Sử dụng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề vào dạy học bài “phương pháp thuyết minh” trong sách giáo khoa ngữ văn 10 (2016) - Pdf 45

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

======

NGUYỄN THỊ HÀ

SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI
NÊU VẤN ĐỀ VÀO DẠY HỌC BÀI
“ PHƯƠNG PHÁP THUYẾT MINH”
TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ Văn

Người hướng dẫn khoa học
TS. PHẠM KIỀU ANH

HÀ NỘI, 2016


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện dưới giảng đường trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2, với lòng yêu nghề sự tận tâm hết lòng truyền đạt của thầy
cô tôi đã tích luỹ được rất nhiều kiến thức cũng như các kỹ năng cần thiết cho
cuộc sống. Sau quãng thời gian làm việc cố gắng, tôi đã hoàn thành khoá luận
tốt nghiệp với đề tài: Sử dụng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề vào dạy học bài
“Phương pháp thuyết minh” trong Sách giáo khoa Ngữ Văn 10.
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo - Tiến sĩ
Phạm Kiều Anh đã hướng dẫn và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khoá
luận này.
Tiếp theo tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ

CH

Câu hỏi

DHNVĐ

Dạy học nêu vấn đề

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

NXB

Nhà xuất bản

PPDH

Phương pháp dạy học

PPTM

Phương pháp thuyết minh

SGK


5.1. Phương pháp tổng hợp các vấn đề lý thuyết ............................................. 5
5.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu............................................................... 6
5.3. Phương pháp thực nghiệm ....................................................................... 6
5.4. Phương pháp thống kê ............................................................................. 6
6. Bố cục của khoá luận.................................................................................. 6
7. Đóng góp .................................................................................................... 6
NỘI DUNG .................................................................................................... 7
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC CÁC
PHƯƠNG PHÁP THUYẾT MINH CÓ SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI
NÊU VẤN ĐỀ ............................................................................................... 7
1.1. Cơ sở lí luận về phương pháp thuyết minh .............................................. 7
1.1.1. Văn bản thuyết minh và phương pháp thuyết minh ............................... 7
1.1.2. Các phương pháp thuyết minh .............................................................. 8
1.2. Cơ sở lý luận về dạy học nêu vấn đề và câu hỏi nêu vấn đề ................... 14
1.2.1 Giới thiệu chung về dạy học nêu vấn đề............................................... 14


1.2.2. Những vấn đề chung về câu hỏi nêu vấn đề ........................................ 15
1.3. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................... 19
1.3.1. Thực trạng dạy ................................................................................... 19
1.3.2. Thực trạng học ................................................................................... 20
Chương 2: SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ VÀO DẠY
HỌC BÀI “PHƯƠNG PHÁP THUYẾT MINH” ......................................... 23
2.1. Mục đích của việc dạy bài “Phương pháp thuyết minh”........................ 23
2.2. Các nguyên tắc xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề khi dạy học bài
“Phương pháp thuyết minh” ......................................................................... 23
2.2.1. Nguyên tắc tích hợp ............................................................................ 23
2.2.2. Nguyên tắc phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh .................. 24
2.2.3. Nguyên tắc chú trọng tích chất thực hành........................................... 25
2.3. Bài “Phương pháp thuyết minh” trong SGK Ngữ văn 10 ....................... 26

và thế giới khắc phục cách đổi mới chắp vá, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu kế
hoạch đồng bộ, phấn đấu xây dựng nền giáo dục hiện đại của dân, do dân và
vì dân đảm bảo công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện cho
toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước. Muốn đạt được những mục tiêu đó, giáo dục phải
chuyển mình, phải vận dụng những quan điểm, những hình thức dạy học hiện
đại”. Dạy học nêu vấn đề (DHNVĐ) là một trong những hình thức dạy học đã
và đang được áp dụng váo thực tế giáo dục ở Việt Nam chúng ta. Tuy nhiên
việc nghiên cứu áp dụng DHNVĐ vào quá trình dạy học vẫn còn nhiều hạn
chế.
Quá trình đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa và phương
pháp dạy học mới là xu thế tất yếu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện cho học sinh (HS) đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nó cũng phù hợp với mục tiêu, nội
dung giáo dục con người Việt Nam mới trong luật Giáo dục trong đổi mới
phương pháp dạy học mới hiện đại trở thành vấn đề bức thiết hiện nay. Cho
đến nay, cùng với những hoạt động đổi mới phương pháp dạy học, nội dung
chương trình SGK Ngữ văn từ THCS đến THPT trong đó có phần Làm văn
có những thay đổi nhất định so với trước đây. Theo đó việc dạy học Làm văn

1


cũng có những thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của giáo dục và của xã hội.
Bên cạnh đó việc đổi mới hình thức dạy học cũng là một trong những yêu cầu
tất yếu. Dạy học Làm văn trên cơ sở hệ thống nêu vấn đề là một kiểu dạy học
nhằm phát huy năng lực nhận thức, phát huy tính chủ động sáng tạo của HS,
lấy HS làm trung tâm.
Đối với bộ môn Ngữ văn ở trường THPT việc vận dụng phương pháp
dạy học hiện đại cũng có những yêu cầu mới. Dạy học môn Ngữ văn không

nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục nghiên cứu PP này như: Xcatlin,
Machiuskin, Lecne… Nói tới DHNVĐ, không thể không nhắc tới quan niệm
của I.F.Kha-la-môp. Kế thừa và hoàn chỉnh khái niệm về dạy học nêu vấn đề
của các nhà nghiên cứu nổi tiếng như: T.V.Cud-ri-ap-xep; I.Ia.Lec-nhe (Liên
Xô) V.Ô- kon (Ba Lan), ông quan niệm như sau: “Dạy học nêu vấn đề là sự
tổ chức quá trình dạy học bao gồm việc tạo ra tình huống có vấn đề (tình
huống tìm tòi) trong giờ học, kích thích ở HS nhu cầu giải quyết những vấn đề
nảy sinh, lôi cuốn các em vào hoạt động nhận thức tự lực nhằm nắm vững
kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mới, phát triển tích cực trí tuệ và hình thành cho
các em năng lực tự mình thông hiểu và lĩnh hội thông tin khoa học mới”.
(Trích “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào”,
I.F. Khalamop, NXB Giáo dục Hà Nội, 1976)
Khái niệm DHNVĐ của I.F.Kha-la-môn không những đã làm sáng tỏ
đầy đủ bản chất, các mặt cơ bản của kiểu dạy học này, mà còn giúp cho
những người thực hiện nó có quan điểm đúng đắn, tránh được những quan
điểm còn phiến diện thiếu khách quan của một số nhà nghiên cứu về
DHNVĐ. Ở nước ta, người đầu tiên đưa phương pháp này vào Việt Nam là dịch
giả Phan Tất Đắc. Về sau nhiều nhà khoa học nghiên cứu phương pháp này như Lê
Khánh Bằng, Nguyễn Bá Kim…Tuy nhiên những nghiên cứu này chủ yếu nghiên
cứu cho giáo dục ở phổ thông và đại học.

3


Hiện nay, hệ thống cơ sở lý luận về DHNVĐ ngày càng hoàn thiện dựa
trên những thành tựu và những ứng dụng của kiểu dạy học này vào thực tế.
Thông qua những nghiên cứu và ứng dụng của kiểu dạy học, các nhà khoa
học đã làm sáng tỏ mối quan hệ bản chất của quá trình dạy học là quy luật
hình thành tính độc lập nhận thức, phát huy tiềm năng sáng tạo của người học
biến hoạt động học thành quá trình hành động có mục đích của chủ thể. Và

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nhằm xây dựng và sử dụng hệ thống CH khi dạy bài
“Phương pháp thuyết minh” tạo ra sự sáng tạo và kích thích nhu cầu học tập cho HS.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng hợp các vấn đề về DHNVĐ và các phương pháp thuyết minh
(PPTM) trong văn bản thuyết minh (VBTM).
Đề xuất cách vận dụng xây dựng và sử dụng hệ thống CH nêu vấn đề
khi dạy học bài “Phương pháp thuyết minh” trong VBTM.
Thực nghiệm nhằm bước đầu đánh giá kết quả đề xuất.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những đặc trưng cơ bản của
DHNVĐ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Xây dựng và sử dụng hệ thống CH nêu vấn đề vào dạy học bài “Phương
pháp thuyết minh” trong SGK Ngữ Văn 10.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
5.1. Phương pháp tổng hợp các vấn đề lý thuyết
Nghiên cứu lý thuyết về dạy học nêu vấn đề, các giáo trình lí luận dạy
học, SGK và các tài liệu liên quan tới đề tài.

5


5.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu để thấy được sự giống nhau,
khác nhau, đối chiếu để thấy được ưu nhược điểm của nó. Tác dụng của
phương pháp này là tăng sức thuyết phục và độ tin cậy cao cho nội dung.

bản thuyết minh (VBTM ) là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực của
đời sống nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất, nguyên
nhân… của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức
trình bày giới thiệu, giải thích… (Ngữ Văn 8 (tập 1), Tr. 126). Khi muốn triển
khai nội dung trình bày cho VBTM, một trong những yếu tố không thể thiếu
đó là PPTM. Đây được coi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ nội dung văn bản,
là công cụ được người viết sử dụng để biểu đạt nội dung và tạo ra VBTM có
giá trị. Nói cách khác, PPTM được hiểu là cách thức tổ chức lập luận nội
dung giới thuyết giúp người tạo lập văn bản có thể trình bày vấn đề một cách
phù hợp, đáp ứng tốt mục đích giao tiếp. Tương ứng với mỗi mục đích thuyết minh
khác nhau, người viết có những cách thức tổ chức biểu đạt nội dung riêng biệt nên
trong VBTM, các PPTM khá đa dạng và phong phú.
Khi muốn triển khai nội dung trong VBTM, một trong những yếu tố
không thể thiếu được là PPTM. Có thể nói PPTM chính là bộ khung để người
viết tạo lập một VBTM có giá trị.
PPTM được hiểu là hệ thống cách thức tổ chức nội dung thuyết minh để
người viết thuyết minh có thể giải thích, trình bày vấn đề một cách phù hợp

7


nhằm đạt được những mục đích giao tiếp nhất định. Vì vậy VBTM còn được
gọi là văn bản giới thiệu, thuyết trình.
1.1.2. Các phương pháp thuyết minh
Tương xứng với mọi mục đích thuyết minh khác nhau người viết có
những cách thức tổ chức nội dung thuyết minh khác nhau. Vì vậy trong văn
bản thuyết minh hệ thống PPTM rất đa dạng và phong phú. Trong VBTM
chúng ta thường gặp các PPTM sau:
1.1.2.1.Phương pháp nêu định nghĩa giải thích
Nêu định nghĩa, giải thích là phương pháp vận dụng tri thức, những hiểu

nghĩa, giải thích là cách người thuyết minh định danh một cách trực tiếp về
đặc điểm, bản chất của đối tượng để phân biệt nó với các đối tượng khác thì
chú thích lại là cách người viết lập luận để bổ sung và hiệu chỉnh ý nghĩa của
đối tượng, giúp người tiếp nhận văn bản hiểu hơn về ý nghĩa của đối tượng
trong thực tế khách quan. Khi sử dụng phương pháp chú thích chúng ta cần
phân biệt nó với phương pháp nêu định nghĩa, giải thích. Cụ thể:
Điểm giống nhau của hai phương pháp này đều có cấu trúc câu A là,
trong đó:

A: Đối tượng thuyết minh
B: Đặc trưng của đối tượng thuyết minh

Bên cạnh nét tương đồng hai phương pháp này có điểm khác biệt. Nếu
phương pháp nêu định nghĩa giải thích phải chỉ ra những yếu tố nói lên đúng
đặc điểm, bản chất của sự vật, hiện tượng để phân biệt nó với sự vật, hiện
tượng khác thì phương pháp chú thích không buộc phải chỉ ra đặc điểm bản
chất của sự vật hiện tượng mà chỉ là sự giải thích bổ sung một nội dung nào
đó cho vấn đề cần thuyết minh.
1.1.2.3. Phương pháp liệt kê
Để tiến hành tái hiện một cách đầy đủ những đặc trưng của đối tượng
cần thuyết minh, người tạo lập văn bản có thể sử dụng phương pháp này.
Trong VBTM, liệt kê là cách người viết trình bày nội dung thuyết minh theo

9


một trật tự nối tiếp nhau theo cấu tạo, thời gian, không gian, đặc điểm hoặc
tính chất của chúng. Đó là cách người viết sử dụng các luận điểm, luận cứ để
thể hiện các đặc trưng khác nhau của đối tượng thuyết minh, qua đó tạo ra sự phong
phú và tăng sức thuyết phục với người tiếp nhận.Ta bắt gặp phương pháp này trong

thật duyên dáng”.
(Theo Vũ Bằng – Thương nhớ mười hai, NXB Văn học Hà Nội 1993)
Lấy cơ sở là sự giản dị tác giả đã phân tích chỉ ra những đặc điểm thể
hiện sự giản dị của nhạc cụ hát trống quân.
Bản chất của phương pháp này là từ một đối tượng, một cơ sở cụ thể
người viết tách ra những kiểu loại, những khía cạnh khác nhau để giới thiệu.
Tuy nhiên cần lưu ý tới sự giống và khác nhau giữa phương pháp phân loại
phân tích và phương pháp liệt kê. Cả hai phương pháp này đều đòi hỏi người
thuyết minh phải kể ra những phương pháp nhỏ, cụ thể được chứa đựng trong
phương pháp lớn hơn hoặc trong toàn thể. Tuy nhiên khi sử dụng phương
pháp phân loại phân tích người viết còn phải tiếp tục giới thiệu trình bày về
những bộ phận được phân chia ra đó. Yêu cầu này không có ở phương pháp
liệt kê.
1.1.2.5. Phương pháp nêu ví dụ
Trong một VBTM để người nghe, người đọc tin vào những điều người
viết muốn nói và hình dung rõ đối tượng thuyết minh thì bên cạnh những lí lẽ,
dẫn dắt, việc đưa ra các dẫn chứng, bằng cớ chân thực, xác đáng sẽ làm tăng
sự thuyết phục với độc giả. Đáp ứng được yêu cầu trên khi thuyết minh người
viết thường sử dụng phương pháp nêu ví dụ.
“Ngày nay đi các nước phát triển, đâu đâu cũng nói lên chiến dịch
chống thuốc lá. Người ta cấm hút thuốc lá ở tất cả những nơi công cộng, phạt
những người vi phạm ( Ở Bỉ năm 1987 vi phạm lần thứ nhất phạt 40 USD tái
phạm phạt 500 USD ).
(Trích theo Ôn dịch thuốc lá - Nguyễn Khắc Viện, SGK Ngữ Văn 8, Tr. 119)

11


Khi thuyết trình về một tệ nạn xã hội - tệ nghiện thuốc lá tác giả Nguyễn
Khắc Viện đã sử dụng những con số những ví dụ cụ thể để chứng minh cho

cảm xúc để minh hoạ cho đối tượng cần thuyết minh.
Ví dụ: Các nhà khoa học cho biết: trong không khí, dưỡng khí chiếm
20% thể tích, thành khí chiếm 3%. Nếu không có bổ sung thi trong vòng 500
năm con người và động vật sẽ dùng hết dưỡng khí ấy đồng thời số thành khí
không ngừng gia tăng…
(Trích SGK Ngữ Văn 8, Nói về cỏ, Tr. 127,128)
Ví dụ : “Ta đến bệnh viện K sẽ thấy rõ bác sĩ viện trưởng cho biết trên
80% ung thư vòm họng và ung thư phổi là do thuốc lá”.
(Trích Ôn dịch thuốc lá – Nguyễn Khắc Viện, SGK Ngữ Văn 8, Tr. 119)
Ở ví dụ 1 nhờ số liệu được đưa ra, người nghe hiểu được tình trạng
lượng dưỡng khí rất ít và nguy cơ lượng dưỡng khí sẽ hết nếu không trồng
cây xanh và thảm cỏ. Tương tự như vậy ở ví dụ 2 nhờ việc đưa ra số liệu tác
giả đã cho người đọc thấy được độ nguy hiểm chết người mà thuốc lá gây ra
đối với con người.
1.1.2.7. Phương pháp so sánh
Trong quá trình biểu đạt nội dung thuyết minh, nhiều khi người TLVB
muốn tạo ra hình ảnh cho lời lập luận. Khi đó phương pháp so sánh là một
chọn lựa tối ưu. Đây là cách người thuyết minh dùng hình thức so sánh, đối
chiếu giữa đối tượng được thuyết minh với các sự vật, hiện tượng tương đồng
làm nổi bật sự khác biệt về đặc điểm tính chất của sự vật, sự việc. Tác dụng
của phương pháp trên là làm tăng sức thuyết phục và độ tin cậy cho nội dung
được thuyết minh. Ví dụ: trong câu văn sau, phương pháp so sánh được dùng
giúp người đọc có được ấn tượng cụ thể về diện tích của biển Thái Bình
Dương: “ Biển Thái Bình Dương chiếm một diện tích gần bằng 3 đại dương
khác cộng lại và lớn gấp 14 lần diện tích biển Bắc Băng Dương là đại dương
bé nhất”.

13



DHNVĐ là một kiểu học tập đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH hiện nay
trong nhà trường theo hướng tích cực háo hoạt động của người học. Kiểu dạy
học này là sản phẩm của quá trình đúc kết hệ thống những thành tựu của thực
tiễn dạy học trong những năm 60, 70 của thể kỷ. Các nhà nghiên cứu đều
khẳng định DHNVĐ là một kiểu dạy sáng tạo khác với dạy học truyền thống
về bản chất, mục đích cũng như phương tiện thực hiện.
Nói tới DHNVĐ, người ta thường nhắc tới tình huống có vấn đề và CH
có vấn đề. Tình huống có vấn đề: Là tình huống trong đó chủ thể nhận thức có
trạng thái tâm lí đặc biệt: cảm thấy cái “khó” trong nhận thức hay nói cách
khác có mâu thuẫn nhận thức giữa cái đã biết với cái chưa biết đồng thời có
mong muốn giải quyết mâu thuẫn bằng cách huy động những cái đã biết tạo
ra phương thức hành động mới để đạt được hiểu biết mới. Như vậy, vấn đề
trong dạy học được định nghĩa như là mâu thuẫn giữa sự hiểu biết, nó chỉ
được giải quyết bằng con đường tìm kiếm lời giải đáp cho những CH đã nảy
sinh ra. GV muốn áp dụng DHNVĐ trước hết phải phát hiện vấn đề tiềm tàng
từ đó tạo ra tình huống có vấn đề thu hút sự hưởng ứng của HS chuẩn bị cho
các hoạt động tiếp theo của quá trình dạy học.
1.2.2. Những vấn đề chung về câu hỏi nêu vấn đề
1.2.2.1. Khái niệm câu hỏi nêu vấn đề
Cùng với việc xác lập được tình huống có vấn đề, một trong những yếu
tố giúp HS có thể mở ra những chân trời tri thức mới chính là hệ thống CH
nêu vấn đề. CH nêu vấn đề là câu hỏi được GV sử dụng nhằm xác định rõ vấn
đề và là cơ sở để HS khám phá, tìm ra những đáp án được ẩn giấu trong tình
huống có vấn đề. Như vậy, CH nêu vấn đề chính là chìa khoá giúp cho cả GV
và HS làm rõ được những tri thức khoa học tiềm ẩn, tạo ra trí tò mò và hứng
thú cho HS, khuyến khích các em giải quyết vấn đề đặt ra.

15



1.2.2.3. Phân loại câu hỏi nêu vấn đề
Khi phân loại CH nêu vấn đề, người ta thường phân loại chúng theo cấp
độ nhận thức. Theo đó, người ta thường nhắc tới một số loại CH như sau:
Loại CH đầu tiên là CH nêu vấn đề ở mức độ biết. Loại CH này thường
ứng với mức độ lĩnh hội 1 “nhận biết”. Mục tiêu của loại CH này là để kiểm
tra trí nhớ của HS về các dữ liệu, các định nghĩa, tên tuổi, địa điểm. Thông
qua việc trả lời các CH này giúp HS ôn lại được những gì đã học, đã đọc hoặc
đã trải qua. Các từ để hỏi thường là: Cái gì…; bao nhiêu…; hãy định nghĩa…;
cái nào...;em biết những gì về…; khi nào…; bao giờ…; hãy mô tả…
Loại CH thứ hai có thể nhắc tới là CH nêu vấn đề ở mức độ CH hiểu loại CH được xây dựng dựa vào mức độ 2 “thông hiểu” trong thang nhận
thức. Chúng ta có thể sử dụng loại CH này khi kiểm tra cách HS liên hệ , kết
nối các dữ liệu, số liệu, tên tuổi, địa điểm, các định nghĩa… Việc trả lời các
CH này cho thấy HS có khả năng diễn tả bằng lời nói, nêu ra được các yếu tố
cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong nội dung đang học. Các cụm từ
để hỏi thường là: tại sao…; hãy phân tích…; hãy so sánh…; hãy liên hệ…;
hãy phân tích…
Một loại CH không thể thiếu trong quá trình dạy học là CH vận dụng.
Loại CH này được xây dựng trên mức độ “vận dụng”. Mục tiêu của loại câu
hỏi là để kiểm tra khả năng áp dụng các dữ liệu, các khái niệm, các quy luật,
các phương pháp vào hoàn cảnh và điều kiện mới. Thông qua các câu trả lời
của HS, GV có điều kiện đánh giá khả năng hiểu được các quy luật, các khái
niệm…có thể lựa chọn tốt các phương án để giải quyết, vận dụng các phương
án vào thực tiễn của từng cá nhân HS. Khi đặt CH cần tạo ra những tình
huống mới khác với điều kiện đã học trong bài học. Các cụm từ để hỏi thường
là: làm thế nào…; hãy tính sự chênh lệch giữa…; em có thể giải quyết khó
khăn về… như thế nào…

17





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status