Chương I: Khái quát về đất NN
1.1 Đất NN
1.1.1 Khái quát về lịch sử đất NN ở VN
Các quá trình chính trong đất của VN bao gồm: quá trình phong hoá, trong đó phonghoá hoá học và sinh
học xảy ra mạnh hơn so với phong hoá lý học; quá trình mùn hoá; quá trình bồi tụ hình thành đất
đồng bằng và đất bằng ở miền núi; quá trình glây hoá; quá trình mặn hoá; quá trình phèn hoá; quá
trình feralít hoá; quá trình alít; quá trình tích tụ sialít; quá trình thục hoá và thoái hoá đất. Tuỳ
theo điều kiện địa hình, điều kiện môi trường và phương thức sử dụng mà quá trình này hay khác
chiếm ưu thế, quyết định đến hình thành nhóm, loại đất với các tính chất đặc trưng.
VN có diện tích tự nhiên khoảng 33 triệu ha, trong đó, diện tích sông suối và núi đá khoảng 1.370.100ha
(chiếm khoảng 4,16% diện tích đất tự nhiên), phần đất liền khoảng 31,2 triệu ha (chiếm khoảng 94,5%
diện tích tự nhiên), xếp hàng thứ 58 trong tổng số 200 nước trên thế giới, nhưng vì dân số đông (khoảng
90 triệu người) nên diện tích đất bình quân đầu người thuộc loại rất thấp, xếp thứ 159 và bằng 1/6 bình
quân của thế giới.
Tiềm năng đất có khả năng canh tác NN của cả nước khỏang từ 10-11 triệu ha trong đó mới chỉ sử dụng
được 6, 9 triệu ha đất NN (chiếm 21 % diện tích đất tự nhiên) gồm 5, 6 triệu ha là đất trồng cây hàng
năm và 1, 3 triệu ha là đất trồng cây ăn quả và cây lâu năm khác và phân bố không đồng đều ở các vùng
sinh thái khác nhau. Diện tích đất canh tác vốn đã thấp nhưng lại giảm theo thời gian do sức ép tăng dân
số, đô thị hoá, công nghiệp hoá và chuyển đổi mục đích sử dụng.
Nhìn chung, đất của VN đa dạng về loại, phong phú về khả năng sử dụng. Căn cứvào nguồn gốc hình
thành có thể phân thành hai nhóm lớn: Nhóm đất được hình thành dobồi tụ (đất thuỷ thành) có diện tích
khoảng 8 triệu ha, chiếm 28,27% tổng diện tích đất tựnhiên, trong đó đất đồng bằng 7 triệu ha.Nhóm đất
được hình thành tại chỗ (đất địa thành) có khoảng 25 triệu ha.
1.1.2 Khái niệm đất NN.
Đất NN là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về NN, lâm nghiệp, nuôi trồng
thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng; bao gồm đất sản xuất NN, đất lâm nghiệp, đất
nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất NN khác
1.1.3 Đặc điểm chung của đất NN
Thứ 1:Đất NN là một tư liệu sản xuất đặc biệt
Đất NN mang cả tính chất của đối tượng lao động và tư liệu lao động nên là một loại tư liệu sản xuất đặc
biệt của NN. Trong NN, nếu sử dụng hợp lý đất đai thì sức sản xuất của nó không ngừng được nâng lên,
kinh tế - xã hội ngày càng tăng. Đặc điểm này đặt ra yêu cầu quản lý đất đai phải chặt chẽ, quản lý về số
lượng, chất lượng đất, cơ cấu đất đai theo mục đích sử dụng cũng như cơ cấu sử dụng đất đai theo các
thành phần kinh tế, và xu hướng biến động của chúng để có kế hoạch phân bố và sử dụng đất đai có cơ
sở khoa học. Đối với nước ta diện tích bình quân đầu người vào loại thấp so với các quốc gia trên thế
giới. Vấn đề quản lý và sử dụng đất đai tiết kiệm, hiệu quả và bền vững lại càng đặc biệt quan trọng.
1.1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng:
- Khí hậu và nguồn nước: Các nhân tố tự nhiên là tiền đề cơ bản để sử dụng đất NN, ảnh hưởng lớn đền
năng suất cây trồng, vật nuôi.Khí hậu và nguồn nước có ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc xác định cơ cấu
cây trồng, thời vụ. Các điều kiện thời tiết có tác dụng kìm hãm hay thúc đẩy sự phát sinh và lan tràn dịch
bệnh cho vật nuôi, các sâu bệnh có hại cho cây trồng.
- Môi trường xung quanh: Khu vực lân cận nơi có đất sản xuất, dân cư và nguồn lao động ảnh hưởng ở
tới đất đai bởi dân cư vừa là lực lượng sản xuất trực tiếp vừa là nguồn tiêu thụ các nông sản.
1.1.4 Vai trò của đất NN
Đất là giá đỡ cho toàn bộ sự sống của con người và là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành NN. Đặc điểm
đất đai ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu và phân phối cuả ngành NN. Vai trò của đất đai càng lớn hơn
khi dân số ngày càng đông, nhu cầu dùng đất làm nơi cư trú, làm tư liệu sản xuất… ngày càng tăng và
NN phát triển, trở thành ngành kinh tế chủ đạo.
Đất NN là một điều kiện tối cần thiết cho hoạt động kinh tế nông thôn
Đất đai là tặng vật của tự nhiên cho con người. Nhờ có đất mà nông dân đã sản xuất ra lương thực,
thực phẩm đáp ứng nhu cầu của họ, gia đình và của cải xã hội. Trong điều kiện kinh tế NN, đất đai
đã trở thành tư liệu sản xuất quan trọng nhất và là điều kiện sống còn đối với hoạt động sản xuất
NN của người nông dân. Người nông dân không thể tiến hành sản xuất NN nếu như không có đất.
Đất NN là điều kiện tối cần thiết để người nông dân đem kết hợp nó với sức lao động sẵn có của
mình để tạo ra sản phẩm nông sản. Vì vậy, đất NN là một tư liệu sản xuất không thể thiếu đối với
bất kỳ người nông dân nào.
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2011 Page 2
Đất NN là một nguồn lực đầu vào đặc biệt quan trọng của sản xuất NN
Khi nói đến vai trò của đất đai, C.Mác viết: "đất là không gian, yếu tố cần thiết của tất thảy mọi sự sản
xuất và mọi hoạt động của loài người". Cũng như đối với sản xuất nói chung, sản xuất NN tất yếu cần
đến sự tham gia của đất đai.
năm
Cây lâu năm
Tổng số Trong đó Tổng số Trong đó
Năm
Cây lương
thực có hạt
Cây CN
hàng năm
Cây CN
lâu năm
Cây ăn quả
2000 12644,3 10540,3 8399,1 778,1 2104,0 1451,3 565,0
2001 12507,0 10352,2 8224,7 786,0 2154,8 1475,8 609,6
2002 12831,4 10595,9 8322,5 845,8 2235,5 1491,5 677,5
2003 12983,3 10680,1 8366,7 835,0 2303,2 1510,8 724,5
2004 13184,5 10817,8 8437,8 857,1 2366,7 1554,3 746,8
2005 13287,0 10818,8 8383,4 861,5 2468,2 1633,6 767,4
2006 13409,8 10868,2 8359,7 841,7 2541,6 1708,6 771,4
2007 13555,6 10894,9 8304,7 846,0 2660,7 1821,7 778,5
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2011 Page 3
2008 13872,9 11156,7 8542,2 806,1 2716,2 1885,8 775,5
2009 13807,6 11047,1 8527,4 753,6 2760,5 1936,0 774,0
Sơ bộ 2010 13925,4 11110,3 8641,4 800,2 2815,1 1987,4 776,3
Diện tích đất trồng trọt tăng dần theo thời gian từ 12644,3 nghìn ha (2000) đến 13925,4 nghìn ha (2010)
trong đó diện tích của đất trồng cây hàng năm và cây lâu năm đều tăng. Diện tích đất trông cây hằng
năm chiếm tỷ trọng lớn trong quỹ đất trồng trọt.Đất trồng cây hằng năm gấp từ 4-5 lần diện tích đất
trồng cây lâu năm và sự chênh lệch diện tích giữa 2 lọai đất này giảm dần theo thời gian.
1.2.1.1 Đất trồng cây hàng năm
Trong đất trồng cây hằng năm cây lương thực có hạt chiếm phần lớn diện tích gấp hơn 10 lần quỹ đất
triệu người với nhiều dân tộc ítngười, có trình độ dân trí thấp, phương thức canh tác lạc hậu, kinh tế
chậmphát triển và đời sống còn nhiều khó khăn.
Đất lâm nghiệp nhìn chung tăng dần qua các năm, từ 11575,03 nghìn ha vào năm 2000 tănglên 16243,67
nghìn ha vào năm 2010, chủ yếu do chuyển từ đất đồi chưa sử dụng sang trồng rừng.Trong đó, diện tích
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2011 Page 4
đất rừng sản xuất và đất rừng phòng hộ chiếm phần lớn đất lâm nghiệp. Đất rừng sản xuất tăng từ 39,1%
năm 2006 lên chiếm khoảng 47,4% năm 2010. Ngược lại, đất rừng sản xuất giảm từ 46,7% năm 2006
xuống còn 40,4% năm 2010. Chỉ chiếm một phần nhỏ 12,2% trong cơ cấu đất lâm nghiệp là đất rừng
phòng hộ. Cơ cấu cây lâm nghiệp ở rừng trồng rất đa dạng, chủ yếu là trồng nhiều keo, bạch đàn, ngoài
ra còn có thông, sưa, lim, mỡ, xoan, bồ đề, quế… Trong quá trình canh tác, một phần đất lâm nghiệp có
rừng được chuyển sang sử dụng vào những mục đích khác, cụ thể như sau :
- Chuyển đất lâm nghiệp có rừng sang sử dụng vào các mục đích khác: 105.600 ha.
- Chuyển đất lâm nghiệp có rừng sang đất sản xuất NN: 46.600 ha.
- Chuyển đất lâm nghiệp có rừng sang đất phi NN không phải đất ở: 56.100 ha.
- Chuyển đất lâm nghiệp có rừng sang đất ở: 2.900 ha.
1.2.3 Đất dùng cho chăn nuôi.
1.2.3.1 Nuôi trồng thủy hải sản
Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản cả nước năm 2011 ước đạt 1,05 triệu hecta, giảm 0,2% so với năm
trước; trong đó diện tích nuôi cá 367.700 ha, tăng 2,2%; diện tích nuôi tôm 626.800 ha, giảm 2%. Mặc
dù diện tích nuôi giảm chút ít nhưng sản lượng tăng 7,4% so với năm 2010, ước đạt 2,93 triệu tấn, trong
đó cá đạt 2,26 triệu tấn, tăng 7,5%; tôm 482.200 tấn, tăng 7,2%. Tổng diện tích nuôi cá tra theo các hình
thức trong cả nước ước đạt 12.900 ha, giảm 2,2% so với năm trước, tuy nhiên sản lượng ước đạt 1,12
triệu tấn, tăng 9,3% so với năm trước.
1.2.3.2.Diện tích đồng cỏ chăn nuôi
Chăn nuôi gia súc ăn cỏ trâu, bò, dê, cừu, thỏ là nghề truyền thống lâu đời của nông dân nước ta. Tuy
nhiên, chăn nuôi gia súc của nước ta vẫn còn phát triển chậm. Chăn nuôi chủ yếu tồn tại trong nông hộ
nhỏ lẻ, phân tán; thức ăn chủ yếu là tận dụng cỏ tự nhiên và phụ phẩm trong NN, sử dụng thức ăn công
nghiệp còn rất ít. Năng suất, sản lượng thịt, sữa và hiệu quả chăn nuôi chưa cao. Chăn nuôi bò sữa còn
nhỏ bé và bấp bênh. Chăn nuôi gia súc ăn cỏ trâu, bò, dê, cừu, thỏ chưa tương xứng với tiềm năng sẵn
có.
Trong đó, đất bằng chưa sử dụng là 535,7 nghìn ha, chiếm 1,627% diện tích đất cả nước; đặc biệt đất đồi
núi chưa sử dụng 7136,5 nghìn ha, chiếm 21,67% diện tích cả nước; đất có mặt nước chưa sử dụng 150,3
nghìn ha, chiếm 0,46%; sông suối 748,9 nghìn ha, chiếm 2,27%; núi đá không có rừng cây 618,3 nghìn
ha, chiếm 1,88%; đất chưa sử dụng khác 215 nghìn ha, chiếm 0,65%.
Các khu vực trong cả nước đất cũng phân bổ rất manh mún: ở đồng bằng sông Hồng bình quân đất
NN/người là 0,0585ha, thấp nhất cả nước, kế đến là Bắc Trung Bộ 0,71 ha, Duyên hải Nam Trung Bộ:
0,0796 ha. Cao nhất là Tây Nguyên 0,282 ha, đồng bằng sông Cửu Long 0,175 ha.
Bảng 2.1.1.2: Hiện trạng sử dụng đất bình quân mỗi người theo địa phương
Phân theo vùng Dân số năm
2003 (nghìn
người)
Tổng diện
tích
đất đai(ng
hìn ha)
Đất nôngnghiệp
(nghìn ha)
Bình quân đất
/người
Bình
quân đất NN/ng
ười
Cả nước 80902,4 32929,7 9406,8 0,407 0,116
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2011 Page 6
Đồng bằng sông Hồng 17648,7 1480,6 855,2 0,0839 0,0485
Đông Bắc 9220,1 6532,8 916,3 0,709 0,099
Tây Bắc 2390,2 3563,7 413,6 1,491 0,173
Bắc Trung Bộ 10410 5151,3 736,3 0,495 0,071
Duyên hải Nam Trung
Bộ
Nguồn: Bộ Tài Nguyên và Môi Trường
Tuy có tăng so với năm 2002 nhưng nói chung diện tích đất NN ở nước ta đang bị thu hẹp dần qua từng
năm .
Theo thống kê đến 1/1/2009, cả nước có quỹ đất là 33105,1 nghìn ha, trong đó đất NN là 25127,3 nghìn
ha, nhưng đất dùng để sản xuất NN chỉ có 9598,8 nghìn ha. Đất chưa sử dụng 4508,6 nghìn ha, đất bằng
chưa sử dụng 305,8 nghìn ha, đất đồi núi chưa sử dụng 3831,3 nghìn ha, núi đá không có rừng cây 371,5
nghìn ha. Như vậy quỹ đất có thể khai thác thêm là rất hạn hẹp, dùng vào NN là nhỏ do đó trong NN cần
quản lý đất đai một cách chặt chẽ và phát triển theo hướng nâng cao năng suất trên một đơn vị diện tích.
Diện tích đất NN năm 2009 tăng 18,3% ( 3902,45 nghìn ha) so với năm 2002, trong đó từng loại đất có
mức biến động khác nhau: Mặc dù một số diện tích sản xuất NN được chuyển sang đất ở, đất sản xuất
kinh doanh, đất xây dựng các công trình công cộng và đất nuôi trồng thủy sản nhưng tổng diện tích đất
sản xuất NN năm 2009 là 9,6 triệu ha, tăng 719,74 nghìn ha (+3,6%), so với năm 2001 chủ yếu do
chuyển đổi đất chưa sử dụng.
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2011 Page 7
Đất cây hàng năm tăng 218,16 nghìn ha chủ yếu do đất khai hoang trồng sắn, ngô…Ngược với xu
hướng tăng của các loại đất khác, đất trồng lúa giảm 248,65nghìn ha, (-5,7%), bình quân giảm 27,6
nghìn ha/ năm, chủ yếu do chuyển đổi sang chuyên dùng và đất nuôi trồng thủy sản
Bảng 2.2 :Một số chỉ tiêu theo World Bank:
Một số chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Diện tích đất ( km
vuông) 310070 310070 310070 310070 310070 310070 310070 310070
Đất NN (% diện tích
đất) 30,757571 31,58964 32,42494 32,50234 32,45074 33,0248 33,128
Diện tích đất
trồng (ha) 6581000 6469000 6358000 6348000 6309000 6282000 6280000
Đất canh
tác (ha mỗi người) 0,0817837 0,079435 0,077166 0,076195 0,07491 0,0738 0,073002
Đất canh tác (% diện
tích đất) 21,22424 20,86303 20,50505 20,4728 20,34702 20,25994 20,25349
Đất theo sản lượng
lúa
2000
8399.1 7666.3 0.9 42.4
2001
8224.7 7492.7 0.9 42.9
2002
8322.5 7504.3 0.9 45.9
2003
8366.7 7452.2 0.9 46.4
2004
8437.8 7445.3 0.9 48.6
2005
8383.4 7329.2 0.9 48.9
2006
8359.7 7324.8 0.9 48.9
2007
8304.7 7207.4 0.9 49.9
2008
8542.2 7400.2 0.9 52.3
2009
8527.4 7437.2 0.9 52.4
2010
8641.4 7513.7 0.9 53.2
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2011 Page 8
Nhìn bảng cho ta thấy hệ số gieo trồng qua các năm không thay đổi cho thấy việc tân dụng đất không
hiểu quả.
- Năng suất:Thực tế năng suất ruộng đất của nước ta không ngừng nâng cao trong những năm qua, đây
chính là thành quả của sự kết hợp khoa học kĩ thuật và hiểu biết đặc tính của đất với từng loại cây trồng, với
tác động tích cực của người nông dân tới độ phì nhiêu của đất. Sản xuất NN còn manh mún trên 70 triệu
thửa đất.
nhiều đến đất NN, nhất là đất lúa.
- Đẩy mạnh việc xây dựng hàng loạt các công trình thủy điện, hồ tích nước và một phần diện tích đất NN
bị chuyển đổi mục đích sử dụng vào ngành nuôi trồng thủy sản.
- Tình hình buông lỏng quản lý, nôn nóng chạy theo các lợi ích kinh tế ở nhiều địa phương, tự phát
chuyển mục đích sử dụng đất, tạo ra sự rối loạn trong sử dụng đất, để lại tác động rất xấu đến môi trường
hiện đang nhức nhối hơn cả.
- Quy hoạch sử dụng đất thời gian qua mới mang tính hình thức khi quy hoạch sử dụng đất chậm và lạc
hậu , Tình trạng kiểm soát chưa chặt chẽ, chưa tiết kiệm và hiệu quả
2.2. So sánh luật đất đai trước và sau năm 2003.
2.2.1.luật đất đai trước 2003
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2011 Page 9
2.2.1.1 Khái quát một số chính sách liên quan tới đất đai trước năm 2003.
-Trước năm
1945,
đất NN được phân chia thành 2 loại
c
h
í
nh
:
Đất sở hữu cộng đồng và
đất
tư hữu. Khu
vực nông thôn được phân chia làm 2 tầng lớp dựa trên tính chất sở hữu
c
ủ
a
đất
đai:
Địa chủ và tá điền.
điền.
- Năm
1954,
miền
Bắc
thực hiện
C
hươn
g
trình cải cách ruộng đất cơ bản. Và kết quả là khoảng ¼ diện
tích ruộng đất được phân chia lại cho người nông dân với mục tiêu công
b
ằ
n
g
dù ít dù nhiều, đem lại lợi
ích cho khoảng 73% người dân ở nông thôn
-Đất đai vẫn thuộc sở
hữu
của Nhà nước và dưới sự quản lý của HTX.
-Ở miền Nam một loạt các mâu thuẫn cũng gia tăng trong khu vực nông thôn, đặc biệt là
m
ố
i
quan hệ
đất đai bởi sự “cào bằng” về phân chia và điều chỉnh đất đai .
Để giải quyết các vấn đề trên,chính sách
đổ
i
ư
ợ
c
các
cơ
quan chức năng xem xét và cấp cho các nông hộ. Đến năm
1998, giấy
chứng nhận
q
u
y
ề
n
sử dụng đất
(LUCs)
đã được cấp cho
71%
h
ộ
nông dân, cuối năm
2000
con số này là trên 90% đối
với
đất rừng ở khu
vực trung du và miền núi
.
- Vào năm
1998,
người nông dân được giao
t
cách người đại diện.
Theo Luật Đất đai
1993:
-Hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài ,Người có nhu cầu sử dụng được giao
đ
ấ
t
trong thời hạn 20 năm đối với
cây
hàng năm và ngư nghiệp, 50 năm đối với
cây
lâu năm. Việc giao đất
sẽ được tiến hành lại tại thời điểm
c
u
ố
i
chu kỳ giao đất nếu như người sử dụng
đ
ấ
t
vẫn có nhu cầu sử
dụng.
- Quy định mức hạn điền đối với hộ nông dân, cụ
t
h
ể
đối với
cây
hàng năm là 2 hecta ở miền
giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ở
VN không nằm ngoài những ràng
b
uộ
c
và yêu cầu của luật pháp. Khả năng
c
hu
y
ển
nhượng, cho thuê,
chuyển đổi, thế chấp hay thừa kế quyền sử dụng đất thay đổi tuỳ
t
h
e
o
từng loại đất, người sử dụng đất và
loại
q
u
y
ền
sử dụng đất.
Năm
2001,
những sửa đổi bổ sung Luật Đất đai năm
1993
cho phép người sử
d
ă
m
2003
và có hiệu lực từ tháng 7 năm
2004.
-
Đố
i
với đất NN không có sự thay đổi về thời hạn sử dụng và diện tích hạn điền so với Luật Đất đai
năm
1993.
Tuy nhiên, lần đầu
t
i
ê
n
đất đai được chính thức xem như là “hàng
h
o
á
đặc
b
i
ệ
t
’
có giá trị và
chính vì thế có thế
c
hu
Đồng thời, Luật Đất đai (sửa đổi) quy định Nhà nước giao cho tổ chức phát triển quỹ đất do Uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập để thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, giải
phóng mặt bằng và trực tiếp quản lý quỹ đất đã thu hồi đối với trường hợp sau khi quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất được công bố mà chưa có dự án đầu tư.
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2011 Page 11
-Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Luật Đất đai (sửa đổi) quy định cấp nào có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử
dụng đất, thu hồi đất thì cấp đó có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Đăng ký đất đai
Luật Đất đai (sửa đổi) quy định việc đăng ký quyền sử dụng đất được thực hiện tại Văn phòng đăng
ký quyền sử dụng đất
- Giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai
• Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai:
Khuyến khích hòa giải tranh chấp đất đai,quy địnhcấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
• Về giải quyết khiếu nại về đất đai: Quy định làm rõ, tách bạch giữa giải quyết khiếu nại về đất
đai với giải quyết tranh chấp về đất đai.
- Quản lý tài chính về đất đai
• Quy định nguyên tắc về định giá đất, bảo đảm sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực
tế trên thị trường trong điều kiện bình thường; khi có chênh lệch lớn so với giá chuyển nhượng
quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường thì phải điều chỉnh cho phù hợp.
• Luật Đất đai (sửa đổi) quy định cho phép doanh nghiệp có khả năng chuyên môn làm dịch vụ tư
vấn về giá đất để thuận lợi trong giao dịch quyền sử dụng đất.
• Bổ sung quy định về đấu giá quyền sử dụng đất và đấu thầu dự án trong đó có quyền sử dụng đất
nhằm khắc phục những tiêu cực trong cơ chế xin - cho quyền sử dụng đất và để tăng thu cho
ngân sách nhà nước.
Chế độ sử dụng đất
- Phân loại đất
Luật Đất đai (sửa đổi) quy định phân chia đất thành 3 nhóm: nhóm đất NN, nhóm đất phi NN, nhóm đất
chưa sử dụng; trong mỗi nhóm đất được phân thành nhiều loại đất cụ thể và có quy định quản lý, sử
dụng theo từng loại đất đó nhằm tạo điều kiện cho việc quản lý vĩ mô của Nhà nước, thuận lợi cho người
-Góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, thể hiện trên các mặt: Quy hoạch sử dụng đất phù hợp đã
tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận đất đai, thực hiện dự án đầu tư,
-Thủ tục tiếp cận đất đai được minh bạch hơn với sự phân cấp rõ ràng về thẩm quyền thẩm định, quyết
định giao đất, cho thuê đất… đối với từng cơ quan chức năng ở địa phương.
2.2.3.2 Hạn chế
Tuy nhiên, nhìn chung thủ tục đất đai còn phức tạp:Điều 31, Luật Đất đai 2003 quy định căn cứ để giao
đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng rất đơn giản, nhưng thực tế để thực hiện được điều đó là quá
trình phức tạp, mất nhiều thời gian và điều đáng nói là nó phụ thuộc rất lớn vào thái độ, quan điểm giải
quyết của các cơ quan Nhà nước ở địa phương và các rào cản dưới dạng "Quy hoạch".
- Thời gian sử dụng đất, khi hết thời hạn, để được Nhà nước tiếp tục giao đất, người sử dụng đất phải
đảm bảo các điều kiện: có nhu cầu tiếp tục sử dụng, chấp hành đúng pháp luật về đất đai trong quá trình
sử dụng, và việc sử dụng đất đó phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt. Nếu căn cứ vào
các điều kiện trên, nhiều người sẽ không được gia hạn với lý do phổ biến là không phù hợp quy hoạch.
Do một số diện tích đất NN hiện nay đều không có quy hoạch được duyệt là đất NN, thay vào đó là quy
hoạch khu dân cư, cây xanh, đất giao thông
Mâu thuẫn giữa Luật Đất đai với những luật, chính sách phát triển kinh tế khác cộng với những điểm
còn chưa rõ ràng của Luật này đã tạo nhiều bất ổn trong phát triển kinh tế tổng thể và gây ra những lãng
phí và tranh chấp không đáng có. Mặc dù chính sách đất đai được thay đổi liên tục nhưng những kẽ hở
và sự thiếu rõ ràng của nó không những làm cho số vụ tranh chấp, khiếu nại, tố cáo của người dân,
doanh nghiệp liên quan tới đất đai giảm xuống mà ngược lại ngày càng tăng. Nhiều vụ khiếu kiện số
người tham gia lên tới hàng nghìn gây ra những bất ổn xã hội và khó giải quyết. Như vậy, hầu hết các
khiếu kiện về đất đai đều có liên quan tới Nhà nước hoặc các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai và nó
gây ra tâm lý thiếu tin cậy vào bộ máy hành chính các cấp ở địa phương.
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2011 Page 13
Ví dụ:
Vụ cưỡng chế đất thu hồi của gia đình ông Đoàn Văn Vươn ,huyện Tiên Lãng,Hải Phòng
"Sai phạm đầu tiên về pháp luật đất đai là Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng đã tự ban hành vào ngày
6/10/1993 một văn bản quy định về thời hạn và hạn mức diện tích sử dụng đất trên địa bàn. Trong hệ
thống pháp luật đất đai của nước ta từ năm 1987 đến nay chưa bao giờ cho phép UBND cấp huyện được
làm việc này"
- Chính sách thuế đất NN
Nhà nước thu từ nông dân sử dụng đất NN các khoản: tiền thuê đất, thuế sử dụng đất và một số lệ phí quản
lý đất đai. Nhìn chung, tổng thuế sử dụng đất NN không lớn. Từ năm 2003 đến năm 2010, Chính phủ đã quyết
định miễn thuế sử dụng đất NN trong hạn điền cho tất cả hộ nông dân và miễn hoàn toàn thuế sử dụng đất cho
hộ nông dân nghèo, giảm 50% cho diện tích vượt hạn điền.
2.3.1.Thành tựu đạt được
Đảng và Nhà nước VN đã đề ra nhiều chủ trương chính sách và liên tục đổi mới, làm cho hiệu quả sử
dụng đất đai ngày càng tăng:
- Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về đất đai từng bước được hoàn thiện, tăng cường phân cấp cho địa
phương,
-Chính sách đất đai đã tạo điều kiện cho nông dân chủ động lao động, sản xuất, kinh doanh nhằm tăng hiệu
quả sử dụng đất và tăng thu nhập.
-Chính sách đất NN tạo điều kiện để nông dân chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Trong cả nước, số hộ độc canh lúa giảm đi. Đã xuất hiện nhiều trang trại chuyên canh nông sản hàng hóa.
-Chính sách đất NN hỗ trợ nông dân tiếp cận tín dụng ngân hàng đã hỗ trợ họ không chỉ trong thực hành
giao dịch quyền sử dụng đất an toàn, nhất là cho thuê, góp vốn sản xuất, mà còn giúp họ thế chấp quyền sử
dụng đất để vay vốn ngân hàng.
-Chính sách đất NN đã bước đầu khuyến khích nông dân tích tụ, tập trung đất để kinh doanh hiệu quả hơn,
nông dân có thể chuyển đổi, chuyển nhượng đất cho nhau hoặc thuê mướn để có diện tích đất NN liền
khoảnh, quy mô lớn thích hợp với cơ giới hóa, từ đó thuận lợi cho việc áp dụng các biện pháp bảo vệ thực
vật và thâm canh.
-Chính sách đất NN kích hoạt thị trường bất động sản ở nông thôn, tạo điều kiện phân bổ đất NN hiệu quả,
hình thành nhiều ngành nghề mới ở nông thôn.
- Giá trị sản xuất NN tăng, giá nông sản thấp, phần thu nhập dành cho mua thực phẩm giảm, lương thực tế
của công nhân và người đi làm tăng, giúp cải thiện đời sống, tăng đầu tư vào những lĩnh vực khác
- Công nghiệp phát triển được như hiện nay là một phần nhờ chính sách điều tiết của chính phủ từ NN sang
công nghiệp, giúp tạo nguồn lực ban đầu cho công nghiệp.
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tạo bước đi hợp lý cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2.3.2 Những hạn chế
trở nên manh mún.
-Chính sách thu hồi đất và giá đất NN khiến nông dân thiệt thòi.Thiệt thòi thứ nhất là Nhà nước không đủ quỹ
đất NN để đền bù cho nông dân nên họ trở nên không còn phương tiện để sinh sống. Thiệt thòi thứ hai là các
vùng đất dành để đền bù cho nông dân thường không thuận lợi bằng đất bị thu hồi, nên đời sống của họ trở
nên khó khăn hơn. Thiệt thòi thứ ba là nông dân không được quyền thỏa thuận khi đền bù. Những chính sách
như đào tạo nghề cho nông dân thuộc diện thu hồi đất, khuyến khích người nhận quyền sử dụng đất thu hồi từ
nông dân chia sẻ lợi ích với nông dân, chính sách tái định cư thường đem lại hiệu quả thấp.
-Chưa tạo điều kiện khuyến khích nông dân tiếp cận công nghệ sản xuất hiện đại.
- Hạn mức sử dụng đất NN giao cho nông dân quá thấp khiến hầu hết các hộ NN đều canh tác bằng lao động
thủ công của gia đình, không có nhu cầu mua máy móc và hợp tác với nhau trong hoạt động sản xuất NN,
trong giao dịch tư liệu sản xuất và tiêu thụ nông sản, trong áp dụng đồng bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất
NN.
Chương 3: Một số kết luận và giải pháp
3.1. Kết luận
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2011 Page 16
Thông qua quá trình nghiên cứu, chúng em đã có thêm kiến thức đất NN, quá trình hình thành và sự phân
bố của đất trong sản xuất NN, việc sử dụng không hiệu quả và chưa khai thác hết tiềm năng của đất . Qua
sự so sánh Luật đất đai trước và sau 2003 cho ta thấy Luật đất đai của VN còn nhiều bất cập và hạn chế.
Mong Luật đất đai sửa đổi và bổ sung sắp tới sẽ khắc phục những hạn chế đó.
3.2. Giải pháp
-Các quyền sử dụng đất
c
ũn
g
nên được áp dụng trong một thời gian dài
h
ơn
và có thể thực hiện với ít hơn
các luật lệ và
-Cải cách thủ tục hành chính quản lý đất nhằm kích hoạt thị trường đất NN:Công khai hóa và tinh giản thủ tục
quản lý đất để quyền sử dụng đất NN trở thành hàng hóa và có thể lưu thông dễ dàng, nhất là ổn định và công
khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Nhà nước.
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2011 Page 17