1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HCM
LÂM NGA NHƯ Hình thành năng lực tự học
cho sinh viên cao đẳng sư phạm
trong dạy học phần: "Động vật có xương sống" LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
3
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
8
Chương 1: CƠ SỞ CỦA VIỆC HÌNH THÀNH NĂNG LỰC TỰ HỌC Ở
SINH VIÊN
6
1.1.
Tổng quan về tình hình nghiện cứu liên quan đến đề tài
6
1.2.
Khái niệm về năng lực
17
1.3.
Khái niệm về năng lực
17
1.4.
Vai trò của năng lực tự học
18
1.5.
Các loại năng lực tự học
19
1.6.
Khả năng hình thành năng lực tự học trong dạy học phần
85
3.3.
Phương pháp thực nghiệm
85
3.4.
Kết quả thực nghiệm
97
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
118
4
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
120
PHỤ LỤC
125
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
thầy thường dạy theo phương pháp diễn giải, thuyết trình, nói lại giáo trình,
còn sinh viên ngồi nghe rồi ghi chép rất thụ động. Giảng viên chỉ chú trọng
dạy kiến thức lý luận, còn việc rèn kĩ năng cho sinh viên thông qua môn học
rất ít đề cập đến. Kết quả là: Sau khi học xong phần đó, chóng quên, cũng như
việc hình thành cho sinh viên kĩ năng dạy học sau này không được tốt.
1.3. Do vai trò tự học trong quá trình dạy học hiện nay mà Đảng đã đề
ra cho ngành giáo dục đặc biệt ở các trường Sư phạm nói chung và các trường
Cao đẳng Sư phạm nói riêng một trách nhiệm nặng nề là đào tạo những người
thầy giáo đảm đương được trách nhiệm trồng người trong thời đại mới.
Trong nền giáo dục suốt đời và xã hội học tập thì việc tự học của mỗi
người ngày càng trở nên quan trọng.
Như khi bàn về việc học:
- Lênin đã khuyên thanh niên: "Học, học nữa, học mãi".
- Hay Bác Hồ đã viết trong cuốn Sửa đổi lề lối làm việc: "Cách học
tập phải lấy tự học làm cốt lõi, phải biết tự động học tập".
Như vậy, để sinh viên tự học được tốt thì giảng viên phải hướng tới
việc dạy cho sinh viên biết cách học (ở đây cũng có nghĩa là hình thành cho
sinh viên năng lực tự học) là chủ yếu.
Do những yêu cầu bức xúc về lý luận và thực tiễn như trên, nên tôi đã
chọn đề tài: "Hình thành năng lực tự học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm
trong dạy học phần: "Động vật học có xương sống"".
7
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định các năng lực tự học cần có và biện pháp hình thành trong
giảng dạy học phần Động vật học có xương sống cho sinh viên nhằm góp
phần nâng cao chất lượng đào tạo và đổi mới phương pháp dạy học ở các
trường Cao đẳng Sư phạm.
3. Giả thuyết khoa học
Nếu xác định được năng lực tự học cần có và biện pháp hình thành
6.2. Phương pháp điều tra
- Điều tra thực trạng năng lực tự học ở sinh viên Cao đẳng sư phạm.
- Điều tra thực trạng biện pháp hình thành năng lực tự học ở sinh viên
qua giảng dạy một số môn học thông qua việc dự giờ, trao đổi…
6.3. Thực nghiệm sư phạm
- Mục đích thực nghiệm: Kiểm tra hiệu quả của các biện pháp hình
thành năng lực tự học ở sinh viên.
- Nội dung thực nghiệm: Xác định hiệu quả của các biện pháp về:
+ Hình thành năng lực tự học;
+ Nắm vững kiến thức qua dạy chương 6,8 của học phần: Động vật
học có xương sống.
- Phương pháp tiến hành:
+ Đối tượng: Sinh viên năm thứ nhất lớp hóa sinh K24 trường Cao
đẳng Sư phạm Bắc Ninh.
+ Công thức thực nghiệm: Thực nghiệm theo mục tiêu nghĩa là: Lấy
mục tiêu làm đối chứng còn thực nghiệm là các biện pháp hình thành năng lực
tự học.
9
+ Các bài dạy thực nghiệm: Thuộc chương 6, 8 học phần Động vật
học có xương sống.
+ Xử lý số liệu: Kết quả được phân tích kỹ cả mặt định tính và định
lượng theo tiêu chí định trước.
7. Giới hạn của đề tài
Hình thành năng lực tự nghiên cứu giáo trình theo hướng dẫn của
giảng viên qua học phần Động vật học có xương sống.
8. Những đóng góp mới của luận văn
8.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hình thành năng lực tự học ở sinh
viên Cao đẳng Sư phạm. Từ đó làm tài liệu cần thiết cho việc nghiên cứu lý
luận dạy học Đại học.
Giáo viên có vai trò vạch ra những công việc cần làm và giao nhiệm vụ cho
người học, còn người học tự quyết định kế hoạch thực hiện. Toàn bộ hoạt
động học tập của người học do họ tự thực hiện từ các phòng thí nghiệm, thực
hành bộ môn và được kiểm soát bằng các phiếu học tập.
* Theo G.D.Sharmo và Shatt.R.Ahmed đã nhận định: Hình thức
hướng dẫn sinh viên tự học là một hình thức tổ chức học có hiệu quả: "Cốt lõi
của hình thức này là quá trình điều khiển gián tiếp của giảng viên đối với quá
trình tự học của sinh viên thông qua việc giao nhiệm vụ nhận thức đã được
thiết kế thành dạng phù hợp, nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ học tập đã
được xác định 51.
* Theo A.Đixtécvéc (1790 - 1866) cho rằng: Nghệ thuật sư phạm của
người thầy giáo không phải chỉ: "Dạy cho họ cách tìm ra chân lý" mà phải
tăng cường tổ chức hoạt động tự học, tự nghiên cứu "Biến quá trình dạy học
thành quá trình tự học".
11
* Theo T. Makiggerchi đã nhấn mạnh: "…nhà giáo trước hết không
phải là người cung cấp thông tin mà là người hướng dẫn đắc lực cho sinh viên
tự mình học tập tích cực… Họ phải nhường quyền cung cấp tri thức cho sách
vở, tài liệu và cuộc sống" thay vào đó "Giáo viên phải là cố vấn", là "Trọng
tài khoa học".
* Nhiều tác giả Liên Xô (cũ) đã nghiên cứu sâu sắc cách thức nhằm
nâng có hiệu quả hoạt động tự học của người học, trong đó đã nêu lên các
biện pháp tổ chức hoạt động độc lập nhận thức của người học trong quá trình
dạy học(như Catxechue G.X…).
1.1.1.2. Trong nước
* Tự học - tự đào tạo là vấn đề được Nghị quyết Đại hội Đảng VIII và
Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) đề cập rất đậm nét: "Tập trung sức nâng
cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học sáng tạo của sinh viên bảo
đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, phát triển
1.1.2.1. Trên thế giới
* GS.TSKH Hans Joachin Luabs [17] đã đưa ra những yêu cầu về nội
dung, kỹ thuật thiết kế, chỉ dẫn cho các tác giả viết tài liệu dùng cho sinh viên.
Theo tác giả, tài liệu chính dùng cho sinh viên là giáo trình, ngoài ra còn có
các tài liệu khác trợ giúp cho việc học như sách bài tập, tập lưu trữ tư liệu,
sách luyện tập, sách tóm tắt tài liệu tham khảo… Đồng thời tác giả đã chỉ rõ
chức năng của các tài liệu học dành cho sinh viên là:
- Chức năng biểu đạt;
- Chức năng điều khiển;
- Chức năng khuyến khích động cơ;
- Chức năng phân hóa, chức năng luyện tập và kiểm tra.
13
* Các tác giả Hà Lan: Fortunat Walther, Rudolf, Batliner, Devi Pdahl,
John Colkun, Gobinda R Poudel, Gerald Stegmanm, Shiv Kuman Shah [43]
đã biên soạn các thẻ kỹ năng. Mỗi thẻ này như một tài liệu hướng dẫn và rèn
luyện một kỹ năng sư phạm nhất định. Thẻ được trình bày trên hai mặt của
một tờ giấy gồm các nội dung sau: Mở đầu, mục đích, các tiến hành, lưu ý,
kết luận và bản hướng dẫn thực hiện kỹ năng sư phạm đó.
1.1.2.2. Trong nước
* GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn [48] đã chỉ ra rằng: Để hướng dẫn tự
học phải viết tài liệu in ra và hướng dẫn người học tự học. Tài liệu hướng dẫn
phải vạch ra được kế hoạch học tập, phương pháp học, nội dung tài liệu
hướng dẫn tự học phải chỉ ra được mối quan hệ lôgic giữa các chương, vẽ ra
một sơ đồ về mối quan hệ đó. Việc hướng dẫn nên thể hiện ra bằng những câu
hỏi hoặc bài tập nhỏ.
* Theo Nguyễn Bá Kim [24] tài liệu hướng dẫn phải có yếu tố phương
pháp học và có yếu tố mô phỏng sự tìm tòi, khám phá để định hướng và khêu
gợi động cơ, hỗ trợ, ôn tập, củng cố.
* Tác giả Hoàng Hữu Niềm [32] đã nghiên cứu chức năng, mục đích,
Khái niệm
Quan điểm truyền thống
Quan điểm dạy học theo
phương pháp tích cực
Khái niệm
dạy học
cơ bản
Đào tạo trẻ em thành người
lớn thông qua những người lớn
tuổi hơn, những hình mẫu, lý
luận dạy học ở đây thiên về
mệnh lệnh và uy quyền
Tạo ra các chương trình đào tạo
phù hợp với chủ thể nhằm hình
thành năng lực chuyên môn, năng
lực xã hội và cá nhân, khả năng
hành động. Lý luận dạy học chú
trọng phát triển năng lực tự chủ
và khả năng giao tiếp
15
Phương
pháp,
phương tiện
dạy học
Các phương pháp truyền thụ
và thông báo chiếm ưu thế
trong đó bao gồm định hướng
mục đích học tập và kiểm tra,
các phương pháp nặng về định
khiển
Truyền
thụ
Học
Lĩnh hội
Tính độc
lập
16
Hướng dẫn tự học chính là sự hỗ trợ của giáo viên trong việc định
hướng, tổ chức và chỉ đạo nhằm giúp cho người học tối ưu hóa quá trình tự
lực chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo thông qua đó để hình
thành và phát triển nhân cách của họ 33.
Theo Nguyễn Kỳ, quy trình dạy tự học có 3 thời (sự điều khiển của thầy
theo 3 giai đoạn tương ứng với 3 giai đoạn học tập của trò) theo sơ đồ sau: Sơ đồ 1.2: Chu trình dạy - tự học
Trong sơ đồ trên: Hình tròn bên trong tương ứng với nội lực - năng
lực tự học của trò theo 3 thời: Tự nghiên cứu tự thể hiện tự kiểm tra, tự
điều chỉnh.
+) Bước 1: Định hướng việc học:
Giáo viên phải giúp cho người học ý thức được nội dung, mục tiêu đạt
được. Định hướng con đường đạt đến.
+ Bước 2: Hướng dẫn học chủ để:
- Chỉ ra được các nội dung cần phải học.
- Chỉ ra được các nội dung cần làm rõ.
- Đối với những kiến thức khó cần chỉ rõ nguồn tài liệu để tham khảo
(cung cấp những thông tin cần thiết để làm rõ vấn đề này).
- Có tài liệu hướng dẫn.
+ Bước 3: Tổ chức thảo luận.
+ Bước 4: Tổng kết đánh giá.
* Từ quy trình trên tác giả đã đề xuất quy trình hướng dẫn học một
chủ đề, quy trình hướng dẫn một buổi học.
+ Quy trình hướng dẫn học một chủ đề:
- Ý thức được việc học
- Tự nghiên cứu theo hướng dẫn
- Tự thể hiện bằng bài làm
- Tự thể hiện trước nhóm, lớp, giáo viên.
18
- Tự tổng kết, rút kinh nghiệm
+ Quy trình hướng dẫn một buổi học
- Kiểm tra sự chuẩn bị của người học
- Thảo luận
- Tổng kết
- Hướng dẫn chủ đề mới.
* Trong luận án tiến sĩ - khoa giáo dục sinh học, tác giả Hoàng Hữu
Niềm đã đưa ra quy trình hướng dẫn tự học như sau 32:
và nội dung cơ bản
chủ điểm
Mục tiêu bài HDH
Giáo
viên
Học
viên
19
- Thể hiện sự tự chủ, độc lập nghiên cứu của người học, từ việc ý thức
mục tiêu, nghiên cứu nội dung cho đến tự kiểm tra, tự đánh giá.
- Thầy là người hướng dẫn, định hướng, tổ chức, trọng tài.
- Việc tự học có được ắt phải có tài liệu.
- Phát huy tính vận dụng sáng tạo của người học.
* Hướng dẫn tự học để hình thành năng lực tự học ở SV được dựa trên
những cơ sở:
- Cơ sở tâm lý, sư phạm:
+ Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi ở SV có một số ưu thế như: Sự chú ý
tập trung và bền hơn học sinh phổ thông, đặc biệt là trước các vấn đề lý luận,
các vấn đề xã hội, óc tưởng tượng không gian nhạy bén, tăng khả năng ghi
nhớ, ghi nhớ máy móc giảm hơn. Khả năng ghi nhớ ở SV có tính khái quát
độc lập, mang tính chọn lọc và có phê phán hơn học sinh phổ thông.
Những đặc điểm trên rất thuận lợi cho hình thức hướng dẫn SV tự học.
+ Hướng dẫn tự học không phải là một phương án cụ thể nào mà nó bao
gồm tập hợp nhiều phương pháp. Hầu hết các phương pháp đó đều nhằm phát
huy tính tích cực học tập của SV và đều có đặc trưng chung là:
- Dạy học bằng việc tổ chức các hoạt động cho SV.
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học, tự rèn luyện.
- Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp.
biết tự học. Người học giỏi là người biết tự học, sáng tạo suốt đời. Song tự
học thuộc quá trình cá nhân hóa không có nghĩa là học một mình, đơn thân
độc mã, mà học trong sự hợp tác với các bạn, trong môi trường xã hội, dưới
sự hướng dẫn của nhà giáo.
Năng lực tự học - nội lực sẽ khó phát triển nếu thiếu sự hướng dẫn của
thầy và sự hợp tác của các bạn - ngoại lực. Ngược lại tác động của thầy, cô và
Nội
lực
Ngoại
lực
21
của môi trường xã hội sẽ kém hiệu lực nếu không phát huy được năng lực tự học
của người học. Vấn đề được đặt ra là không thể nhấn mạnh một chiều hoặc tách
rời nội lực với ngoại lực, mà là kết hợp chặt chẽ, mật thiết giữa nội lực với ngoại
lực, nhằm tiến tới đỉnh cao của chất lượng phát triển là cộng hưởng nội lực với
ngoại lực. Nói một cách khác, quá trình tự học, tự nghiên cứu (cá nhân hóa)
phải kết hợp với quá trình hợp tác với các bạn trong cộng đồng lớp học và quá
trình dạy của nhà giáo (xã hội hóa). Đó là quan điểm "Nội lực quyết định" của
dạy học tích cực lấy việc học (trò) làm trung tâm. Do đó cần chú trọng đến
yếu tố nội lực. Đây chính là bản chất quá trình tự học của SV.
- Cơ sở sinh lý học:
Quá trình hướng dẫn tự học dựa trên cơ sở "Học thuyết phản xạ có
điều kiện chủ động" của Skinner. Theo học thuyết này học là tự điều hòa hành
vi để dẫn tới mọi hành vi mong muốn bằng cách thử sai, nó được thực hiện vì
lợi ích của chính người học. Trong học thuyết của mình, Skinner cho rằng:
Con vật có thể tự tìm tòi, tự hình thành các phản xạ có điều kiện khi nó được
thực hành rèn luyện để giải quyết một tình huống, một nhiệm vụ mới xuất
hiện. Đây chính là cơ sở sinh lý học của hoạt động tự học nhờ tài liệu hướng
dẫn dưới sự điều khiển của thầy để hình thành năng lực tự học ở SV.
- Một là, cách học có phần bị động, từ ngoài áp vào như kiểu hình
thành phản xạ cổ điển của Paplốp.
- Hai là, cách học chủ động, tự bản thân mình tạo nên các phản xạ có
điều kiện, như kiểu hình thành phản xạ tác động. Và về "Cách tự học" thì mỗi
người một vẻ, tùy theo tư chất và hoàn cảnh, điều kiện sống của mình mà mỗi
người có cách học riêng. Vì vậy mà ta thấy được: Ngày xưa không có các
23
trường chuyên nghiệp, mà cuộc thi hương, thi hội, thi đình đều theo một
chương trình "Từ chương khoa cử" nhưng xã hội vẫn có những người làm
nghề này, nghề khác đó chủ yếu là qua con đường tự học.
Qua điều này ta càng thấy rõ khả năng tự học tiềm ẩn trong mỗi
con người.
Từ đó, ta hiểu năng lực tự học là: Nội lực phát triển bản thân của
người học. Trong bất cứ con người Việt Nam nào, trừ những người bị khuyết
tật, tâm thần, đều tiềm ẩn một tiềm lực, một tài nguyên quốc gia vô cùng quý
giá: đó là năng lực tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề thực tiễn, tự
đổi mới sáng tạo trong công việc hàng ngày của mình.
1.4. VAI TRÒ CỦA NĂNG LỰC TỰ HỌC
Năng lực tự học sáng tạo đã làm nên biết bao nhiêu nhà quân sự, chính
trị, khoa học, văn hóa lỗi lạc của đất nước. Biết bao anh hùng dân tộc từ
những người nông dân, công nhân, chiến sĩ bình thường trong lịch sử dựng
nước và giữ nước.
Chính năng lực tự học sáng tạo đã làm nên vị lãnh tụ vĩ đại của dân
tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của thế giới - đó là Hồ Chí Minh.
Năng lực tự học có vai trò:
* Tự tìm ra ý nghĩa, làm chủ các kỹ xảo nhận thức, tạo ra cầu nối nhận
thức trong tình huống học.
* Làm chủ tri thức hiện diện trong chương trình học và tri thức siêu
nhận thức qua các tình huống học.
Nhưng hiểu như vậy cũng vẫn là hẹp hòi vì ngay cả khi có thầy bên cạnh thì
thầy cũng chỉ giảng giải, uốn nắn, chứ thầy đâu có học hộ trò. Dạy dù sao
25
cũng chỉ là ngoại lực tác động đến trò. Ngoại lực đó phải tạo ra được sự
cộng hưởng của nội lực - tức là sự cố gắng của học trò. Sự cố gắng này mới
đúng là tự học, nó tồn tại cùng "học" như hình với bóng, ta thấy hai người
cùng học một thầy thì phần thầy giảng là như nhau đối với hai người nhưng
kết quả học tập lại phụ thuộc vào sự cố gắng tự học của mỗi người bắt đầu
ngay từ khi nghe giảng, người này có thể nghe thầy giảng một cách chăm
chú, người kia nghe giảng lơ đãng, thế là phần tự học đã khác nhau rồi.
Tự học, hiểu như vậy có thể xảy ra khi có thầy, có sách, cả khi không
có thầy, không có sách. Trong trường hợp này, người học có thể tích lũy thêm
được kinh nghiệm, thêm kiến thức, nhiều sự cọ xát với thực tiễn, và con
người từ 2 tháng tuổi trở đi đã biết tự học như vậy.
Cách học không thầy, không sách, thả nổi như vậy cũng có thể có
kết quả tích cực nhưng kết quả lâu đến vì không có hệ thống và chiều sâu
tư tưởng, rất ít kế thừa sự hiểu biết của những người đi trước. Vì vậy, phải
học một cách hệ thống với thầy rồi với sách và ngày nay cách học đó phải
dẫn tới thông minh, sáng tạo, học một biết mười vì nắm chắc kiến thức cơ
bản, có hệ thống, rồi năng lực tự học, tư duy với một tư cách tốt đẹp mà tự
mình tìm đến nhiều kiến thức khác nhờ cả vào công phu sưu tầm lẫn công
phu tự mình nghĩ ra. Đạt đến trình độ này rồi thì cách học không thầy,
không sách mà chỉ cọ xát với thực tiễn cũng sẽ được người học đích thân tổ
chức có hiệu quả cao như tổ chức tra cứu có mục đích, có phương hướng,
có phân công, hợp tác, có tài liệu, trang thiết bị hỗ trợ.
Tự học hoàn toàn là mức mà mọi người phải đạt đến nếu muốn học
suốt đời.
Và không có thầy thì có thể hỏi sách. Hỏi sách này không được thì
hỏi sách khác. Nhưng sách khác đó là sách gì? Thì nhiều khi cũng phải động