Sử dụng Graph trong dạy học VHS ở THPT BM03- TMSKKN
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG SÔNG RAY
Mã số: ………….
ĐỀ TÀI
SỬ DỤNG GRAPH TRONG DẠY HỌC
VĂN HỌC SỬ Ở THPT
Người thực hiện: Trần Văn Hưng
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lí giáo dục:
Phương pháp dạy học bộ môn:
Phương pháp giáo dục:
Lĩnh vực khác:
Có đính kèm:
Mô hình. Phần mềm. Phim ảnh. Hiện vật khác
Năm học 2011 - 2012
Trang 1
Sử dụng Graph trong dạy học VHS ở THPT BM03- TMSKKN
I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật hiện nay dẫn đến kết quả là sự xuất hiện
nhanh, nhiều những tri thức, những kỹ năng và những lĩnh vực nghiên cứu mới. Đồng thời những
tri thức cũ nhanh chóng trở nên lỗi thời, lạc hậu, diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh. Trước
những thay đổi ấy, nếu con người không tiếp cận được với những tri thức mới, những hiểu biết
mới họ sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu với thời cuộc và bị đào thải. Xã hội hiện đại luôn đòi hỏi
con người phải nhạy bén với cái mới, nhanh chóng tiếp cận và nắm bắt các thành tựu của khoa
học kỹ thuật hiện đại. Những thành quả của các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay đã
và đang ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện đến tất cả các lĩnh vực khác nhau trong đời
sống xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo. Sự ra đời của lý thuyết đồ thị Graph cũng là một
trong những thành tựu của khoa học kỹ thuật mới.
2. Sự xuất hiện của các ngành khoa học mới, các vật liệu mới và sự giao thoa của các
ngành khoa học cũng là xu hướng chung của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại. Khoa
hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh không chỉ là định hướng mà còn đòi hỏi bằng
những hoạt động cụ thể để tiến hành đổi mới phương pháp dạy học. Vì vậy cần nghiên cứu xác
định các nguyên tắc, quy trình vận dụng của những phương pháp dạy học tích cực, giúp cho giáo
viên sử dụng một cách thuận lợi và có hiệu quả. Việc nghiên cứu và áp dụng phương pháp Graph
trong dạy học Văn học sử (VHS) ở Trung học phổ thông (THPT) là một hướng nhằm góp phần
đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng và trong dạy học nói chung.
Trang 2
Sử dụng Graph trong dạy học VHS ở THPT BM03- TMSKKN
4. Trong lý luận dạy học, vận dụng lý thuyết Graph đã trở thành một hướng tiếp cận mới
thuộc lĩnh vực phương pháp dạy học. Sử dụng Graph trong dạy học cho phép giáo viên quy hoạch
được quá trình dạy học tổng quát cũng như từng mặt của nó, thiết kế tối ưu hoạt động dạy - học
và điều khiển hợp lý quá trình này tiến tới công nghệ hóa một cách có hiệu quả quá trình dạy học
trong nhà trường theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh. Phần văn học sử
(VHS) trong chương trình Ngữ văn ở Trung học phổ thông (THPT)chiếm một tỉ lệ khá lớn, mà lại
có vị trí rất quan trọng trong chương trình Ngữ văn. Mặt khác phần văn học sử này được trình
bày theo một cấu trúc khái quát, lôgíc, khoa học, đi từ khái quát đến cụ thể. Điều này rất thuận lợi
cho việc mô hình hóa, hệ thống hóa các kiến thức bằng các sơ đồ Graph.
Từ những lí do trên, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Sử dụng Graph trong dạy học văn
học sử ở THPT” làm đề tài nghiên cứu chính thức. Đây là một đề tài khá mới mẻ, vì vậy, trong
quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này tôi rất mong được sự giúp đỡ của các thầy, các cô
trong toàn thể hội đồng sư phạm của nhà trường, các bạn bè đồng nghiệp và các em học sinh để
tôi hoàn thành đề tài này.
II/ NỘI DUNG THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận của đề tài
1.1. Những nội dung cơ bản về lý thuyết Graph
a. Khái niệm Graph
Theo từ điển Anh – Việt, (Graph) có nghĩa là đồ thị - biểu đồ gồm có một đường hoặc
nhiều đường biểu thị sự biến thiên của các đại lượng.
Nhưng, từ Graph trong lý thuyết Graph lại bắt nguồn từ từ “Graphie” có nghĩa là tạo ra
- Graph khép là Graph trong đó tất cả các cặp đỉnh đều có sự liên thông với nhau. Dạng
Graph này thường được sử dụng để biểu diễn mối quan hệ giữa các yếu tố trong một tổng thể
hoàn chỉnh, thể hiện sự chuyển đổi tuần hoàn của các yếu tố tạo ra một chu trình khép kín.
Ví dụ:
Sơ đồ 1. 3
- Graph mở là Graph trong đó không phải tất cả các đỉnh đều có sự liên thông với nhau (có
đường nối trực tiếp giữa hai đỉnh lại), trong đó có ít nhất hai đỉnh treo (đỉnh tự do không nối với
bất kỳ đỉnh nào). Dùng Graph dạng này để thể hiện mối quan hệ phân chia hoặc quan hệ tầng bậc.
Ví dụ:
Sơ đồ 1. 4
Trong dạy học VHS, tùy thuộc vào nội dung mỗi kiểu bài mà ta có thể sử dụng Graph khép
hay Graph mở tùy ý.
* Graph đủ, Graph câm và Graph khuyết
- Graph đủ là Graph mà tất cả các đỉnh đều được chú thích hay kí hiệu một cách đầy đủ
không thiếu một đỉnh nào.
Ví dụ:
Sơ đồ 1. 5
Graph khái quát về phần các giai đoạn phát triển của Văn học Trung đại Việt Nam
Ghi chú: A : Các giai đoạn phát triển của Văn học Trung đại Việt Nam
B : Từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV
C : Từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII
D : Từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX
E : Nửa cuối thế kỉ XIX
- Graph câm là Graph mà tất cả các đỉnh của nó đều để trống. Điều này có nghĩa là tất cả
các đỉnh của nó chỉ là một ô trắng, không có bất kỳ một sự lấp đầy nào bằng ngôn từ, bằng kí
hiệu hay một sự ghi chú nào ở mọi đỉnh.
Trang 4
A
B
C D E
- Nguyên tắc thống nhất giữa dạy và học
Tóm lại, những nguyên tắc cơ bản trên đây là những định hướng cần thiết cho việc thiết kế
Graph trong dạy học. Tuy nhiên trong quá trình thiết kế Graph dạy học cho mỗi môn học cần phải
Trang 5
A
B
G
Graph dạy học
Graph nội dung
Graph hoạt động
Sử dụng Graph trong dạy học VHS ở THPT BM03- TMSKKN
có những định hướng riêng. Kết quả của việc thiết kế Graph dạy học là quá trình lập được các
Graph nội dung và Graph hoạt động cho từng môn học cụ thể.
d. Quy trình xây dựng Graph
* Quy trình chung
Sơ đồ 1.9
* Quy trình cụ thể
- Thiết lập đỉnh
+ Chọn kiến thức chốt tối thiểu cần và đủ
+ Mã hóa kiến thức bằng kí hệu (còn gọi là sơ đồ).
+ Bố trí các đỉnh trên mặt phẳng.
- Thiết lập nội dung: Nối các đỉnh bằng các cung định hướng thể hiện mối quan hệ giữa
các dữ kiện.
- Kiểm tra lại Graph đã lập.
e. Vai trò của việc sử dụng Graph trong dạy học VHS ở THPT
- Dùng Graph để hệ thống hóa, cụ thể hóa các khái niệm VHS
Theo lý thuyết hệ thống, các cấu trúc vật chất tồn tại trong những hệ thống có tính chất
tầng bậc. Các khái niệm của VHS cũng được cấu trúc theo những hệ thống tầng bậc. Vì vậy, có
thể dùng Graph để hệ thống hóa, cụ thể hóa các khái niệm trong một tổng thể, qua đó mở rộng
hiểu biết về đối tượng cần nghiên cứu một cách khái quát.
nhân dân lao
động.
Văn học viết
là st của
những người
trí thức được
ghi lại bằng
chữ viết
Sử dụng Graph trong dạy học VHS ở THPT BM03- TMSKKN
chú ý, định hướng các hoạt động trí tuệ vào việc tìm tòi phát hiện ra những ý nghĩa cơ bản của tài
liệu nghiên cứu để tự chiếm lĩnh hệ thống tri thức mới.
Thứ hai: Những kiến thức mang tính hệ thống mà học sinh tự chiếm lĩnh được sẽ nhớ lâu
hơn, tái hiện chính xác hơn, vì sự chiếm lĩnh những kiến thức đó gắn liền với sự tự nhận thức có
ý nghĩa.
Thứ ba: Vốn kiến thức của học sinh cũng sẽ được huy động dễ dàng hơn, tốt hơn để giải
quyết những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình tìm tòi những mối liên hệ giữa các yếu tố của
các kiến thức cần chiếm lĩnh.
Ví dụ: Bài “Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng tám 1945”.
Dựa vào cấu trúc tài liệu SGK chúng ta có thể hệ thống hóa các đơn vị kiến thức bằng một
Graph (sơ đồ 1.11):
Sơ đồ 1. 11
- Dùng Graph để luyện tập, củng cố và kiểm tra kiến thức VHS
Luyện tập là làm đi làm lại nhiều lần theo nội dung đã học để cho thành thạo.
Kiểm tra, đánh giá là khâu hết sức quan trọng trong quá trình giảng dạy và học tập. Kiểm
tra và đánh giá không những nhằm phân loại chất lượng giảng dạy và học tập mà điều quan trọng
là để điều chỉnh quá trình này theo một chiều hướng tích cực, lành mạnh. Nói một cách cụ thể
hơn, kiểm tra đánh giá trước hết nhằm đánh giá trình độ, năng lực nhận thức của học sinh vào
những thời điểm cụ thể, theo mục tiêu của chương trình môn học. Trên cơ sở đó, có thể điều
chỉnh kịp thời nội dung và phương pháp, phương tiện dạy học sao cho phù hợp để đạt hiệu quả
cao nhất. Để luyện tập củng cố và kiểm tra các kiến thức VHS chúng ta có thể sử dụng các Graph
dung tư
tưởng
Về hình
thức thể
loại
Khái quát VHVN từ đầu TK XX
đến Cách mạng tháng tám 1945
Sử dụng Graph trong dạy học VHS ở THPT BM03- TMSKKN
hình thức thảo luận nhóm, hoặc khi làm các bài tập thực hành. Trước hết giáo viên hướng dẫn
học sinh đọc và nghiên cứu nội dung bài học trong sách giáo khoa hoặc theo dõi phim tài liệu hay
quan sát các đồ dùng dạy học (tranh, ảnh, hay các sơ đồ ) cụ thể, sau đó yêu cầu học sinh tự lập
các Graph để thể hiện các mối quan hệ của các yếu tố được thể hiện trong bài học. Hình thức này
giúp cho học sinh có một phong cách tự học theo sách giáo khoa một cách chủ động, tích cực.
+ Tự học ở nhà
Tự học ở nhà với mục đích thu nhận kiến thức mới hoặc ôn tập, ghi nhớ và vận dụng kiến
thức một cách linh hoạt. Bằng Graph, học sinh có thể tự lập được dàn ý cơ bản các nội dung học
tập. Từ đó có điểm tựa để học sinh ghi nhớ kiến thức theo một hệ thống logic, khoa học. Những
hình ảnh của Graph sẽ giúp cho học sinh vận dụng kiến thức một cách nhanh chóng.
Thông qua học tập bằng Graph, học sinh sẽ hình thành tư duy hệ thống. Qua những bài tập,
những câu hỏi mang tính khái quát, giáo viên sẽ hình thành cho học sinh một phong cách tự học
khoa học. Nhờ những Graph thể hiện mối quan hệ của các kiến thức, học sinh sẽ có một phương
pháp ghi nhớ bằng “ngôn ngữ” Graph, vừa ngắn gọn, lâu bền và dễ tái hiện, dễ vận dụng trong
những hoàn cảnh cụ thể.
Thường xuyên hướng dẫn học sinh tự học bằng Graph sẽ giúp học sinh có thói quen để tự
học suốt đời một cách khoa học.
Để học sinh có thể tự học bằng Graph, chúng ta hướng dẫn các em thực hiện qua các bước
sau:
Bước 1: Yêu cầu học sinh tự đọc, nghiên cứu tài liệu.
Bước 2: Học sinh tiến hành lập Graph nội dung dựa trên những mục tiêu của bài học và
những nhiệm vụ mà giáo viên đặt ra thông qua các câu hỏi.
Trang 8
Sử dụng Graph trong dạy học VHS ở THPT BM03- TMSKKN
- Kiểu bài VHS có tính chất tổng quan: “Tổng quan về văn học Việt Nam qua các thời kỳ
lịch sử” – SGK Ngữ văn lớp 10 (cả bộ cơ bản và nâng cao)
Đây là kiểu bài VHS mang tính khái quát cao so với toàn bộ tri thức văn học sử trong
chương trình Ngữ văn ở THPT. Được biên soạn ở chương trình lớp 10 (bài đầu tiên), trong cả hai
bộ sách (bộ cơ bản và bộ nâng cao). Về cấu trúc, bài VHS này được cấu tạo một cách khoa học
và logíc theo một phương pháp diễn dịch từ khái quát vĩ mô đến khái quát vi mô theo từng phần
cụ thể: Khái quát về các thành phần cấu tạo; quá trình phát triển của văn học Việt Nam; đối tượng
phản ánh trong văn học. Kết cấu này rất thuận lợi cho việc sử dụng Graph trong việc giảng dạy
của giáo viên và học sinh. Bởi, nhìn vào sơ đồ Graph học sinh có thể thấy một cách tổng quan
nhất về các bộ phận cấu thành, các thời kỳ phát triển và đối tượng chính được phản ánh trong văn
học là gì.
- Kiểu bài VHS về khái quát thời kỳ VH
Kiểu bài khái quát về thời kỳ văn học chiếm một tỉ lệ khá lớn trong toàn bộ các kiểu bài
văn học sử được biên soạn trong chương trình Ngữ văn THPT. Kiểu bài văn học sử này được
biên soạn ở cả ba khối lớp 10, 11,12 (cả bộ cơ bản và bộ nâng cao).
+ Chương trình Ngữ văn lớp 10 (bộ cơ bản và bộ nâng cao) có bài : Khái quát văn học Việt
Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX.
+ Chương trình Ngữ văn lớp 11:
SGK Ngữ văn 11 (cả bộ cơ bản và bộ nâng cao): Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế
kỉ XX đến cách mạng tháng tám 1945.
+ Chương trình Ngữ văn lớp 12:
SGK Ngữ văn 12 (cả bộ cơ bản và bộ nâng cao): Khái quát văn học Việt Nam từ cách
mạng tháng tám 1945 đến hết thế kỉ XX.
Về đặc điểm: Các bài khái quát về thời kỳ văn học thường bao quát những thời gian phân
kỳ, chứa đựng khối lượng tư liệu lớn và các nhận định mang tính chất trừu tượng cao. Về mặt cấu
trúc bề mặt và cấu trúc chiều sâu của kiểu bài văn học sử này là:
Về cấu trúc bề mặt, các bài VHS về thời kỳ văn học cơ bản có các phần sau: Phần mở đầu,
hoàn cảnh lịch sử - xã hội, giá trị văn học (bao gồm giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật), kết
Mị Châu - Trọng Thủy” (SGK Ngữ văn 10, tập một – Tr 39); Thể loại Truyện cổ tích được giới
thiệu trong bài “Tấm Cám” (SGK Ngữ văn 10, tập một – Tr 65)…
Về đặc điểm: Kiểu bài này thường được cấu trúc gồm các phần chính: Định nghĩa (khái
niệm), những đặc trưng cơ bản, hệ thống thể loại và các giá trị văn học. Ngoài ra kiểu bài này
thường chứa đựng rất nhiều các khái niệm (các khái niệm về từng thể loại cụ thể), các tư liệu về
các thể loại khác nhau.
Có thể hình dung qua Graph (sơ đồ 1.13).
Graph cấu trúc kiểu bài VHS khái quát về thể loại VH.
Sơ đồ 1. 13
Với cấu trúc này, chúng ta rất dễ ràng sử dụng Graph để dạy các kiểu bài khái quát về thể
loại văn học.
- Kiểu bài VHS về tác gia VH
Đây là kiểu bài chiếm ưu thế về số lượng, với 08 bài có phân phối tiết dạy riêng (cả bộ cơ
bản và bộ nâng cao), ngoài ra, hầu hết các tác phẩm, đoạn trích được trích giảng trong chương
trình Ngữ văn ở THPT đều có phần giới thiệu về tác giả (được giới thiệu trong phần tiểu dẫn
trước khi giới thiệu về tác phẩm, đoạn trích). Tuy nhiên, trong số các tác gia được giới thiệu
chương trình SGK hiện nay ở hai bộ sách (cơ bản và nâng cao) có một số khác nhau (về số lượng
tác giả được giới thiệu và vị trí).
Trang 10
Khái quát thể
loại văn học
Khái niệm chung
Đặc trưng cơ bản
Hệ thống thể loại
(Mỗi thể loại đều có
KN, đặc trưng
riêng)
Các giá trị văn học
Sử dụng Graph trong dạy học VHS ở THPT BM03- TMSKKN
Về số lượng tác gia được giới thiệu: Trong bộ SGK Ngữ văn lớp 10, 11, 12 (bộ cơ bản) thì
mà nhà văn sống (diễn dịch). Phần sự nghiệp văn chương thường được chia làm hai phần đó là:
nội dung văn chương và nghệ thuật văn chương.
Xem sơ đồ 1.14.
Graph cấu trúc về kiểu bài VHS về tác gia VH
Sơ đồ 1. 14
Trang 11
Vài nét về tiểu sử Sự nghiệp văn chương
Nội dung văn
chương
Nghệ thuật
văn chương
kết luận
kiểu bài về tác gia văn học
Sử dụng Graph trong dạy học VHS ở THPT BM03- TMSKKN
Như vậy, với cấu trúc bề mặt của kiểu bài văn học sử này giúp chúng ta có thể dễ ràng trong
việc lập Graph trong quá trình giảng dạy.
- Kiểu bài VHS về tác phẩm văn học
Đây là kiểu bài chiếm vị trí khá ít trong chương trình Ngữ văn ở THPT hiện nay, chỉ với
hai tác phẩm được giới thiệu (được phân phối tiết dạy riêng) và được giới thiệu trong chương
trình của bộ SGK Ngữ văn nâng cao.
Cụ thể là các tác phẩm:
Tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, trong chương trình SGK Ngữ văn lớp 10 (bộ
nâng cao – Tr 127).
Tác phẩm “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh, trong chương trình SGK Ngữ văn lớp 11
(bộ nâng cao – Tr 66).
Về đặc điểm: Tùy thuộc vào thể loại, nội dung của mỗi tác phẩm và quan điểm trình bày
của mỗi tác giả biên soạn cho nên, việc trình bày của kiểu bài này có cấu trúc tương đối khác
nhau. Chẳng hạn, trong bài “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh được cấu trúc theo 3 nội dung
chính xem sơ đồ 1.15
Graph cấu trúc về kiểu bài VHS về tác phẩm văn học
một quá trình học sinh đã được tiếp xúc với các tác giả và nhất là một lượng tác phẩm đã được
học và đọc thêm hết sức phong phú của từng thời kỳ văn học. Vì vậy, việc khái quát – tổng hợp
một mặt phải dựa vào các kiến thức khái quát tổng quát, mặt khác phải dựa vào các kiến thức cụ
thể đã được học qua các tác giả, tác phẩm. Nói cách khác, khái quát – tổng quát là chưa đi sâu
vào cái cụ thể, còn khái quát – tổng hợp là sự khái quát cao hơn nhờ thông qua tập hợp các hiện
tượng minh họa cụ thể.
Thứ hai: Kiểu bài ôn tập văn học vừa là ôn tập kiến thức VHS, vừa là ôn tập kiến thức
giảng văn. Vì vậy, yêu cầu của bài ôn tập văn học này là phải đạt đến các kiến thức VHS ở cấp độ
tổng hợp cao. Bài ôn tập văn học được xác định là bài ôn tập có tính VHS cần hướng đến các yêu
cầu sau:
+ Củng cố kiến thức VHS và giảng văn không phải là trở lại từng bài mà phải nâng cao
kiến thức VHS và giảng văn thành các khái niệm, phạm trù, quy luật văn học gắn với lý luận văn
học và các quan điểm nghiên cứu văn học.
+ Hệ thống hóa kiến thức VHS và giảng văn phải có sự kết hợp tính hệ thống lôgíc và hệ
thống lịch sử, đồng thời phải có sự đối chiếu, so sánh… .
Như vậy, nếu giờ ôn tập văn học chỉ là chuẩn bị theo câu hỏi và đến lớp trả lời theo các câu
hỏi thì chưa đạt được các yêu cầu trên. Theo các yêu cầu trên thì kiểu bài ôn tập VHS là bài học
nhằm phát triển cao năng lực tư duy của học sinh và bồi dưỡng các quan điểm nghiên cứu văn
học cho các em chứ không phải là bổ sung kiến thức. Chính vì thế mà đòi hỏi chúng ta cần phải
hướng dẫn cho học sinh biết cách hệ thống hóa các kiến thức VHS và kiến thức văn học theo một
kết cấu chặt chẽ và có tính khái quát – tổng hợp cao. Để thực hiện được điều này, việc sử dụng sơ
đồ Graph có thể coi là thuận lợi hơn cả.
Tiểu kết
Để xác lập cơ sở cho đề tài, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu một số vấn đề có
tính chất lý luận về lý thuyết Graph. Đồng thời tiến nghiên cứu, khảo sát về vị trí, vai trò, cấu trúc
của các dạng bài văn học sử trong chương trình Ngữ văn ở THPT. Sau khi tìm hiểu, nghiên cứu và
tôi rút ra một số kết luận sau:
Thứ nhất: Nghiên cứu về lý thuyết Graph chúng tôi nhận thấy lý thuyết Graph là một hệ
thống sơ đồ rất đa dạng, được kết cấu bởi các đỉnh và sắp xếp dưới dạng tầng bậc. Mỗi tầng bậc
của Graph lại được nối với nhau bởi các cung, các cung này chỉ rõ mối quan hệ lôgíc giữa các
trình Ngữ văn ở THPT thường có dung lượng kiến thức lớn, các kiến thức lại có tính khái quát,
trừu tượng cao, mà thời lượng chương trình dành cho mỗi bài lại quá ít (chỉ từ 1 - 2 tiết/bài). Vì
vậy, rất khó khăn cho người soạn giảng, vừa phải làm sao truyền đạt được hết những nội dung
kiến thức trong bài sao cho dễ tiếp thu đối với học sinh. Lại vừa phải đảm bảo được thời gian, kế
hoạch giảng dạy thì quả thật là điều rất khó. Chính vì thế việc sử dụng Graph trong dạy các bài
VHS ở THPT phải góp phần vào giải quyết vấn đề này.
- Điều quan trọng hơn cả là sử dụng Graph trong dạy VHS ở THPT phải đạt được mục
đích, nhu cầu giảng dạy và học tập mà tất cả xã hội đã và đang rất quan tâm, đó chính là việc góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục. Đúng vậy, mục đích của việc sử dụng Graph trong dạy văn
học sử ở THPT phải làm sao giúp cho người học tiếp thu các kiến thức VHS một cách có hiệu
quả. Đồng thời phải phát huy được tính tích cực, sự say mê hứng thú và tính sáng tạo trong học
tập của học sinh.
b. Yêu cầu
Graph là một hệ thống, trong đó các đỉnh của Graph chính là đại diện cho những yếu tố
trong hệ thống đó. Vì vậy, để lập được Graph nội dung và Graph hoạt động cho bài VHS, phải
đáp ứng được những điều kiện sau: Trước hết, bài VHS phải gồm từ hai yếu tố trở lên; nhưng nếu
chỉ có một tập hợp số lượng các yếu tố, tập hợp ấy vẫn chưa đủ điều kiện để lập thành một Graph.
Graph là một chỉnh thể nên các yếu tố tham gia vào chỉnh thể phải có quan hệ chặt chẽ với nhau
và tác động qua lại lẫn nhau. Nói cách khác, các yếu tố đó phải xác lập được mối quan hệ của nó
với các yếu tố khác trong cùng Graph.
Graph nội dung của một bài VHS là bản tóm tắt nội dung cơ bản của bài học một cách trực
quan. Vì vậy, khi tiến hành lập Graph giáo viên phải nêu được danh mục các kiến thức cơ bản
của bài học. Tức là nêu được những gì chủ chốt, cơ bản mà học sinh cần phải hiểu, cần vận dụng
để từ đó có thể suy ra những hiểu biết khác của bài. Đồng thời giáo viên phải cung cấp được
những nội dung chủ chốt của bài VHS dưới dạng tóm tắt, ký hiệu hay công thức. Khi lập Graph
phải trình bày sao cho người học thấy rõ được mối quan hệ ngang bậc, rẽ nhánh, dưới bậc… . Từ
đó, người học thấy được sự phát triển bên trong, nội tại của những nội dung, những kết luận
chính và những kết luận phụ thuộc. Nói cách khác là phải làm sao để cho những nội dung chính
của bài học được hiện lên một cách trực quan, hệ thống, khái quát, lôzíc và thật súc tích, tạo điểm
tựa cho việc lĩnh hội và tái hiện tri thức bài học của người học được dễ dàng và đạt hiệu quả cao
giữa việc sử dụng Graph với các phương pháp và các phương tiện dạy học để nâng cao hơn
nữa chất lượng dạy học VHS ở trường THPT.
2.3. Các biện pháp thực hiện
Sử dụng Graph trong dạy học nói chung và dạy học văn học sử nói riêng cần phải tiến hành
qua hai giai đoạn chính.
a. Lập Graph nội dung
Quy trình lập Graph nội dung dạy học (dùng cho cả giáo viên và học sinh). Trước hết giáo
viên cần nghiên cứu nội dung chương trình giảng dạy để lựa chọn những bài, những tổ hợp kiến
thức có khả năng lập Graph nội dung. Mỗi loại kiến thức sẽ có loại Graph nội dung tương ứng.
Từ những nội dung dạy học trong tài liệu sách giáo khoa, giáo viên dùng phương pháp Graph để
lập sơ đồ nội dung dạy học. Đây là giai đoạn quan trọng nhất đối với việc sử dụng Graph trong
dạy học VHS và là giai đoạn có tính chất quyết định đối với các giai đoạn về sau. Quy trình này
được tiến hành qua các bước sau:
Sơ đồ 2.1
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài học
Trước khi tìm hiểu về đối tượng đòi hỏi giáo viên vừa phải nắm được bản chất của đối
tượng, vừa phải hiểu thật rõ về logic cần trình bày của bài học.
Để làm tốt được nội dung này, giáo viên phải đọc và nghiên cứu thật kĩ nội dung bài học
trong sách giáo khoa và các tài liệu có liên quan đến nội dung bài học để nắm vững các khái
niệm, các luận điểm chính cần cung cấp cho học sinh. Có làm tốt công việc đó, người giáo viên
Trang 15
Phương pháp
lập Graph nội
dung bài học
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài học
Bước 2: Lập danh mục kiến thức cơ bản
Bước 3: Xác định đỉnh của Graph và mã hóa kiến thức
Bước 4: Xếp đỉnh và lập cung cho Graph
Bước 5: Kiểm tra Graph đã lập
Sử dụng Graph trong dạy học VHS ở THPT BM03- TMSKKN
1. Thần thoại 5. Truyện ngụ ngôn 9. Ca dao
2. Sử thi 6. Truyện cười 10. Vè
3. Truyền thuyết 7. Tục ngữ 11. Truyện thơ
4. Truyện cổ tích 8. Câu đố 12. Chèo
III – Những giá trị cơ bản của văn học dân gian Việt Nam
1. Văn học dân gian là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc.
2. Văn học dân gian có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lí làm người.
3. Văn học dân gian có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần quan trọng tạo nên bản sắc riêng
cho nền văn học dân tộc.
Như vậy, những kiến thức cơ bản của bài học đã được xác định, chúng ta chỉ cần lập chúng
thành một danh mục sao cho đúng thứ tự và tầng bậc của chúng để công việc xác định đỉnh của
Graph được dễ dàng.
Bước 3: Xác định đỉnh của Graph và mã hóa kiến thức
* Xác định đỉnh của Graph
Việc xác định đỉnh của Graph phụ thuộc vào nội dung kiến thức mà chúng ta vừa xác định.
Mỗi đơn vị kiến thức chốt sẽ là một đỉnh của Graph, như vậy một bài học có bao nhiêu kiến thức
chốt thì Graph sẽ có bấy nhiêu đỉnh.
* Mã hóa kiến thức bằng kí hệu.
Trong sơ đồ mạng, do khuôn khổ của các khung, các ô không cho phép sử dụng nhiều từ,
nhiều câu. Hơn nữa, do đặc điểm của Graph là trực quan, là khái quát hóa và tổng hợp. Cho nên
khi lập Graph ta không thể đưa đầy đủ, trọn vẹn câu chữ của các đơn vị kiến thức trong nội dung
Trang 16
Sử dụng Graph trong dạy học VHS ở THPT BM03- TMSKKN
bài học vào các khung, các ô của Graph được. Bởi vậy, khi tiến hành lập Graph có những đơn vị
kiến thức cần phải đặt các kí hiệu qui ước.
Thực chất của vấn đề này là biến nội dung các kiến thức cơ bản chứa đựng trong các đỉnh
của Graph thành một bản tin thật súc tích, ngắn gọn, dễ hiểu đối với học sinh. Sự mã hóa cũng
rất đa dạng, chúng ta có thể dùng chữ cái viết tắt, các con số, một kí hiệu nào đó hay rút ngắn lại
những kiến thức đó bằng cách loại bỏ những từ ngữ không quan trọng, không cần thiết.
Điều cần lưu ý là những chữ cái viết tắt, con số hay những kí hiệu dùng để mã hóa nội
đảm được những yêu cầu sau:
Thứ nhất: Phải chú ý đến tính khoa học, nghĩa là phải phản ánh được logic phát triển bên
trong của nội dung bài học (tài liệu giáo khoa).
Thứ hai: Phải bảo đảm tính sư phạm: Dễ thực hiện đối với giáo viên, đồng thời dễ hiểu đối
với học sinh.
Thứ ba: Phải bảo đảm tính trực quan, tính khái quát cao.
Trong mỗi Graph thường có rất nhiều đỉnh, số lượng đỉnh phụ thuộc vào nội dung của
từng loại bài VHS. Tuy nhiên, các loại đỉnh đó có thể được phân chia và gọi tên cụ thể như sau:
- Đỉnh xuất phát: Đỉnh này được coi là trọng tâm của Graph
Nếu Graph mà chúng ta lập cho toàn bộ nội dung kiến thức của một bài học thì đỉnh này
chính là tiêu đề (tên) của bài học đó. Còn khi chúng ta chỉ lập Graph cho một đơn vị kiến thức
nào đó của một bài học thì đỉnh này có thể là một sự kiện, một khái niệm hay một đề mục nào đó
trong bài học.
Trang 17
Sử dụng Graph trong dạy học VHS ở THPT BM03- TMSKKN
Ví dụ: Khi lập Graph cho bài “Khái quát văn học dân gian Việt Nam”, (SGK Ngữ văn 10,
tập một, chương trình chuẩn). Đỉnh xuất phát của Graph này chính là
Sơ đồ 2.2
Đỉnh chính: Là những đỉnh gắn trực tiếp và bắt nguồn từ đỉnh xuất phát, nêu tên các đơn vị
kiến thức trọng tâm của bài học. Khi lập Graph cho toàn bài, thì mỗi đơn vị kiến thức sẽ có một
đỉnh chính tương ứng.
Chẳng hạn trong bài “Khái quát văn học dân gian Việt Nam” sẽ có ba đỉnh chính đó là:
Sơ đồ 2.3
Đỉnh phụ: Là đỉnh được bắt nguồn từ đỉnh chính chứ không phải là từ đỉnh xuất phát.
Những đỉnh này sẽ cụ thể hóa, chi tiết hóa, bổ sung và làm rõ hơn những nội dung trọng tâm của
bài học đã được nêu ở đỉnh chính. Trong Graph, có thể tất cả các đỉnh chính đều có đỉnh phụ,
nhưng cũng có thể chỉ có một hoặc hai đỉnh chính có các đỉnh phụ, còn các đỉnh khác thì không
có. Số lượng đỉnh phụ phụ thuộc vào nội dung kiến thức của mỗi bài học.
Ví dụ:Trong ba đỉnh chính của bài “Khái quát văn học dân gian Việt Nam” có các đỉnh phụ
sau:
là cụ thể hóa những kiến thức trong đỉnh phụ.
Như vậy, trong mối quan hệ giữa các đỉnh của Graph thì đỉnh xuất phát là đỉnh mang nội
dung khái quát nhất, còn đỉnh nhánh là đỉnh mang nội dung cụ thể, chi tiết nhất, khép lại toàn bộ
Graph. Ta có thể hình dung qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.5
* Lập cung cho Graph
Lập cung cho Graph tức là thiết lập các mối quan hệ giữa các đỉnh của Graph, đó là mối
liên hệ của các kiến thức trong bài học. Các cung này được biểu hiện bằng các đường thẳng hoặc
các mũi tên thể hiện tính hướng đích của nội dung.
Các mối quan hệ đó phải bảo đảm tính logic khoa học, những quy luật khách quan và tính
hệ thống của nội dung kiến thức.
Việc lập cung cho Graph thực chất là việc dùng các đường thẳng hay các mũi tên để nối
các đỉnh của Graph lại với nhau theo một trật tự logic của các đỉnh đã được sắp xếp trước đó.
Bước 5: Kiểm tra lại Graph đã lập
Kiểm tra Graph đã lập là việc xem xét đối chiếu lại Graph đã lập với những nội dung kiến
thức của bài học VHS, nhằm xác định tính đúng đắn và tính thẩm mĩ của nó. Ngoài ra việc kiểm
tra lại Graph đã lập còn giúp chúng ta xác định được tính phù hợp của nội dung bài VHS với kiểu
Graph mà chúng ta đã lập.
Cụ thể của bước này là: Trước hết, chúng ta cần đối chiếu các kiến thức chốt trong danh mục
đã được xác định ở phần trước với các đỉnh của Graph xem số lượng của các đỉnh đã đầy đủ và
chính xác hay chưa (nếu thiếu hoặc chưa chính xác thì chúng ta bổ sung còn nếu đã đầy đủ và
chính xác thì chúng ta qua bước tiếp theo).
Tiếp theo, chúng ta đối chiếu giữa việc sắp xếp các đỉnh, việc sử dụng các cung của Graph
đối với các mối quan hệ lôgíc bên trong của những nội dung kiến thức chốt với các kiến thức cụ
thể, để xem xét xem các cung mà chúng ta sử dụng đã phù hợp với các mối quan hệ lôgíc đó hay
không.
Cuối cùng, chúng ta kiểm tra xem Graph mà chúng ta đã lập có tính thẩm mĩ hay chưa (đã
đẹp mắt hay chưa và có thể dễ dàng thực hiện cho học sinh hay không).
Sau khi chúng ta kiểm tra xong, thì mới hoàn thành việc lập Graph nội dung cho bài học
VHS.
Tính tập thể
Thần thoại
Sử thi
Truyền thuyết
Truyện cổ tích
Ngụ ngôn
Truyện cười
Tục ngữ
Câu đố
Ca dao
Truyện thơ
Vè
Chèo
Những
giá
trị
cơ
bản
Kho tri thức phong
phú
GD đạo lí làm người
Giá trị thẩm mĩ to lớn
Khái
quát
VHDG
Việt
Nam
Sử dụng Graph trong dạy học VHS ở THPT BM03- TMSKKN
Những hoạt động dạy – học của giáo viên và học sinh ở trên lớp mang tính hệ thống. Hệ
thống các hoạt động sư phạm nếu được tổ chức hợp lí sẽ giúp cho hoạt động học tập của học sinh
Hoạt động 1
Thao tác 1
Thao tác 2
Thao tác 1
Thao tác 2
Thao tác 1
Thao tác 2
Thao tác 1
Nội dung 3
Thao tác 2
Thao tác 1
Thao tác 2
Thao tác 1
Sử dụng Graph trong dạy học VHS ở THPT BM03- TMSKKN
Qui trình triển khai Graph nội dung thành bài giảng trên lớp cần phải tiến hành qua hai giai
đoạn chính đó là : Xây dựng giáo án lên lớp và triển khai giáo án thành bài giảng trên lớp.
Cụ thể theo sơ đồ 2.8:
Sơ đồ 2.8
- Xây dựng giáo án lên lớp:
Giáo viên dựa vào Graph nội dung bài học, kết hợp với các phương pháp khác để soạn ra
một cấu trúc chi tiết của bài lên lớp. Khi xây dựng giáo án cần chú ý đến việc lựa chọn các
phương án trình bày khác nhau đối với các Graph . Có thể trình bày theo lối quy nạp (giảng giải
rồi mới đi tới nội dung của Graph) hay diễn dịch (đưa ra các Graph rồi mới giảng giải).
Qui trình cụ thể có thể tiến hành qua các bước sau:
Bước 1: Dựa vào Graph nội dung để dự kiến các hình thức, phương pháp và các phương
tiện hỗ trợ sao cho phù hợp.
Bước 2: Tìm cách đặt vấn đề cho từng nội dung kiến thức trong từng đỉnh của Graph. Cần
chú ý đến sự phát triển lôgíc của từng nội dung bài học (tức là phải chú ý tới các mối liên hệ bên
trong giữa các đỉnh của Graph đã được biểu thị bằng các cung trong Graph nội dung).
Các ví dụ cụ thể chúng tôi trình bày cụ thể trong phần: Thiết kế giáo án mẫu
+ Hình thức thứ ba: Giáo viên đưa ra một Graph khuyết (Graph chưa đầy đủ), yêu cầu học
sinh trao đổi thảo luận và hoàn thiện Graph nội dung cho bài học. Với hình thức này, học sinh
được giáo viên tập cho quen dần với việc tự lập Graph nội dung cho bài học.
+ Hình thức thứ tư: Giáo viên cho trước một Graph câm (các đỉnh đều rỗng), tổ chức cho
học sinh nghiên cứu tài liệu, trao đổi thảo luận và tự điền nội dung vào các đỉnh của Graph cho
hoàn chỉnh.
+ Hình thức thứ năm: Giáo viên yêu cầu học sinh về nhà tự nghiên cứu bài học trước, rồi
tự lập Graph nội dung cho bài học theo những yêu cầu của giáo viên và những yêu cầu của sách
giáo khoa, đến giờ học trên lớp giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện trên bảng. Giáo viên kết hợp
vừa giảng vừa sửa chữa bổ sung và hoàn thiện cho học sinh.
+ Hình thức thứ sáu: Giáo viên tổ chức cho học sinh tự nghiên cứu tài liệu SGK ở tại lớp
(giống như một giờ làm bài tập) rồi tự lập Graph nội dung cho bài học, sau một thời gian nhất
định, giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng lập Graph nội dung cho bài học, giáo viên sửa chữa và
đưa ra mẫu chung.
Tóm lại, khi triển khai bài giảng trên lớp, phương pháp tốt nhất của giáo viên là giảng đến
đâu cho phép hiện ngay Graph nội dung đến đấy, trên màn hình qua đèn chiếu dần dần cho xuất
hiện các vùng kiến thức chốt và các mối liện hệ giữa chúng theo trình tự nội dung của bài học.
Khi trình bày nội dung ở từng đỉnh, giáo viên nên sử dụng tổng hợp các phương pháp dạy học
khác nhau (như diễn giảng, phân tích, gợi mở, nêu vấn đề, hay thảo luận nhóm…) và những ví dụ
minh họa để làm cho bài giảng thêm sinh động nhằm tạo hứng thú nhận thức, kích thích tư duy
tích cực của học sinh. Đối với những vấn đề không quá khó và phức tạp, giáo viên có thể sử dụng
Graph khuyết hay Graph câm rồi gợi ý cho học sinh tự hoàn thiện tri thức. Còn đối với các vấn đề
khó, vấn đề phức tạp thì giáo viên nên dùng các Graph chi tiết để minh họa, giải thích nhằm giúp
học sinh lĩnh hội tri thức được tốt hơn. Cuối tiết giảng (kết thúc mỗi bài học) giáo viên nên dùng
Graph tổng hợp để kết luận bài học, chốt lại những kiến thức trọng tâm, kiến thức cơ bản nhất của
bài học để học sinh có một cái nhìn tổng quát nhất về nội dung bài học.
2.4. Thiết kế giáo án mẫu
Ngày soạn: 22/10/2011
Ngày dạy: 24/10/2011
Bài: NHẬT KÍ TRONG TÙ của Hồ Chí Minh
Hoạt động 4
Hướng dẫn học sinh tìm hiểu cấu trúc bài học
Thao tác 1. Yêu cầu học sinh quan sát các đề mục lớn trong SGK ( từ trang đến hết trang )
và hãy vẽ Graph khái quát về cấu trúc của bài học?
Thao tác 2. Giáo viên nhận xét bổ sung và hoàn thiện Graph cấu trúc bài học qua đèn
chiếu:
Sơ đồ 2.14
Hoạt động 5
Hướng dẫn học sinh tìm hiểu phần I: Hoàn cảnh ra đời của tập Nhật kí trong tù.
Thao tác 1: Giáo viên yêu cầu học sinh đọc mục I trong SGK và trả lời câu hỏi:
Câu hỏi 1: Tập thơ được Bác sáng tác trong hoàn cảnh cụ thể nào? ( thời gian, địa điểm, điều kiện
sống của tác giả?)
Câu hỏi 2: Hãy kể một câu chuyện về Bác trong thời gian Bác bị cầm tù ở TQ mà em được biết?
Thao tác 2: Giáo viên vừa nhận xét vừa thuyết giảng
Trang 24
Hoàn
cảnh
sáng tác
ND và
ngh/t
của tác
phẩm
Một số
điểm
lưu ý về
tập thơ
Nhật kí trong tù
Sử dụng Graph trong dạy học VHS ở THPT BM03- TMSKKN
Sơ đồ 2.15
Hoạt động 6
giải trí và thể
hiện ý chí kiên
cường của người
cộng sản, nhưng
NKTT vẫn là
một t/p vh vô
giá.
Một số điểm lưu ý về tập thơ
134 chữ
Hán
4 tháng đầu
s/t 103 bài
9 tháng còn
lại s/t 31
bài.
Chủ yếu
được viết
bằng thể
thơ tứ
tuyệt, với
bốn đề tài
chính.
1958 Viện
VH dịch.
1960
được in và
giới thiệu ở
VN, TQ và
nhiều nước
trên TG.