skkn một số biện pháp để nâng cao trường tiểu học tân phú - Pdf 25

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
______________________________________________________
__________
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Phạm Thị Vân.
2. Ngày tháng năm sinh: 06/06/1975.
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: 1472 tổ 1, ấp 1, xã Tà Lài, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng
Nai.
5. Điện thoại: Cơ quan: 0613 791029 ĐTDĐ: 0988 502 877
6. Fax:
7. Chức vụ: Giáo viên dạy lớp.
8. Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nguyễn Trung Trực.
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân
khoa học.
- Năm nhận bằng: 2007.
- Chuyên ngành đào tạo: Giáo dục Tiểu học – Hệ đào tạo từ xa.
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Dạy lớp bậc Tiểu học.
Số năm có kinh nghiệm: 14 năm.
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
Một số biện pháp để nâng cao chất lượng học sinh yếu kém (Đã
được Hội đồng thẩm định SKKN năm học 2008 – 2009 công nhận ).
1
Vận dụng phương pháp tích cực vào việc dạy giải Toán có lời
văn cho học sinh lớp 4 (Đã được Hội đồng thẩm định SKKN năm học
2009 – 2010 công nhận).
Một số biện pháp để nâng cao chất lượng học sinh yếu kém (Đã
được Hội đồng thẩm định SKKN năm học 2010 – 2011 công nhận ).
Một vài kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm ở lớp Bốn (Đã

1. Cơ sở lí luận:
Bác Hồ đã từng căn dặn học sinh: “Non sông Việt Nam có trở nên
tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để
sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ
một phần lớn ở công học tập của các em….”
3
Muốn thực hiện tốt lời căn dặn đó của Người, đòi hỏi mỗi học sinh
Tiểu học phải đạt được các yêu cầu về chuẩn kiến thức, kĩ năng của lớp
mình đang học. Thế nhưng, trong một lớp học, bao giờ cũng có vài em
chưa thực sự đạt đến chuẩn đó, khiến cho giáo viên phải mất nhiều thời
gian và công sức để kèm cặp mà hiệu quả đôi khi không được như
mong đợi. Vì vậy, không giáo viên nào muốn lớp mình phụ trách có
học sinh yếu kém. Nhưng, sự xuất hiện của những học sinh này lại là
điều khó tránh khỏi. Năm học này có vài em, năm học sau lại xuất hiện
vài em. Và cũng không ít giáo viên đã xếp các em học sinh yếu kém
vào diện học sinh cá biệt. Đây quả là một sai lầm đáng tiếc, bởi lẽ,
một học sinh yếu kém vẫn có thể là một học sinh ngoan, chuyên cần, lễ
phép, … Còn một học sinh được xem là cá biệt chỉ khi học sinh đó có
vấn đề gì đó chưa ổn về đạo đức, lối sống,…
Thực tế cho thấy, không có học sinh dốt mà chỉ có học sinh không
biết cách học hoặc không được giáo dục đúng cách. Nhìn chung, học
sinh yếu kém có một số đặc điểm chung là:
- Tâm lí không được ổn định, thiếu sự tự tin trong học tập.
- Một số em ngôn ngữ tiếng Việt còn bị hạn chế (nhất là những học
sinh dân tộc Tày ở khu vực ấp 6, ấp 7 của xã Tà Lài).
- Khả năng tư duy, ghi nhớ, năng lực khái quát hóa, tổng hợp hóa
cũng hạn chế dẫn tâm lý ngại đến lớp, ngại học bài và làm bài.
- Khả năng tập trung chú ý không bền.
- Thiếu sự quan tâm, chăm sóc của gia đình và sự hỗ trợ của cộng
đồng.

5
yếu kém nói riêng. Tôi vừa dạy vừa theo dõi để phát hiện kịp thời các
lỗ hổng trong kiến thức mà học sinh vấp phải cũng như tham khảo ý
kiến của giáo viên lớp trước để đưa ra những nhận định chính xác nhất
và phân loại học sinh yếu kém theo các nhóm để đề ra giải pháp dạy
học phù hợp.
Ví dụ: Nhóm yếu toán về cộng, trừ; nhóm yếu về nhân, chia, nhóm
không biết giải toán có lời văn; nhóm đọc chưa thông, phải nhẩm vần,
nhóm viết chậm,
mắc nhiều lỗi chính tả; nhóm gặp khó khăn khi tìm từ diễn đạt, ý để đặt
câu;…
Tùy vào tình hình thực tế mà tôi có thể phân ra nhiều nhóm đối
tượng cụ thể hơn. Khi đã tách được từng loại đối tượng như thế, tôi có
các hình thức và phương pháp đặc trưng phù hợp với từng nhóm đối
tượng.
Chẳng hạn, với những em yếu về cộng, trừ, tôi cho các em giải các
bài tập riêng: cộng, trừ với các số có 2 – 3 chữ số, từ không nhớ đến có
nhớ ở 1 hàng, dần dần nâng lên có nhớ ở 2 hàng (không ra các bài tập
cộng, trừ có nhớ ở 2 hàng liên tiếp nhau và có thể cho các em sử dụng
que tính để tính toán và loại bỏ que tính dần dần theo sự tiến bộ của các
em).
Đối với những em yếu về đọc, trong giờ Tập đọc, tôi cho các em
đọc một câu hoặc một đoạn ngắn, gợi ý thêm một số câu hỏi phụ chỉ
cần trả lời vài từ để các em trả lời, cho các em điền từ còn thiếu vào các
câu đơn giản (để hình thành các sự kiện trong bài đọc). Thường xuyên
mời các em đọc một vài đoạn ngắn ở các môn học khác để nâng cao
dần kĩ năng đọc cho các em.
6
Thứ ba, tôi thông qua trao đổi với phụ huynh học sinh để nắm bắt
được sự quan tâm giáo dục hay thờ ơ của họ. Từ đó có sự tư vấn và

các nguyên nhân như:
- Vì cuộc sống gia đình quá khó khăn, thiếu thốn về kinh tế, gia
đình đông con, cha mẹ có thu nhập không ổn định, đau ốm, bệnh tật,…
trẻ phải phụ giúp bố mẹ làm một số công việc nào đó để kiếm tiền, phải
trông em, làm cỏ, chăn bò, …, khiến trẻ không có điều kiện và thời gian
dành cho việc học, dẫn đến học tập sa sút, trẻ sinh ra chán nản, lười
học.
- Do gia đình bất ổn như cha mẹ không hòa thuận, li hôn, trẻ phải
sống với cha hoặc mẹ hoặc ông bà, cô bác. Trẻ ít được quan tâm, mất đi
chỗ dựa từ phía gia đình. Trẻ sống “co mình” lại, mất dần đi hứng thú
học tập.
- Do kinh tế gia đình khá giả, cha mẹ chỉ lo kiếm tiền, ít quan tâm
đến việc học tập của con. Họ nghĩ rằng thương con chính là cho tiền
con tiêu xài thoải mái mà không nghĩ đến cần phải rèn luyện cho con
thói quen học tập. Chính vì quá nuông chiều con như vậy nên đứa trẻ
sinh ra tính ỷ lại vào cha mẹ, ham chơi hơn ham học, suốt ngày chìm
đắm trong các trò chơi điện tử, lực học cứ thế mà sa sút dần.
Với các em yếu kém do hoàn cảnh gia đình, tôi đã có các biện
pháp như sau:
- Giúp học sinh xây dựng thói quen tự học. Đây chính là biện pháp
hữu hiệu nhất trong việc nâng cao chất lượng cho học sinh yếu kém.
Bởi lẽ, thời gian học sinh ở trường chỉ có 4 giờ, thời gian chủ yếu là ở
8
nhà vì vậy vấn đề tự học là vô cùng quan trọng. Để làm được điều này,
tôi đã phối hợp với gia đình các em có học lực yếu để giúp đỡ các em
về điều kiện học tập (góc học tập, dụng cụ học tập, đồng hồ báo thức,
…) và thời gian học tập (chẳng hạn, từ 5 giờ đến 6 giờ: học bài, từ 19
giờ đến 20 giờ 30 phút: làm bài tập) và tùy hoàn cảnh của mỗi em mà
tôi có thể kèm trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua bạn cùng lớp, gần nhà.
- Trao đổi trực tiếp với phụ

để em có thể an tâm học tập.
- Biện pháp tối ưu nhất vẫn là sự quan tâm, thương yêu của giáo
viên đối với học sinh. Làm nghề giáo muốn thành công phải thật sự yêu
nghề, mến trẻ. Bởi chỉ có lòng yêu thương thật sự chúng ta mới quan
tâm, chăm sóc, mới tìm hiểu và khích lệ trẻ. Nhất là đối với các em
thiếu sự quan tâm của gia đình thì sự động viên, khích lệ của giáo viên
sẽ giúp các em tự tin hơn, thích được bộc lộ mình hơn.
Ví dụ: Năm học 2010 - 2011, lớp 4/3 do tôi chủ nhiệm có em Sầm
Văn Hoàng học kém ở tất cả các môn, em lại thường xuyên không học
10
Mạnh thường quân tặng quà, đồ dùng học tập cho học sinh nghèo vượt khó.
bài và làm bài ở nhà. Qua tìm hiểu, tôi được biết bố mẹ em đã li hôn,
em đang sống với bà ngoại. Thương cháu côi cút, bà ngoại em cứ hay
cho tiền em để ăn quà, từ đó em sinh ra nghiện chơi games, sao nhãng
dần việc học.
Tôi đã tìm gặp bà ngoại của em trao đổi, đề nghị bà quản lí chặt giờ
giấc của em và không cho tiền nữa để em “cai nghiện” games. Ở lớp,
tôi tranh thủ phụ đạo cho em vào thời gian chuyển tiết. Hằng tuần, tôi
còn kèm thêm cho Hoàng vào chiều thứ ba. Đồng thời, tôi còn biểu
dương, khen ngợi mỗi khi em có sự cố gắng hay tiến bộ.
Được sự động viên, khích lệ, giúp đỡ từ phía giáo viên và gia đình
em đã học
tập chăm chỉ hơn. Cuối năm học, tuy em chỉ được xếp loại trung bình
nhưng tôi rất vui vì sự tiến bộ của em.
b) Yếu kém do mất căn bản hay gọi cách khác là bị hổng kiến
thức:
Đối với dạng yếu kém này, tôi đã thường xuyên thực hiện các biện
pháp sau:
- Giúp các em hiểu được phần cốt lõi của của bài cũ trước khi học
bài mới. Phương pháp dạy học cơ bản đối với học sinh yếu kém là giúp

kế hoạch, nội dung phụ đạo cho từng đối tượng học sinh yếu kém. Điều
quan trọng là tôi không dạy nhiều kiến thức cùng một lúc, dạy ít nhưng
phải chắc chắn và phải đảm bảo cả ba yêu cầu: Học sinh hiểu mình
đang học cái gì; bài tập vừa sức để học sinh có thể hiểu và làm được;
thời gian dành cho các em giải quyết công việc có thể nhiều hơn so với
các học sinh khác.
12
GV trực tiếp kèm thêm vào chiều thứ năm
- Tạo môi trường học tập thân thiện giữa thầy và trò, giữa học trò
với nhau, không có sự phân biệt đối xử mà phải biết giúp đỡ nhau cùng
tiến bộ. Thực vậy, nếu không khí lớp
học thân thiện thì cả thầy và trò đều
cảm thấy thoải mái để đi đến đích
của bài học mà không phải chịu bất
cứ áp lực nào. Đưa công nghệ thông
tin vào một số tiết học cũng có tác
dụng thúc đẩy mạnh mẽ đối với những học sinh yếu kém, lôi kéo các
em vào môi trường học tập tích cực.
- Động viên, khích lệ, tuyên dương kịp thời nhằm xác nhận sự tiến
bộ ở học sinh; kích thích sự say mê, hứng thú học tập cho các em, giúp
học sinh tự tin là mình có khả năng học được, mình cũng có thể giỏi
như các bạn,…
Ta thấy rằng, con người luôn luôn có hai nhu cầu đối lập nhau là tự
khẳng định mình và đồng nhất mình với người khác. Do vậy, trong
giảng dạy, giáo viên cần nắm vững điều này để kích thích học sinh
hứng thú say mê học tập.
Ví dụ: Em Lê Văn Thủy, học lớp 4/, năm học 2011 – 2012.
Thủy học yếu tất cả các môn do khả năng ghi nhớ kém, em học
trước quên sau, lại thêm ham chơi không chịu rèn luyện trong hè nên
mặc dù đã học lớp Bốn rồi mà kĩ năng đọc của Thủy còn rất hạn chế,

và các bạn trong lớp, Thủy đã có được ý thức tự học, bỏ hẳn thói quen
cóp-pi bài bạn, đọc, viết, tính toán cũng tốt hơn. Cuối năm học, điểm
14
học lực các môn đánh giá bằng điểm số của Thủy đều được xếp loại
khá.
c) Yếu kém do chưa nhận thức được nhiệm vụ học tập sinh ra
lười học:
Những học sinh rơi vào tình trạng trên là do thường xuyên không
học bài, không làm bài, vừa học vừa chơi, không tập trung, hay làm
việc riêng, nghịch ngợm trong giờ học, hay lo ra, … Để giáo dục các
em, ngoài việc thành lập các “Đôi bạn cùng tiến”, “Đôi bạn cùng sở
thích”, xây dựng thói quen “15 phút ôn bài đầu giờ học”, tôi còn thông
qua tài liệu, qua thực tế dạy học, tham khảo cùng tổ khối để nắm vững
và phối hợp nhịp nhàng các phương pháp dạy học, thay đổi bằng hình
thức trò chơi học tập, sử dụng phong phú đồ dùng học tập, tùy tình hình
mà giao cho các em phụ trách một số công việc của lớp để các em thấy
mình là “người quan trọng”, được cô tin tưởng và tín nhiệm, … Mục
đích là giúp các em lấy lại niềm tin, hứng thú học tập, có thể hiểu bài,
tự bản thân mình giải quyết các bài tập cô giao. Tôi còn động viên các
bạn trong tổ nhắc nhở và giúp đỡ lẫn nhau mỗi khi các em vấp phải
những lỗi trên. Trong mỗi tiết học, tôi thường xuyên để ý, kiểm tra xem
các em đã hiểu đến đâu, cần bổ sung điều gì để các em có thể hiểu bài
ngay tại lớp. Tăng cường cho các em luyện tập áp dụng kiến thức vừa
học thông qua các bài tập vừa
sức, …Tôi không đòi hỏi một
học sinh yếu kém phải giỏi ngay
lập tức. Mà điều tôi mong muốn
là sự tiến bộ từng bước ở các em
so với thời gian trước.
15

thân và danh dự tập thể, mỗi thành viên tự giác điều khiển hành vi của
bản thân mình.
Ví dụ: Tôi lập bảng “Hoa điểm 10” để động viên học sinh bằng
cách cắm hoa khi được điểm mười, có tổng kết, tuyên dương sau từng
tháng để bình chọn cá nhân và tổ xuất sắc. Tổ chức thi : “Em vui học
cùng bạn trong tổ, trong lớp” và lập bảng “Người tốt, việc tốt trong
tuần”. Sau mỗi tuần có tổng kết, biểu dương và đăng tin, đăng hình lên
bảng đã lập, chẳng hạn: “Đây là bạn Thanh Thảo, tuần vừa qua bạn ấy
đã đạt được 5 điểm 10, bạn ấy còn đạt giải ba vở sạch chữ đẹp cấp tỉnh
nữa đó. Chúng ta cùng học tập bạn ấy nhé !” Đây là một hình thức
giúp học sinh phát huy năng lực của mình và thi đua học tập một cách
lành mạnh.
Trong từng buổi học, tôi luôn biểu dương kịp thời những cố gắng –
dù là rất nhỏ – để khơi gợi niềm tin trong học tập cho trẻ. Bởi vì bất kì
một sự khen thưởng nào đúng lúc, đúng đối tượng đối với các em đều
góp phần vào việc hình thành nhân cách và tạo niềm tin cho trẻ. Đối với
học sinh Tiểu học, giáo viên không nên nặng lời hoặc phê bình học sinh
trước lớp với bất kì lí do gì. Đồng thời, cần uốn nắn kịp thời những biểu
hiện sa sút ở trẻ, tuyệt đối không nên trách phạt các em, vì nếu lạm
dụng trách phạt sẽ hạn chế sự độc lập, sáng tạo của học sinh. Phải kiên
trì, nhẫn nại, không được nôn nóng, vội vàng, biết hi sinh vì lòng yêu
trẻ.
Cuối cùng, tôi luôn kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của các em
theo từng chương, từng giai đoạn cụ thể để từ đó điều chỉnh nội dung
phụ đạo sao cho thật sát, thật phù hợp với từng đối tượng yếu kém. Đây
là việc làm vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, việc đánh giá kết quả học
17
tập đối với học sinh yếu cần nghiêm túc, trách nhiệm cao nhưng cũng
cần nhẹ nhàng hơn so với các học sinh khác, đánh giá mang tính khích
lệ, động viên là chính.

(%
)
SL (%)
2007-
2008
4/2 32 7 21,9 5 15,6 2 6,25 0 0 0 0
2008-
2009
4/2 28 7 25 5 17,9 2 7,1 1 3.6 0 0
2009-
2010
4/4 24 12 50 7 29,2 3 12,5 1 4,2 0 0
2010-
2011
4/3 20 4 20 3 15 2 10 0 0 0 0
2011-
2012
4/2 27 4 14,8 2 7,4 1 3,7 0 0 0 0
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Như vậy, việc giáo dục học sinh yếu kém luôn là một vấn đề khó
khăn và phức tạp. Muốn làm tốt việc này, mỗi giáo viên cần phải dùng
tình thương, lương tâm và trách nhiệm của một nhà giáo để dạy dỗ các
em. Cụ thể:
- Người giáo viên phải có kiến thức vững chắc, có kĩ năng sư
phạm, phải hiểu được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Phải thực sự yêu
trẻ, coi các em như chính con em của mình. Đồng thời phải là tấm
gương sáng cho học sinh noi theo.
- Cẩn trau dồi thêm kiến thức, tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ nhằm
nâng cao tay nghề.
- Có tinh thần trách nhiệm cao. Phải nhiệt tình, kể cả kiên nhẫn.

- Dạy học lấy học sinh làm trung tâm – Tài liệu của Bộ Giáo Dục
và Đào Tạo do Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm phát hành năm 2008.
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status