Xây dựng và sử dụng Graph trong dạy học chương Cơ chế di truyền và biến dị Sinh học 12 trung học phổ thông tt - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN MẠNH HÙNG

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG GRAPH TRONG DẠY HỌC
CHƯƠNG “CƠ CHẾ DI TRUYỀN VÀ BIẾN DỊ”,
SINH HỌC 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
(BỘ MÔN SINH HỌC)
Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa khọc: PGS.TS. Lê Đình Trung

HÀ NỘI - 2012

3
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ “Xây dựng và sử dụng graph trong dạy học
chương “Cơ chế di truyền và biến dị”, Sinh học 12 trung học phổ thông”, đầu tiên
em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS. TS. Lê Đình Trung đã tận
tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết luận văn.
Em chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo đã tận tình truyền đạt kiến thức
trong thời gian năm học tập, nghiên cứu tại trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc
gia Hà Nội. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học tập, đó không chỉ là
nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí báu để em tự
tin hơn trong công tác giảng dạy.
Đồng thời, xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo Hòa Bình; Đảng
ủy, Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong trường trung học phổ thông Công Nghiệp,
các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn Sinh học trong địa bàn tỉnh Hoà Bình; Các em
học sinh lớp 12 trường trung học phổ thông Công Nghiệp, trường trung học phổ
thông Yên Thủy C và các bạn bè khác Tôi xin chân thành cảm ơn những đóng góp
quý báu về kiến thức, tư liệu, kinh nghiệm, thông tin, điều kiện vật chất và cả sự

1.2.1. Các khái niệm 11
1.2.2. Vai trò của graph trong dạy học 13
1.2.3. Phân loại graph trong dạy học 15
1.2.4. Các mô hình graph 18
1.3. Cơ sở thực tiễn ………………………………………………………26
1.3.1. Điều tra tình hình giáo viên sử dụng các phương pháp, phương tiện,
kỹ thuật dạy học ở trường phổ thông 26
1.3.2. Tình hình giáo viên sử dụng các graph trong dạy học chương “Cơ
chế di truyền và biến dị”, Sinh học 12 THPT kiểu bài lên lớp 29
1.3.3. Phân tích nguyên nhân thực trạng giáo viên sử dụng phương pháp
graph như hiện nay ở trường phổ thông 32

8
Chương 2. XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG GRAPH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG
“CƠ CHẾ DI TRUYỀN VÀ BIẾN DỊ”, SINH HỌC 12 THPT 35
2.1. Xây dựng graph dạy học 35
2.1.1. Vai trò của phương pháp graph trong dạy học 35
2.1.2. Các nguyên tắc xây dựng graph 38
2.1.3. Phân tích cấu trúc nội dung chương “Cơ chế di truyền và biến dị”,
Sinh học 12 trung học phổ thông làm cơ sở xây dựng graph 39
2.1.4. Quy trình xây dựng graph dạy học 41
2.1.5. Các graph được xây dựng từ nội dung kiến thức Chương: Cơ chế di
truyền và biến dị, Sinh học 12 THPT 44
2.2. Sử dụng graph trong dạy học ……………………………………… 54
2.2.1. Các nguyên tắc sử dụng graph trong dạy học 54
2.2.2. Quy trình sử dụng graph trong dạy học 55
2.2.3. Sử dụng các graph để thiết kế giáo án thực nghiệm 59
Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 83
3.1. Mục đích thực nghiệm ……………………………………………….83
3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm ……………………………………………….83

tích cực, độc lập và sáng tạo của học sinh.
1.2. Xuất phát từ các đặc trưng cơ bản của chương trình Sinh học cấp THPT
Đó là các kiến thức khái niệm, hiện tượng, quy luật, cơ chế, quá trình Sinh học và
kiến thức ứng dụng thực tiễn đều xuất phát từ các kết quả thực nghiệm. Phần Di truyền
học, đặc biệt là chương “Cơ chế di truyền và biến dị”, Sinh học 12 được trình bày logic và
mang tính hệ thống cao, có mối liên hệ mật thiết, gắn kết với nhiều nội dung Sinh học
khác, đồng thời cũng rất trừu tượng. Tuy nhiên, khối lượng kiến thức ấy lại có mối liên
thông với nhau rất rõ ràng, logic. Nếu biết cách hệ thống hóa, khái quát hóa thành những
sơ đồ, bảng biểu trong những hệ thống nhất điịnh thì lại đem lại hiệu quả cao đối với việc
học của người học. Giúp HS rèn luyện được nhiều kĩ năng phát huy tính tích cực, chủ động
trong học tập.
1.3. Xuất phát từ tình hình và thực trạng dạy học hiện nay của giáo viên
Tình hình và thực trạng dạy học hiện nay của GV mà cụ thể là GV bộ môn Sinh học
cấp THPT là chưa tận dụng tối ưu và tối đa các phương pháp và phương tiện dạy học. Giờ
học Sinh học từ trước đến nay chủ yếu vẫn là giảng dạy theo phương pháp truyền thống,
thầy truyền đạt kiến thức, trò thụ động tiếp thu tri thức, ít tính tích cực và sáng tạo. Các
phương pháp dạy học tích cực ít được sử dụng hoặc chủ yếu chỉ sử dụng trong các giờ thao
giảng. Vì vậy HS chưa yêu thích môn học và khả năng vận dụng kiến thức kém.
1.4. Xuất phát từ lợi thế của phương tiện graph trong dạy học
Do lợi thế của phương tiện graph trong dạy học có thể đem lại hiệu quả cao: Mỗi
graph được xây dựng phải trải qua các phân tích, so sánh, tổng hợp, phát hiện cái chung và

4
cái riêng nên rất thuận lợi cho quá trình dạy học trong các khâu như dạy học hình thành
kiến thức mới, dạy học củng cố, ôn tập, hoàn thiện kiến thức và trong kiểm tra, đánh giá.
Như vậy, nếu sử dụng sơ đồ, bản đồ khái niệm trong dạy học Sinh học sẽ rất thuận lợi
trong việc mô hình hoá, hệ thống hoá kiến thức.
1.5. Xuất phát từ thực trạng sử dụng phương pháp graph của giáo viên trung học phổ
thông hiện nay
Hiện nay, việc sử dụng phương pháp graph trong dạy học của GV không còn là điều

- Sách giáo khoa, sách giáo viên, phân phối chương trình, chuẩn kiến thức, kỹ năng
môn Sinh học…
- Phân tích tổng quan và khái quát hoá những lý thuyết về graph trong dạy học và
những ứng dụng của nó trong thực tiễn cuộc sống và trong dạy học.
- Phân tích, tổng hợp các tài liệu trên sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu
các vấn đề liên quan trực tiếp đến phương pháp graph và việc đổi mới phương pháp dạy
học nhằm đưa ra quy trình thiết kế và sử dụng graph.
- Phân tích tổng hợp những quan điểm lý luận và hệ thống khái niệm có liên quan
đến việc đổi mới giáo dục và việc dạy học môn sinh học.
4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: Phát phiếu điều tra lấy ý kiến học sinh và giáo viên trước và
sau giờ dạy đối chứng và thực nghiệm.
- Phương pháp chuyên gia: Gặp gỡ, trao đổi, xin ý kiến các chuyên gia, đồng
nghiệp, nhằm đánh giá thực trạng sử dụng phương pháp graph hiện nay và xây dựng các
graph về kiến thức chương “Cơ chế di truyền và biến dị”, Sinh học 12 THPT.
4.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành giờ dạy thực nghiệm và đối chứng tại trường trung học phổ thông Công
Nghiệp và trung học phổ thông Yên thủy C, tỉnh Hòa Bình để kiểm chứng giả thuyết khoa
học của đề tài.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được nguyên tắc, quy trình xây dựng và xây dựng được một hệ thống
graph nội dung chương “Cơ chế di truyền và biến dị” và sử dụng nó vào dạy học theo một
quy trình hợp lý thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học ở trường THPT hiện nay.
6
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dụng và sử dụng graph trong
dạy học Sinh học nói chung và dạy học chương “Cơ chế di truyền và biến dị”, Sinh học 12

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lược sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Những tư tưởng cơ bản của lý thuyết graph được đề xuất vào những năm đầu của
thế kỷ XVIII bởi nhà Toán học Thụy Sỹ Leonhard Euler. Chính ông là người đã sử dụng
graph để giải bài toán nổi tiếng “Bảy cây cầu ở Konigsburg” (Công bố vào năm 1736).
Trong những năm cuối thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của Toán học và nhất là Toán học
ứng dụng, những nghiên cứu về vận dụng lý thuyết graph đã có những bước tiến nhảy vọt.
Sau khi lý thuyết graph hiện đại được công bố, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã nghiên
cứu làm cho môn học này ngày càng phong phú.
1.1.2. Ở Việt Nam
Việc vận dụng phương pháp graph trong dạy học được xem như là một trong những
tiếp cận mới vừa bổ sung vào hệ thống các phương pháp dạy học tích cực, vừa làm phong
phú thêm kho tàng các phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường
THPT. Theo hướng này, có nhiều tác giả đã thành công trong việc nghiên cứu và vận dụng
lý thuyết graph vào dạy học một số môn học ở trường phổ thông và bước đầu đã thu được
một số kết quả tốt.
1.2. Cơ sở lý luận của đề tài
1.2.1. Các khái niệm
1.2.1.1. Khái niệm phương pháp graph
Là phương pháp tổ chức rèn luyện tạo được những sơ đồ học tập ở trong tư duy của
HS. Trên cơ sở đó hình thành một phong cách tư duy khoa học mang tính hệ thống. Đây là
phương pháp khoa học sử dụng sơ đồ để mô tả sự vật, hoạt động, cho phép hình dung một
cách trực quan các mối liên hệ giữa các yếu tố trong cấu trúc của sự vật, cấu trúc logic của
quy trình triển khai hoạt động giúp con người qui hoạch tối ưu qua điều khiển tối ưu các
hoạt động.
1.2.1.2. Khái niệm graph nội dung
Là graph phản ánh một cách khái quát, trực quan cấu trúc lôgic phát triển bên trong
của một tài liệu hay bài học. Nói cách khác, graph nội dung là tập hợp những yếu tố thành


dung tri thức do học sinh tiến hành. Học sinh sử dụng ngôn ngữ sơ đồ để diễn đạt nội dung

9
sách giáo khoa và tài liệu đọc được. Đây là quá trình gia công chuyển hóa kiến thức, bằng
phép gia công thành sơ đồ này sẽ rèn luyện được năng lực tư duy logic.
1.2.3. Phân loại graph trong dạy học
- Graph có hướng; Graph vô hướng;
- Graph khép; Graph mở;
- Graph đầy đủ; Graph khuyết; Graph câm.
1.2.4. Các mô hình graph
1.2.4.1. Graph nội dung dạy học
Graph nội dung là graph phản ánh một cách khái quát, trực quan cấu trúc lôgic phát
triển bên trong của một bài học. Giáo viên cần nghiên cứu nội dung chương trình giảng dạy
để lựa chọn những bài, những tổ hợp kiến thức có khả năng lập graph nội dung. Sự lựa
chọn đó là cần thiết vì không phải bài học nào cũng có thể lập được graph nội dung và nội
dung các kiến thức khác nhau mang tính đặc thù.
Graph nội dung dạy học Sinh học là sơ đồ phản ánh cấu trúc và lôgic phát triển bên
trong của một tài liệu Sinh học, một cách khái quát, xúc tích và trực quan - cụ thể.
1.2.4.2. Graph hoạt động
Graph hoạt động là graph mô tả trình tự các hoạt động sư phạm theo lôgic hoạt động
nhận thức nhằm tối ưu hoá kiến thức bài học. Nó được xây dựng trên cơ sở của graph nội
dung kết hợp các biện pháp sư phạm của GV và hoạt động của HS ở trên lớp, bao gồm cả
việc sử dụng những phương pháp, biện pháp và phương tiện dạy học.
Để xây dựng được graph hoạt động, giáo viên phải phân tích những hoạt động sư
phạm thành các yếu tố cấu trúc của bài học, đó là các “hoạt động” và tổng hợp các hoạt
động đó trong một hệ thống hoàn chỉnh, thống nhất. Mối liên hệ giữa các hoạt động của bài
học có thể biểu diễn bằng các hoạt động dạy học.
1.2.4.3. Mối quan hệ giữa graph nội dung và graph hoạt động trong dạy học
Graph nội dung và graph hoạt động dạy học đều được tiến hành trong một bài học,
chúng thể hiện mối quan hệ lôgic giữa các thành phần tham gia, chúng là những phương

1.3.2.2. Sử dụng graph trong củng cố, ôn tập, hoàn thiện kiến thức
Thiết kế một mẫu graph cho một nội dung kiến thức, đặc biệt trong bài ôn tập, luyện
tập thường mất nhiều thời gian và khó làm hơn so với các câu hỏi ngắn. Chính vì vậy, việc
sử dụng graph trong củng cố, hoàn thiện kiến thức hiện nay của giáo viên Sinh học trung
học phổ thông vẫn chưa nhiều.

11
1.3.2.3. Sử dụng graph trong kiểm tra, đánh giá
Hiện nay, việc sử dụng phương pháp graph trong dạy học của GV phổ thông không
còn là điều quá mới mẻ. Tuy nhiên, về phương pháp xây dựng và cách sử dụng chúng như
thế nào trong việc kiểm tra, đánh giá HS sao cho hiệu quả thì vẫn chưa được quan tâm
nghiên cứu đúng mức và chưa được áp dụng rộng rãi.
1.3.3. Phân tích nguyên nhân thực trạng giáo viên sử dụng phương pháp graph như
hiện nay ở trường phổ thông
1.3.3.1. Về phía giáo viên
Do lối dạy học cổ truyền kiểu đọc chép đã tồn tại trong nhà trường phổ thông nhiều
năm nay như một thói quen khó thay đổi. Một số giáo viên lại tập trung lo đến việc dạy tri
thức mà ít chú ý đến việc rèn luyện các kỹ năng cho học sinh, đặc biệt là kỹ năng tự học
với sách giáo khoa và tài liệu tham khảo, kỹ năng gia công tài liệu
Mặt khác còn phải kể đến một bộ phận GV chưa thực sự tâm huyết với nghề, ý thức
cải tiến phương pháp dạy học còn thấp, không có mong muốn cũng như hứng thú kích
thích tính tích cực học tập của HS, do đó chất lượng dạy học không được cải thiện.
1.3.3.2. Về phía học sinh
Nhiều học sinh coi môn Sinh học ở cấp trung học phổ thông là môn phụ, do vậy các
em thiếu sự đầu tư thời gian và công sức vào việc học mà chỉ học mang tính chất đối phó
với việc kiểm tra, đánh giá của giáo viên. Trong quá trình học, học sinh còn thụ động, chưa
tích cực, chủ động trong lĩnh hội kiến thức.
1.3.3.3. Nguyên nhân khác
Cơ sở vật chất các nhà trường còn thiếu và yếu, các trang thiết bị phục vụ công tác
giảng dạy không đầy đủ và cũ kỹ, chưa được đầu tư đồng bộ, đúng mức.

của việc học tập khái niệm. Có thể dùng graph để hệ thống hoá các khái niệm trong một
tổng thể, qua đó mở rộng hiểu biết về đối tượng cần nghiên cứu một cách khái quát. Điều
đó giúp học sinh hiểu khái niệm một cách không hình thức, không máy móc.
2.1.1.2. Dùng graph cấu trúc hoá nội dung tài liệu giáo khoa
Xây dựng mối liên hệ giữa các đơn vị kiến thức trong một hệ thống nhất định (trong
một chương trình, một chương hay một bài). Cấu trúc hoá tài liệu giáo khoa cho phép tạo
nên hệ thống kiến thức cho học sinh. Điều này giúp cho hoạt động dạy học có hiệu quả
hơn, vì nó cho biết mối quan hệ hữu cơ giữa những bộ phận kiến thức trong mối liên hệ
logic với nhau. Học sinh có thể định hướng được các hoạt động trí tuệ và kích thích sự tìm

13
tòi để chiếm lĩnh hệ thống tri thức mới. Những tri thức mà học sinh tự tìm tòi chiếm lĩnh
được sẽ nhớ lâu hơn, tái hiện chính xác hơn.
2.1.1.3. Dùng graph hướng dẫn học sinh tự học
Thông qua hoạt động học tập bằng graph, học sinh sẽ hình thành tư duy hệ thống.
Từ đó có thể phát huy tính độc lập, sáng tạo của học sinh. Giáo viên có thể hướng dẫn học
sinh nghiên cứu nội dung của bài khoá trong sách giáo khoa hoặc quan sát mô hình, vật
mẫu cụ thể để đi đến các yếu tố cấu trúc của đối tượng nghiên cứu rồi lập graph để thể hiện
các mối quan hệ của các yếu tố cấu trúc đó. Hình thức này giúp cho học sinh có một
phương thức tự học theo SGK một cách chủ động. Ngoài ra học sinh còn có thể tự học ở
nhà bằng graph, học sinh có thể lập được dàn ý cơ bản của các nội dung học tập.
2.1.2. Các nguyên tắc xây dựng graph
- Graph phải đảm bảo tính chính xác: Nội dung trình bày trong graph phải là nội
dung chính xác để đảm bảo độ tin cậy về tri thức. Tuy nhiên, độ rộng của tri thức phụ
thuộc vào đối tượng tiếp nhận tri thức đó. Chính vì vậy, có thể có trường hợp một graph
không chính xác đối với bậc đại học, cao đẳng nhưng lại hợp lý với bậc phổ thông.
- Graph phải đảm bảo tính khoa học: Tính khoa học được thể hiện ở sự sắp xếp các
đỉnh và vùng sao cho có hệ thống, dễ hiểu, dễ trình bày.
- Graph phải đảm bảo tính sư phạm: Nguyên tắc này phản ánh mối quan hệ giữa
dạy và học. Sơ đồ được xây dựng phải giúp tổ chức được hoạt động dạy học, đồng thời

hệ thống di truyền, cấu trúc và chức năng là thống nhất bởi vì vận động là thuộc tính gắn
liền với vật chất.
Để tổ chức bài giảng theo phương pháp graph đạt hiệu quả cao nhất, giáo viên có
thể hướng dẫn HS đi theo các bước sau:
- Bước 1: GV yêu cầu HS nghiên cứu SGK đúng nội dung bài học để hoàn thành
các nhiệm vụ được giao ghi trong các phiếu học tập.
- Bước 2: HS tự nghiên cứu SGK để có nguồn thông tin để gia công trả lời câu hỏi,
hoàn thành các nhiệm vụ đặt ra.
- Bước 3: HS phân tích nội dung bài học xác định loại graph.
- Bước 4: HS tự lập graph
- Bước 5: Thảo luận nhóm về kết quả đã làm được nhằm hoàn thiện graph.
- Bước 6: GV nhận xét, đánh giá, chỉnh lý để các graph có độ chính xác và thẩm mỹ
- Bước 7: Ra bài tập bổ sung, củng cố.

15
2.1.4. Quy trình xây dựng graph dạy học
2.1.4.1. Quy trình xây dựng graph nội dung
Bước 1: Xác định các đỉnh của graph
- Lựa chọn những kiến thức cơ bản của nội dung bài học.
- Mã hoá chúng sao cho thật súc tích, khoa học.
- Đặt chúng vào các đỉnh của graph.
Bước 2: Thiết lập các cung
Ta thiết lập các mối quan hệ giữa các đỉnh của graph, nối chúng bằng các mũi tên để
diễn tả mối liên hệ giữa nội dung các đỉnh với nhau.
Các mối quan hệ đó phải bảo đảm tính lôgic khoa học, tuân theo những quy luật
khách quan và tính hệ thống của nội dung kiến thức.
Bước 3: Hoàn thiện graph (bố trí các đỉnh và các cung lên mặt phẳng)
Khi đã xác định được các đỉnh (đơn vị kiến thức) và mối quan hệ giữa chúng, có thể
xếp các đỉnh lên mặt phẳng theo một lôgic khoa học, sao cho:
- Trung thành với nội dung đƣợc mô hình hoá về cấu trúc lôgic.

phối hợp với các phương pháp dạy học khác hoặc các phương tiện kỹ thuật để nâng cao
hiệu quả của phương pháp dạy học.
- Tránh tính hình thức trong việc lập và sử dụng graph: Có thể xuất hiện tính hình
thức trong dạy học bằng graph và điều này sẽ dẫn đến tình trạng HS chỉ ghi nhớ kiến thức
một cách máy móc, chỉ thấy quan hệ bên ngoài, không hiểu bản chất cũng như không thấy
được mối quan hệ giữa các thành phần kiến thức, không thiết lập được mối liên hệ giữa các
kiến thức đã biết với kiến thức mới cần tiếp thu, HS không biết sử dụng những kiến thức
đã có như là những thông tin tư liệu minh họa làm cơ sở để tiếp nhận kiến thức mới. Học
sinh không thấy được nguồn gốc của kiến thức khoa học, không thấy được ý nghĩa của
kiến thức được vận dụng vào thực tiễn.
- Tránh lạm dụng graph: Graph chỉ có tác dụng là phương tiện tư duy nhằm xác
định mối quan hệ của các đối tượng được nghiên cứu trong một hệ thống nhất định, qua đó
nâng cao chất lượng học tập, vậy phải kết hợp một cách khoa học giữa graph với các
phương tiện dạy học để nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học.
- Graph phải được chọn lọc lọc mang tính khoa học và phải đảm bảo mục tiêu sư
phạm: Dựa vào mục tiêu của bài mà chọn lựa loại graph cần được hình thành trong dạy

17
học, đảm bảo hội đủ tri thức của một bài, liên bài phức hợp với các mức độ phát triển tư
duy, đảm bảo phù hợp với tâm, sinh lý lứa tuổi HS.
2.2.2. Quy trình sử dụng graph trong dạy học
Tùy thuộc vào mục đích dạy học, quy trình sử dụng graph có khác nhau.
2.2.2.1. Quy trình sử dụng graph trong dạy học hình thành kiến thức mới
Trong dạy học kiến thức mới, để đảm bảo phát huy được tính tích cực học tập của
học sinh, giáo viên có thể sử dụng graph để tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh theo
các bước sau:
Bước 1: Dựa vào nội dung mỗi hoạt động, hình dung graph cần được hình thành
qua hoạt động học của học sinh
Bước 2: Giao các câu hỏi gợi mở để học sinh nghiên cứu sách giáo khoa, nắm
được bản chất các đỉnh, xác định mối quan hệ để hình thành các cung.

Bước 3: Tổ chức thảo luận nhóm (nếu cần).
Bước 4: Giáo viên chỉnh sửa, tổng kết, đánh giá.
2.2.2.3. Quy trình sử dụng graph trong kiểm tra - đánh giá kết quả học tập
Trong dạy học Sinh học ở THPT có nhiều hình thức kiểm tra đánh giá khác nhau: kiểm
tra đầu tiết học (kiểm tra miệng), kiểm tra viết (15 phút, 45 phút), kiểm tra thực hành…
Giáo viên có thể sử dụng graph để kiểm tra - đánh giá mức độ tiếp thu bài học của
HS. Khi kiểm tra - đánh giá, GV có thể dùng câu hỏi tự luận, câu hỏi trắc nghiệm khách
quan hoặc có thể dùng sơ đồ. Có thể sử dụng graph khuyết thiếu hoặc graph câm để yêu
cầu học sinh điền vào chỗ khuyết.
Một phương pháp kiểm tra khác đó là sau một số bài, học sinh đã khá quen với việc
lập graph, GV có thể ra bài kiểm tra yêu cầu HS lập graph cho một khái niệm, một quy luật
hay một quá trình, cơ chế nào đó.
2.2.3. Sử dụng các graph để thiết kế giáo án thực nghiệm
Bài 1. Gen, mã di truyền và quá trình nhân đôi ADN
Bài 2. Phiên mã và dịch mã
Bài 4. Đột biến gen
Bài 5. Nhiễm sắc thể và đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể
Bài 6. Đột biến số lượng nhiễm sắc thể
19
CHƯƠNG 3
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1. Mục đích thực nghiệm
Kiểm nghiệm tính khả thi của việc áp dụng lý thuyết graph vào dạy học chương “Cơ
chế di truyền và biến dị”, Sinh học 12 trung học phổ thông và hiệu quả của nó.
3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm
- Tổ chức dạy học thực nghiệm trên các giáo án được xây dựng bằng cách sử dụng
graph trong dạy học và dạy học đối chứng.

và biến dị”, Sinh học 12 trung học phổ thông.
3.6.1.3. Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm được bố trí theo kiểu song song:
- Các lớp đối chứng: Sử dụng giáo án thiết kế theo hướng dẫn của Bộ
- Các lớp thực nghiệm: Sử dụng giáo án được thiết kế theo phương pháp graph kèm
các câu hỏi gợi mở, làm việc với sách giáo khoa nhằm phát huy tính tích cực của HS.
3.6.1.4. Kiểm tra
Kiểm tra trong thực nghiệm: Tiến hành kiểm tra bằng trong 2 bài thực nghiệm (mỗi
bài kiểm tra 15 phút) để đánh giá khả năng nắm vững kiến thức của HS. Cụ thể vị trí các
lần kiểm tra như sau: Bài kiểm tra I sau khi học xong bài 1, 2, 3; Bài kiểm tra II khi học
xong bài 4, 5, 6. (Các bài kiểm tra lần lượt sử dụng đề I, đề II đã trình bày ở phần phụ lục).
Kiểm tra sau thực nghiệm: Tiến hành kiểm tra 2 bài sau thực nghiệm (mỗi bài kiểm
tra 15 phút) để đánh giá độ bền kiến thức của học sinh. Sau đó chấm các bài kiểm tra trên
thang điểm 10 và so sánh kết quả thu được giữa 2 nhóm lớp thực nghiệm và nhóm lớp đối
chứng. Các đề kiểm tra lần lượt là đề III và đề IV (Xem phần phụ lục).
3.6.2. Xử lý số liệu
- Các bài kiểm tra cả nhóm đối chứng và thực nghiệm đều chấm cùng một biểu
điểm theo thang điểm 10.
- Kết quả thu được chúng tôi xử lí bằng thống kê toán học.
21
3.7. Kết quả thực nghiệm
3.7.1. Kết quả định lượng
3.7.1.1. Phân tích kết quả trong thực nghiệm
Bảng 3.2. Tổng hợp điểm các bài kiểm tra

30
7
5
0
ĐC
80
0
0
4
8
13
22
29
3
1
0
II
TN
80
0
0
0
4
9
18
31
9
7
2
ĐC

15
26
34
56
8
3
0

Bảng 3.3. So sánh kết quả giữa nhóm thực nghiệm và đối chứng
qua 2 lần kiểm tra trong thực nghiệm
Lần
KT số
Phương
án
Số
bài
X

m
S
C
V
(%)
d
TN - ĐC

td
I
TN
80

24,27
Tổng
hợp
TN
160
6,64

0,047
1,26
18,95
0,57
3,71
ĐC
160
6,07

0,055
1,48
24,33

- Điểm trung bình cộng qua mỗi lần kiểm tra trong thực nghiệm luôn cao hơn nhóm
lớp đối chứng: Lần kiểm tra I, điểm trung bình của nhóm lớp TN là 6,41 so với nhóm lớp
ĐC là 6,02. Lần kiểm tra II, điểm trung bình của nhóm lớp TN là 6,86 so với nhóm lớp ĐC
là 6,12.
- Hiệu số điểm trung bình cộng giữa nhóm TN và ĐC (d
TN - ĐC
) lần I là 0,39 và lần II
là 0,74 đều lớn hơn 0, chứng tỏ kết quả lĩnh hội kiến thức của HS nhóm TN tốt hơn ĐC.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status