dạy học thơ việt nam hiện đại trong sách giáo khoa ngữ văn lớp 11 (bộ cơ bản) - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN NGỮ VĂN
-------

-------

PHẠM THỊ NGỌC YẾN

DẠY HỌC THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TRONG
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP 11
(BỘ CƠ BẢN)
Luận văn tốt nghiệp đại đọc
Ngành Sư phạm Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn:

TRẦN ĐÌNH THÍCH

Cần Thơ, 5 - 2011
2011


ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích, yêu cầu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1.4 Phương pháp trực quan
2.2.1.5 Phương pháp dạy học nêu vấn đề
2.2.2 Vận dụng các phương pháp vào dạy các tác phẩm thơ hiện đại
2.3 Thiết kế giáo án thể nghiệm cho một số tác phẩm thơ hiện đại trong
sách
giáo khoa Ngữ Văn lớp 11( bộ cơ bản)
2.3.1 Bài dạy: Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu)
2.3.2 Bài dạy: Hầu trời (Tản Đà)
2.3.3 Bài dạy: Vội vàng (Xuân Diệu)
2.3.4 Bài dạy: Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)
2.3.5 Bài dạy: Chiều tối (Hồ Chí Minh)

C. PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO


QUY ƯỚC VIẾT TẮT
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
SGK: Sách giáo khoa
SGV: Sách giáo viên
: Giáo viên diễn giảng
: Giáo viên hỏi
:Giáo viên nhận xét, đánh giá
: Giáo viên trình bày trực quan
: Học sinh thảo luận
: Học sinh trả lời, bổ sung


A. PHẦN MỞ ĐẦU



2. Lịch sử vấn đề
Hiện nay, vấn đề giảng dạy tác phẩm thơ ca ở bậc Trung học phổ thông đang
được nhiều người quan tâm và đã có khá nhiều công trình nghiên cứu. Tuy nhiên,
phần lớn các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở cách giảng dạy thuộc lĩnh
vực thơ ca nói chung mà chưa đi sâu vào khai thác cách dạy các tác phẩm thơ ca
hiện đại. Trong quyển “Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể” của tác
giả Trần Thanh Đạm cùng nhiều tác giả khác, Trần Thanh Đạm với bài viết“Thơ và
giảng dạy thơ” đã đề cập đến nguyên tắc căn bản khi dạy thơ: “…mỗi bài thơ có
tính độc đáo về nội dung và hình thức, ở đó một hình thức nhất định biểu hiện một
nội dung nhất định. Giảng thơ chủ yếu là giảng hình tượng thơ, là qua hình thức để
giảng nội dung, là thông qua việc phân tích các yếu tố về loại thể, kết cấu, ngôn
ngữ để làm sống dậy hình tượng với tất cả vẻ đẹp, chiều sâu của nó, từ đó mà tiếp
thu và truyền đạt tư tưởng, tình cảm của tác phẩm phù hợp với mục đích yêu cầu
giáo dưỡng và giáo dục” [24; tr.62]. Tác giả mới chỉ đưa ra định hướng ban đầu
giúp người dạy định hình cách khai thác tác phẩm thơ nhưng chưa đưa ra phương
pháp dạy cụ thể cho từng thể loại thơ ca. Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến những
vấn đề khác như đặc trưng của thơ mà người dạy cần phải chú ý: “Ngoài các điểm
chung của mọi tác phẩm văn học khi dạy thơ cần chú trọng đến đặc trưng riêng của
thơ, thể hiện ở cấu tạo đặc biệt của ngôn ngữ thơ. Học thơ là cảm và hiểu. Dạy thơ
là đọc và giảng. Khi cảm và hiểu, đọc và giảng thơ đều cần lưu ý đến đặc trưng của
thơ” [24; tr.62]. Khi nắm vững đặc trưng đó thì giáo viên mới truyền đạt kiến thức
cho học sinh nắm một cách dễ dàng. Hoặc“Trong khi giảng, thầy giáo phải làm cho
học sinh vừa hình dung được hình ảnh bài thơ gợi lên vừa cảm thụ được nhạc điệu
của bài thơ vang lên” [24; tr.73]. Bởi trên thực tế các tác phẩm thơ ca đều có tính
nhạc và tính họa, khi phân tích được hai phương diện này thì hình tượng thơ sẽ trở
nên sâu sắc hơn, sáng tỏ hơn trong cảm thụ và nhận thức của học sinh. Như vậy mới
thấy được tác dụng lớn lao của thơ đối với việc giáo dục con người. Kết thúc bài
viết, tác giả khẳng định: “Thơ là một hiện tượng nghệ thuật tế nhị và phức tạp.

tiếp của con người, phương thức diễn đạt của thơ chủ yếu là liên tưởng, ngôn ngữ
thơ đầy những hình thức chuyển nghĩa, nghĩa là những hình thức liên tưởng mà
người đọc chỉ có thể cảm hiểu được trên cơ sở liên tưởng” [5; tr.64]. Với công trình
này, tác giả đã có đóng góp giúp học sinh tiếp cận thơ có hiệu quả nhưng quan trọng
hơn là người giáo viên phải gợi lên cho được hướng liên tưởng đó, bằng những hệ


thống câu hỏi dẫn dắt, gợi mở để học sinh có cơ sở liên hệ, so sánh và đối chiếu.
Đồng quan điểm trên là tác giả Phan Trọng Luận với công trình“Con đường nâng
cao hiệu quả dạy Văn”, cũng đã khẳng định: “Năng lực tưởng tượng càng mạnh
bao nhiêu thì hiệu suất cảm thụ càng cao bấy nhiêu” và “Nghệ thuật giảng văn là
nghệ thuật khêu gợi, duy trì, phát triển trí tưởng tượng, năng lực liên tưởng của học
sinh” [12; tr.158]. Theo tác giả, không chỉ liên tưởng để dựng lại những hình ảnh
trong tác phẩm mà phải mở rộng liên tưởng đến cuộc sống xung quanh mới nâng
cao chất lượng cảm thụ của học sinh. Mặc dù cả hai tác giả có đưa ra biện pháp liên
tưởng để giúp học sinh đi vào tác phẩm nhưng cần phải kết hợp các yếu tố khác thì
công việc dạy học mới đạt hiệu quả cao. Nhìn chung, liên tưởng trong giảng thơ đã
khắc phục được phần nào khoảng cách giữa giáo viên – học sinh, không còn kiểu
giáo viên giảng rất nhiều nhưng học sinh không hình dung ra ý nghĩa bài thơ sau khi
học.
Nguyễn Thị Thanh Hương với bài “Giảng dạy thơ trữ tình hiện đại trong
nhà trường” đã đưa ra các bước cần tiến hành khi dạy thơ và phân tích thơ trong
nhà trường. Đó là: phân tích tiêu đề bài thơ và giọng điệu chủ đạo của tác phẩm;
đọc và quan sát bước đầu để nắm chắc bài thơ; xác định chủ đề bài thơ; xác định
hình tượng thơ và âm điệu chủ đạo; nghiên cứu các cấp độ hình tượng của bài thơ
( Bên cạnh đó, trong
quyển“Dạy học Văn ở trường phổ thông”, Nguyễn Thị Thanh Hương cũng đã đưa
ra ý kiến tương tự như trên: “Với các tác phẩm thơ: phải định hướng cho học sinh
phân tích cảm xúc chủ đạo, phân tích nhịp điệu, luật thơ, nhạc tính, hình tượng thơ
(nếu có), nhân vật trữ tình (trong thơ trữ tình)” [8; tr.174]. Theo tác giả, giáo viên

3. Mục đích, yêu cầu
Khi tiến hành nghiên cứu đề tài Dạy học thơ Việt Nam hiện đại trong sách
giáo khoa Ngữ văn lớp 11 (bộ cơ bản) thì mục đích cuối cùng của người viết là:
Cung cấp cho học sinh những tri thức về thơ hiện đại đã được hệ thống hóa và giáo
dục cho các em những tư tưởng, tình cảm thẩm mĩ. Đồng thời vận dụng lý luận dạy
học hiện đại vào giảng dạy môn Ngữ văn nói chung và phần thơ hiện đại nói riêng
theo hướng đổi mới phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động của học
sinh.
Để đạt được mục đích đó thì người viết phải tìm hiểu thơ Việt Nam hiện đại
trong các sách nghiên cứu. Đặc biệt là sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11 (bộ cơ bản)
để nắm vững nội dung kiến thức cần dạy. Qua đó đưa ra ý kiến, nhận xét của mình,


tìm những phương pháp dạy thích hợp cho giáo viên và phương pháp học thích hợp
cho học sinh để đạt hiệu quả cao nhất.

4. Phạm vi nghiên cứu
Do yêu cầu cũng như thời gian cho phép thực hiện đề tài nên việc nghiên cứu
được giới hạn ở một số tác phẩm thơ Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ
văn lớp 11 (bộ cơ bản). Người viết không đi sâu nghiên cứu thơ nói chung mà chỉ
nghiên cứu cách giảng dạy thơ Việt Nam hiện đại cho học sinh Trung học phổ
thông. Những bài thuộc phạm vi khảo sát là các tác phẩm thơ Việt Nam hiện đại
trong chương trình Ngữ văn lớp 11 (bộ cơ bản):
1. Lưu biệt khi xuất dương – Phan Bội Châu
2. Hầu trời – Tản Đà
3. Vội vàng – Xuân Diệu
4. Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử
5. Chiều tối – Hồ Chí Minh

5. Phương pháp nghiên cứu

gian, nó sẽ hiện lên với tư cách một quãng trong tiến trình phát triển của lịch sử văn
học dân tộc, được tiếp nối sau thời kì văn học trung đại. Xuất phát từ những quan
niệm khác nhau các tác giả đã tạo lập ra những quá trình văn học không giống nhau.
Thực tế đã chứng minh, mọi cách phân kỳ đều chứa đựng những bất cập. Nguyễn
Phong Nam với bài viết “Nghiên cứu quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam một số vấn đề về phương pháp luận” đã thống kê và nhận xét về cách phân chia
thời kì của các nhà nghiên cứu:
- Vũ Ngọc Phan, trong Nhà văn hiện đại, mặc dù nhắc đến Trương Vĩnh Ký (1837 –
1898) và những tác phẩm viết bằng chữ quốc ngữ của ông ở ngay trang đầu tiên,
thế nhưng Vũ Ngọc Phan lại coi học giả họ Trương chỉ là khởi xướng một xu
hướng, một thời đại văn học chứ không phải là một tác giả hiện đại. Văn học hiện
đại theo Vũ Ngọc Phan phải là những cuốn xuất hiện từ những năm hai mươi trở đi.
[22; tr.113]
- Nguyễn Đăng Mạnh cũng lấy thời điểm 1920 làm mốc lộ trình phát triển của văn
học Việt Nam hiện đại. Tiêu đề tuyển tập Văn học Việt Nam 1920 – 1945, phần nào


cho thấy thái độ dứt khoát hơn trong việc nêu tiêu chí và chọn thời điểm. Tuy thế,
khi đi vào tuyển lựa, khảo cứu các hiện tượng cụ thể, cái mốc phân định lại được
nới rộng ra “những năm hai mươi” [22; tr.114]
- Trần Đình Hượu thì lấy mốc của văn học Việt Nam hiện đại là 1930, trước đó chỉ
mới có “dấu hiệu” chứ chưa có văn học hiện đại thực sự.[22; tr.114]
- Nguyễn Văn Xuân lại cho rằng văn học mới, văn học hiện đại bắt đầu từ 1928 [22;
tr.114].
Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu khác cho văn học hiện đại xuất hiện vào
năm 1862 hay 1900…
Chính vì cách phân chia không rõ ràng này đã gây không ít khó khăn cho
người tiếp nhận, đặc biệt là đối tượng học sinh. Để khắc phục tình trạng trên, các
tác giả sách giáo khoa đã đưa ra một ranh giới xác định thơ hiện đại. Đó là khoảng
thời gian từ đầu thế kỉ XX - 1945. Từ đây văn học nói chung và thơ ca nói riêng đã
bước vào con đường hiện đại hóa.

phát triển qua hai thời kì:
* Thời kì từ đầu thế kỉ XX – năm 1945:
Xét chung trong chuyển động của tiến trình xã hội và văn học, thơ Việt Nam
từ đầu thế kỉ XX đến 1945 đã có nhịp đi và bước nhảy ngoạn mục tạo nên một cuộc
cách mạng trong thơ ca. Cũng như văn học, thơ ca cũng bước vào quá trình hiện đại
hóa gồm ba giai đoạn:
+ Giai đoạn thứ nhất (từ đầu thế kỉ XX – 1920): Đây là giai đoạn chuẩn bị
các điều kiện cần thiết cho công cuộc hiện đại hóa. Thành tựu của giai đoạn này là
thơ của các nhà chiến sĩ cách mạng: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…Sáng tác
của những cây bút Hán học này, mặc dù có những đổi mới về nội dung tư tưởng,
nhưng thể loại, ngôn ngữ, văn tự và thi pháp, nói chung vẫn thuộc phạm trù văn học
trung đại.
+ Giai đoạn thứ hai (từ 1920 – 1930): Quá trình hiện đại hóa văn học đến
giai đoạn đã đạt những thành tựu đáng kể. Ở lĩnh thơ, tiêu biểu nhất là thơ của Tản
Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải…Đặc biệt là hiện tượng Tản Đà, tuy không phải là nhà
thơ của phong trào Thơ mới nhưng Tản Đà có công mở đường cho Thơ mới và
cũng là nhà thơ gắn với nhiều nét mới. Đánh giá đúng công lao của Tản Đà đối với
làng thơ, Hoài Thanh đã đưa những sáng tác của Tản Đà vào khai hội Tao đàn trong
Thi nhân Việt Nam. Mặc dù những đóng góp của các nhà thơ giai đoạn này đã làm
cho thơ ca mang tính hiện đại nhưng nhìn chung nhiều yếu tố trung đại vẫn tồn tại.


Như vậy, trong giai đoạn từ những năm đầu thế kỉ XX- 1930, văn học Việt
Nam chưa có những kiệt tác nhưng không vì thế mà nó không có vai trò quan trọng
trong lịch sử phát triển. Chính nhờ giai đoạn văn học này mà dòng chảy văn học
liên tục từ thế kỉ X đến nay không tắt mạch hay chia dòng.
+ Giai đoạn thứ ba (từ 1930 – 1945): Đến giai đoạn này nền văn học nước
nhà đã hoàn tất quá trình hiện đại hóa với nhiều cuộc cách tân. Ở lĩnh vực thơ ca có
những đổi mới sâu sắc với phong trào Thơ mới – “một cuộc cách mạng trong thi
ca” (Hoài Thanh). Cuộc cách mạng này diễn ra ở cả hai phương diện nội dung và

hài hòa yếu tố hiện thực và yếu tố lãng mạn cách mạng. Các tác phẩm tiêu biểu: Gió
lộng – Tố Hữu, Ánh sáng và phù sa – Chế Lan Viên, Quê hương – Giang
Nam…Bên cạnh đó, nghệ thuật cũng có bước phát triển và có nhiều thành tựu như
thể thơ, ngôn ngữ thơ, cấu trúc câu thơ, giọng điệu câu thơ.
Chặng đường từ 1965 – 1975:
Thơ chặng đường này tập trung viết về cuộc kháng chiến chống Mĩ, đánh
dấu một bước tiến mới của nền thơ Việt Nam hiện đại. Thơ ca thể hiện cuộc ra quân
vĩ đại của toàn dân tộc, khám phá sức mạnh của con người Việt Nam, nhận thức và
đề cao vai trò sứ mệnh lịch sử, tầm vóc và ý nghĩa nhân loại của cuộc kháng chiến
chống Mĩ. Các tập thơ tiêu biểu: Ra trận, Máu và hoa – Tố Hữu, Những bài thơ
đánh giặc – Chế Lan Viên,…Đặc biệt là sự xuất hiện và đóng góp của thế hệ nhà
thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Các nhà thơ này đã đem đến cho nền
thơ Việt Nam hiện đại một tiếng thơ mới mẻ: trẻ trung, sôi nổi mà vẫn đậm chất suy
tư, triết luận. Tiêu biểu là Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy,…
+ Giai đoạn từ 1975 – hết thế kỉ XX:
Từ sau 1975, đất nước nằm trong quỹ đạo hòa bình, thơ bắt đầu có sự đổi
mới. Sự đổi mới thơ đó bắt đầu từ những nhà thơ đã góp sức mình làm nên Một thời
đại mới trong thi ca tiêu biểu là sự âm thầm đổi mới thơ ca của Chế Lan Viên với
tập Di cảo thơ cho đến các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp.
Bên cạnh đó, những cây bút thuộc thế hệ chống Mĩ cũng đã có sự đổi mới và tiếp
tục tỏa sáng như: Xuân Quỳnh, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh…Đặc biệt là hiện tượng
nở rộ trường ca sau 1975 với khuynh hướng chung là muốn tổng kết, khái quát
chiến tranh thông qua trải nghiệm riêng của mỗi nhà thơ trong những năm trực tiếp
cầm súng. Những trường ca tiểu biểu như Những người đi tới biển – Thanh Thảo,
Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh…. Ngoài ra còn có các tập thơ: Tự hát – Xuân


Quỳnh, Ánh trăng – Nguyễn Duy, Thư mùa đông – Hữu Thỉnh…Những cây bút
thuộc thế hệ nhà thơ sau 1975 xuất hiện và từng bước khẳng định vị trí của mình.



- Sự đổi mới về ngôn ngữ nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật, kết cấu nghệ
thuật.
- Sự đổi mới về thể loại.
- Thoát ra khỏi những gò bó của quy phạm thuộc thi pháp trung đại (hệ thống
ước lệ, điển tích, điểm cố…)

1.2 Phần thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn lớp 11 (bộ
cơ bản)
1.2.1 Vị trí
Xét theo tiến trình văn học, thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ
văn lớp 11 thuộc thời kì từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945. Vì thế, việc xác định vị trí
của thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn lớp 11 có tầm quan trọng
đặc biệt. Bởi lẽ, có xác định đúng vị trí của phần thơ này xét trong mối quan hệ giữa
thơ ca trung đại và thơ ca hiện đại, thì mới xác định được phương pháp dạy cho phù
hợp. Thực tế cho thấy, nhiều giáo viên tỏ ra hết sức băn khoăn khi giảng dạy phần
thơ giai đoạn này – một giai đoạn mà nền thơ ca đóng vai trò là dấu gạch nối giữa
hai thế kỉ thơ và đang trên đà phát triển theo hướng hiện đại hóa.
Trong chương trình, đóng góp của thơ ca thời kì từ đầu thế kỷ XX – 1945
cho nền văn chương Việt Nam hiện đại là không nhỏ, đặc biệt là thơ ca giai đoạn
1930 -1945, tiêu biểu là các tác phẩm thơ của phong trào Thơ mới. Vì vậy, các tác
phẩm Thơ mới chiếm thời lượng nhiều hơn các tác phẩm thuộc lĩnh vực khác.
Phong trào Thơ mới ra đời và phát triển là một sự kiện nổi bật của thơ ca Việt Nam
giai đoạn 1930 – 1945 trên con đường hiện đại hóa. Sự kiện này đã góp phần tạo ra
cho nền thơ Việt Nam một diện mạo mới. Từ đây, thơ ca Việt Nam thực sự có một
bước phát triển đột biến, nhảy vọt. Trong tiến trình lịch sử văn chương dân tộc nói
chung và thơ ca nói riêng, trước khi phong trào Thơ mới ra đời, thơ ca trước đó
chưa có một sự kiện nào tạo nên được những biến đổi to lớn cho thơ ca như phong
trào Thơ mới. Phong trào Thơ mới là sự khởi sắc của nền thơ dân tộc. Nó là bước
ngoặt quan trọng, mở ra một kỷ nguyên mới cho thơ ca Việt Nam, nâng thơ ca Việt

nhìn đúng đắn về thơ của từng giai đoạn văn học, bước đầu nhận ra sự giống và
khác nhau giữa thơ trung đại và hiện đại về đề tài, cảm hứng, thể loại và ngôn ngữ.
Đồng thời nhận ra được nội dung cảm hứng, hình tượng nhân vật trữ tình, phát hiện
các chi tiết nghệ thuật đặc sắc của mỗi bài thơ.

1.2.2 Cấu trúc


Phần văn học Việt Nam được xếp theo hai hướng: thể loại văn học và tiếng
trình lịch sử văn học. Theo thể loại văn học, các tác phẩm được chia là ba loại: kịch,
tự sự và trữ tình. Các tác phẩm thuộc hai thể loại: kịch và tự sự đã được phân bố
trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11, tập 1(bộ cơ bản). Do đó sách Ngữ văn 11, tập
2 tập trung chủ yếu vào thể loại trữ tình. Do đặc điểm này của chương trình nên
phần thơ Việt Nam hiện đại thời kì từ đầu thế kỷ XX – 1945 được đặt ở phần đầu
tiên trong sách Ngữ văn lớp 11, tập 2 (bộ cơ bản). Theo tiến trình lịch sử văn học,
các tác phẩm thơ được sắp xếp theo trật tự thời gian, tác phẩm nào xuất hiện trước
thì tìm hiểu trước và được đảm bảo theo trình tự sau:
- Giai đoạn 1(đầu thế kỉ XX – 1920): Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội
Châu).
- Giai đoạn 2 (1920- 1930): Hầu trời (Tản Đà).
- Giai đoạn 3 (1930- 1945): Vội vàng (Xuân Diệu), Tràng Giang (Huy Cận),
Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử), Chiều tối (Hồ Chí Minh), Từ ấy (Tố Hữu). Ngoài
ra, giai đoạn văn học này còn có nhiều tác phẩm thơ để đọc thêm như Lai tân (Hồ
Chí Minh), Nhớ đồng (Tố Hữu), Tương tư (Nguyễn Bính), Chiều xuân (Anh Thơ).
Tuy có ba giai đoạn nhưng do đặc điểm của thể loại ta có thể xếp chúng vào
hai dòng thơ ca chính: dòng thơ lãng mạn (Hầu trời – Tản Đà và các tác phẩm trong
phong trào Thơ mới); dòng thơ yêu nước, cách mạng (Lưu biệt khi xuất dương –
Phan Bội Châu, Chiều tối – Hồ Chí Minh, Từ ấy – Tố Hữu, Lai tân – Hồ Chí Minh,
Nhớ đồng – Tố Hữu). Tuy thơ hiện đại có nhiều tác phẩm cùng thể loại nhưng ở
mỗi tác phẩm của từng tác giả đều có văn phong rất khác nhau. Vì đây là thời kì ý

thuận lợi cho quá trình tiếp cận tác phẩm của cả giáo viên và học sinh.
Bên cạnh đó, chúng ta phải nói đến thuận lợi tiếp theo là có rất nhiều tư liệu
để tham khảo về thơ ca hiện đại giai đoạn này, người giáo viên có thể thoải mái lựa
chọn tư liệu giảng dạy cho mình nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu kiến thức cần cung cấp
cho học sinh (cũng như học sinh tự tham khảo tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau
ngoài kiến thức giáo viên truyền đạt ở lớp để mở mang kiến thức về thơ ca giai
đoạn này). Mặt khác, đa số học sinh khi học thơ Việt Nam hiện đại từ đầu thế kỉ XX
- 1945 đều có tâm lý hứng thú, thoải mái nhất là đối với các tác phẩm của phong
trào Thơ mới (có lẽ do đề tài phong phú, hiện đại).

1.3.2 Khó khăn
Trước hết là những khó khăn chung của học sinh khi tiếp nhận thơ hiện đại:


- Đối tượng giảng dạy là học sinh phổ thông, những người còn trẻ về tuổi
đời, vốn sống, vốn hiểu biết xã hội còn hạn hẹp nên các em gặp những khó khăn
chung: về ngôn ngữ, về nghĩa đen, nghĩa bóng, cấu trúc ngữ pháp của câu thơ, hình
ảnh nghệ thuật…Cùng những hạn chế trong kinh nghiệm thưởng thức tác phẩm
nghệ thuật, đặc biệt là đọc những tác phẩm không viết theo bút pháp hiện thực như
bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử là một ví dụ điển hình. Hạn chế về sự hiểu biết
xã hội, con người cũng làm học sinh phổ thông trở ngại khi tiếp nhận tác phẩm,
chẳng hạn như ít hiểu biết về con người nhà thơ Xuân Diệu, học sinh sẽ không biết
được trọn vẹn tư tưởng “ham sống” của nhà thơ trong bài thơ Vội vàng. Hay những
tác phẩm thơ cách mạng viết bằng chữ Hán cũng đã gây không ít khó khăn cho việc
tiếp nhận văn bản. Khi dịch lại bài thơ, ta thấy có những từ dịch chưa thật sự sát với
văn bản gốc mặc dù dịch giả đã cố gắng hoàn thành tác phẩm dịch.
- Tiếp theo là những khó khăn xuất phát từ tính nhiều tầng nghĩa, đặc biệt là
thơ mới nên có nhiều cách đánh giá cảm nhận khác nhau về các tác phẩm thơ của
văn học giai đoạn này. Đòi hỏi người giáo viên phải tinh tế nhận xét khi tham khảo
các cảm nhận để có thể hiểu và cảm nhận sâu sắc đúng theo hướng của sách giáo


CHƯƠNG 2: DẠY HỌC THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TRONG
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP 11 (BỘ CƠ BẢN)
2.1 Cơ sở lí luận cho việc dạy học thơ Việt Nam hiện đại lớp 11
2.1.1 Quan điểm dạy học “lấy học sinh làm trung tâm”
Theo quan điểm truyền thống, khi nói đến nhà trường, người ta chỉ chú trọng
đến vai trò chủ đạo của người thầy, thầy giáo là nguồn kiến thức, là trung tâm của
quá trình dạy học. Có nghĩa là người thầy làm tất cả mọi công việc “tự biên tự diễn”
phân tích, giảng giải bài học, giáo viên cảm nhận như thế nào thì truyền đạt đến học
sinh như thế ấy. Học sinh chỉ thụ động lắng nghe, ghi chép và giữ im lặng đến tiết
học sau hoặc đến giờ kiểm tra sẽ thể hiện lại đầy đủ những nội dung mà thầy đã
truyền đạt. Tình trạng một tiết học, học sinh chỉ có quyền lắng nghe chứ không có
quyền nói là chuyện phổ biến từ trước đến nay. Đây có thể nói là một mô hình lý
tưởng trong dạy học truyền thống.
Trước tình hình đó, giáo dục cần phải đổi mới để không tụt hậu quá xa so với
các nước trên thế giới. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: “Dứt khoát
chúng ta phải có cách dạy khác, phải suy nghĩ, phải tìm tòi, phải sáng tạo, phải xây
dựng phương pháp giảng dạy văn học thích hợp, đem lại những hiệu quả tốt…”
[30; tr.224]. Sự tiến bộ, hiện đại giữa quan điểm dạy học “lấy học sinh làm trung
tâm” so với quan điểm “thầy làm trung tâm” trong quá trình dạy học được thể hiện
qua bảng so sánh dưới đây:
Phương pháp dạy học truyền thống

Phương pháp dạy học hiện đại

Quan điểm thầy làm trung tâm

Quan điểm trò là trung tâm

1. Thầy truyền đạt kiến thức

đạt tri thức” [7; tr.1]. Như vậy mới có thể đáp ứng theo yêu cầu dạy học tích cực
hiện nay.

2.1.2 Năm định hướng trong quá trình dạy học của Marazano
Với công trình nghiên cứu A Different Kind of Classroom: Teaching with
Dimensions of Learning của mình, Robert J. Marzano đề ra năm định hướng đan
xen trong quá trình dạy học:

2.1.2.1 Định hướng 1: Thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học
Đây là định hướng cở sở giúp học sinh thực hiện tốt quá trình dạy học. Học
sinh có thể đạt kết quả tốt trong học tập hay không một phần phụ thuộc vào thái độ
và nhận thức tích cực về việc học của các em. Nhiệm vụ của giáo viên phải thấy
được những nhân tố chi phối thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học của các
em để từ đó có những điều chỉnh nhằm giúp các em có thái độ học tập tích cực.
Để thực hiện điều này đòi hỏi phải thỏa mãn những nhân tố sau:
Về không khí lớp học:
Bầu không khí tâm lí gồm nhân tố bên ngoài và nhân tố bên trong. Chúng ta
cần tạo được bầu không khí lớp học thoải mái, ấm cúng và sinh động. Không khí
lớp học thể hiện ở sự quan tâm của giáo viên đối với học sinh, giữa học sinh với học
sinh. Đối với giáo viên sự quan tâm thể hiện bằng thái độ vui vẻ, hài hước, thân
thiện, chẳng hạn như: gọi đúng tên học sinh, nhiệt tình giải đáp những câu hỏi,
những thắc mắc của học sinh…Như vậy, học sinh sẽ không bị ức chế tinh thần và
thoải mái hơn trong học tập. Đối với bạn bè cùng lớp sự quan tâm thể hiện ở việc


giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, trong cuộc sống, là tinh thần hợp tác, động viên,
khích lệ nhau cùng tiến bộ trong học tập.
Về các nhiệm vụ học tập:
Để hình thành thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học cho học sinh thì
các nhiệm vụ học tập mà giáo viên đề ra phải đảm bảo những yêu cầu sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status