách giáo khoa Ngữ văn
lớp 10 và lớp 11- GV: Nguyễn Văn Hồng, trường THPT Sông Ray, Cẩm Mỹ, Đồng Nai.
nâng cao nhận thức.
3.3. Tổ chức cho học sinh tranh luận, thảo luận trong giờ đọc thêm
* Đặc điểm, phạm vi ứng dụng
Hiểu rộng thì đây là biện pháp bao hàm trong đó cả hoạt động của thầy giáo
nhưng hoạt động của học sinh vẫn là chủ yếu. Giáo viên chủ yếu giữ vai trò tổ chức
và điều chỉnh sự trao đổi, tranh luận giữa các ý kiến khác nhau của học sinh về một
vấn đề học tập nào đó. Nhờ đó học sinh bộc lộ được các trạng thái tinh thần riêng,
cách nhìn riêng nhưng đồng thời lại có cơ hội đi đến cái nhìn thống nhất, khoa học về
một vấn đề.
Do tính chất nói trên, biện pháp này có thể ứng dụng vào dạy học Ngữ văn vì
trạng thái tiếp nhận các vấn đề về Văn học, về Tiếng Việt luôn tiềm ẩn những quan
niệm nhận thức khác nhau.
Khi cho học sinh tranh luận, giáo viên nên lưu ý mục tiêu của từng vấn đề
tranh luận hướng tới điểm nào: hình thành thái độ tình cảm tới một quan niệm, hay
tới một phương pháp luận giải quyết vấn đề. Các hiện tượng ngữ pháp, nghĩa từ;
những hiện tượng khác nhau trong tiếp nhận văn học… đều là cơ sở cho giáo viên đặt
vấn đề tranh luận. Giáo viên nên cho phối hợp tranh luận cá nhân với nhóm với toàn
lớp.
Có thể khẳng định, đây là một trong những biện pháp dạy học phát huy được
tính tích cực của người học. Nó cho phép tất cả các thành viên trong lớp, trong nhóm
trình bày, chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm, cũng như những băn khoăn, suy nghĩ
riêng(có thể là chưa đúng) của bản thân về vấn đề cần bàn luận.
Đây cũng là biện pháp phát huy được tinh thần độc lập, tự chủ cũng như tính
dân chủ trong học tập. Mọi thành viên trong lớp, nhóm đều có thể đưa ra cách lí giải
của mình về chủ đề tranh luận, thảo luận; thậm chí có thể có những ý kiến, quan điểm

giáo viên cần định hướng kịp thời và có những câu hỏi gợi mở để học sinh hiểu vấn
đề và đi tới kết quả cần đạt. Trong quá trình tổ chức, điều khiển cuộc tranh luận, đối
thoại, giáo viên cũng cần khuyến khích các em đặt câu hỏi ngược cho giáo viên, cho
bạn bè trong lớp để làm rõ vấn đề tranh luận, đối thoại.
Bước 3: Giáo viên nhận xét, đánh giá
Giáo viên cần phải tuyên dương tinh thần tập thể lớp và công nhận những kết
quả mà các em đã đóng góp cho việc làm rõ bài học. Đối với những ý kiến hay cần
khuyến khích bằng cách cho điểm thưởng, với những ý kiến thiếu hoặc chưa chính
xác, cần lí giải rõ để các em nắm bắt và “tâm phục”.Khi nhận xét, đánh giá giáo viên
phải lưu ý đến hai mặt: kết quả cuối cùng đạt được và thái độ hành vi tham gia tranh
luận, thảo luận của học sinh. Nhìn chung, để có thể làm tốt những việc nêu trên,
người giáo viên không chỉ có sự chuẩn bị chu đáo về mặt kiến thức để có khả năng
thẩm định, đánh giá đúng đắn những ý kiến, quan điểm (có thể là trái chiều) của học
sinh mà còn phải có khả năng phát hiện những “tình huống có vấn đề”, khả năng tổ
chức, quản lí học sinh… Như vậy, đây cũng là biện pháp buộc người giáo viên không
thể thụ động, không chỉ giảng những kiến thức đã cũ mà phải luôn tìm tòi, bổ sung
những kiến thức mới về những vấn đề cần đưa ra trao đổi.
* Yêu cầu
Tranh luận, thảo luận phải tạo được sự thu hút học sinh tham gia vào quá
trình trao đổi, đối thoại, tạo nên không khí tranh luận cần thiết để hướng tới lí giải,
đánh giá tác phẩm văn học. Đồng thời, việc tổ chức tranh luận, thảo luận phải đảm
25

Trích đoạn Tổ chức cho học sinh làm những bài tập ngắn trong giờ học Hướng dẫn học sinh tiếp tục tự học sau khi đã học ở lớp bằng hệ thống bài tập về nhà XUẤT, KIẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Cử chỉ, hành động và tâm trạng của chàng trai lúc ở nhà chồng của cô gái.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status