đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi tôm he chân trắng (litopenaeus vannamei) thương phẩm tại tỉnh khánh hòa - Pdf 25


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG


HỒ THỊ THÚY THANH

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI
CỦA NGHỀ NUÔI TÔM HE CHÂN TRẮNG
(Litopenaeus vannamei) THƯƠNG PHẨM
TẠI TỈNH KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Khánh Hòa - 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong
luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

iiiMỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4
1.1. Khái niệm hiệu quả kinh tế 4
1.1.1. Các quan điểm truyền thống về hiệu quả kinh tế 4
1.1.2. Các quan điểm mới về hiệu quả kinh tế 7
1.2. Bản chất và tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế 10
1.2.1. Bản chất của hiệu quả kinh tế 10
1.2.2. Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế 13
1.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 15
1.3.1. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh tế 15
1.3.1.1. Doanh thu 16
1.3.1.2. Chi phí 16
1.3.1.3. Lợi nhuận 18
1.3.2. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế 19
1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội 19

3.2.1. Đánh giá kết quả kinh tế 48
3.2.1.1. Tỉnh Khánh Hòa 48
3.2.1.2. Phân theo các huyện 49
3.2.2. Đánh giá hiệu quả kinh tế 52
3.2.2.1. Tỉnh Khánh Hòa 52
3.2.2.2. Phân theo các huyện 53
3.2.3. Đánh giá hiệu quả xã hội 60
3.3. Đánh giá chung về hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi tôm he chân trắng tại
tỉnh Khánh Hòa 62 v

3.3.1. Thành tựu và hạn chế của nghề nuôi tôm he chân trắng tỉnh Khánh Hòa 62
3.3.2. Một số nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả các hộ nuôi tôm he
chân trắng tại tỉnh Khánh Hòa 64
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 70
4.1. Kết luận 70
4.2. Kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội đối với nghề nuôi tôm he
chân trắng tại Khánh Hòa 71
4.2.1. Đối với người nuôi 71
4.2.2. Đối tỉnh Khánh Hòa 72
4.3. Hạn chế của đề tài 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 79
Bảng 1: Thống kê mô tả mật độ theo từng huyện tỉnh Khánh Hòa, 2010 45
Bảng 18: Thống kê mô tả hệ số thức ăn theo từng huyện tỉnh Khánh Hòa, 2010 46
Bảng 19: Thống kê mô tả độ trong theo từng huyện tỉnh Khánh Hòa, 2010 46
Bảng 20: Thống kê mô tả độ mặn theo từng huyện tỉnh Khánh Hòa, 2010 46
Bảng 21: Thống kê mô tả tỷ lệ đạm của thức ăn theo từng huyện 47
Bảng 22: Thống kê mô tả năng suất tôm nuôi theo từng huyện 47
Bảng 23: Kết quả kinh tế của nghề nuôi tôm he chân trắng tại tỉnh Khánh Hòa 48
Bảng 24: Kết quả kinh tế của nghề nuôi tôm he chân trắng tại Cam Ranh, 2010 49
Bảng 25: Kết quả kinh tế của nghề nuôi tôm he chân trắng tại Nha Trang, 2010 50
Bảng 26: Kết quả kinh tế của nghề nuôi tôm he chân trắng tại Ninh Hòa, 2010 51
Bảng 27: Kết quả kinh tế của nghề nuôi tôm he chân trắng tại Vạn Ninh, 2010 51 vii

Bảng 28: Hiệu quả kinh tế của nghề nuôi tôm he chân trắng tại tỉnh Khánh Hòa 52
Bảng 29: Kết quả kinh tế của nghề nuôi tôm he chân trắng tại Cam Ranh, 2010 53
Bảng 30: Kết quả kinh tế của nghề nuôi tôm he chân trắng tại Nha Trang, 2010 54
Bảng 31: Kết quả kinh tế của nghề nuôi tôm he chân trắng tại Ninh Hòa, 2010 55
Bảng 32: Kết quả kinh tế của nghề nuôi tôm he chân trắng tại Vạn Ninh, 2010 56
Bảng 33: So sánh hiệu quả kinh tế của nghề nuôi tôm he chân trắng của các huyện,
thành phố tại Khánh Hòa, 2010 57
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ


tôm tôm he chân trắng được đưa vào nuôi thử nghiệm từ năm 2001. Đến nay loài tôm
này đã trở thành đối tượng nuôi phổ biến ở nhiều địa phương trên cả nước [2]
Trong những năm gần đây điều kiện thời tiết không thuận lợi. Môi trường các
vùng nuôi tôm sú ven biển ngày càng ô nhiễm, cơ sở vật chất phục vụ nuôi tôm của
các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ chưa được đầu tư đồng bộ, phần lớn các hộ nuôi
tôm phát triển tự phát thiếu quy hoạch, nên việc nuôi tôm sú đang đối mặt với nhiều
yếu tố rủi ro: ô nhiễm môi trường, dịch bệnh…giá cả bấp bênh, hiệu quả kinh tế thấp.
Để từng bước khắc phục tình trạng nuôi độc canh tôm sú bằng việc đa dạng hóa đối
tượng nuôi, có thể đưa các đối tượng mới vào để cải tạo, như thay bằng tôm he chân 2

trắng, cua, ghẹ, rô phi đơn tính…nhằm tận dụng tối đa diện tích mặt nước, giúp nông
dân các vùng nông thôn ven biển góp phần xoá đói, giảm nghèo. Trong các đối tượng
trên, tôm he chân trắng là đối tượng cần được ưu tiên phát triển vì tôm he chân trắng là
đối tượng rộng muối, rộng nhiệt, dễ nuôi, ở giai đoạn dưới 20g/con tôm he chân trắng
có tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh, có giá trị kinh tế cao và cũng là nguồn nguyên
liệu quan trọng phục vụ cho xuất khẩu.
Khánh Hòa là địa phương có tốc độ tăng diện tích nuôi tôm he chân trắng nhanh
đến chóng mặt. Năm 2008, diện tích nuôi tôm he chân trắng ở đây chỉ có 900 ha thì
sang năm 2009 đã tăng đến 3.100 ha [9]. Do lợi nhuận từ nghề nuôi tôm he chân trắng
mang lại khá cao nên diện tích nuôi ngày càng phát triển không theo quy hoạch của địa
phương, của ngành. Diện tích nuôi gia tăng tỷ lệ thuận với mức độ ô nhiễm môi
trường, dịch bệnh bùng phát và lây lan. Đây cũng chính là hệ quả của việc quản lý
chưa chặt chẽ, trình độ của người nuôi còn hạn chế, nhất là kỹ thuật quản lý môi
trường, phòng ngừa dịch bệnh trên tôm nuôi làm cho nghề nuôi tôm he chân trắng
chưa thật sự phát triển bền vững. Hiệu quả kinh tế mang lại tuy có cao nhưng thiếu
tính ổn định, còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, nguy cơ. Khánh Hòa năm 2009 thả nuôi 2.360
ha tôm he chân trắng thì bị thiệt hại đến 1.500 ha làm cho nhiều ngư dân điêu đứng, nợ

hội nghề nuôi tôm he chân trắng thương phẩm tại hành phố Nha Trang, thành phố Cam
Ranh, thị xã Ninh Hòa, huyện Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa.
Những kết luận của đề tài sẽ là một tài liệu hỗ trợ cho người nuôi và các cơ
quan chức năng trong việc lập kế hoạch và quy hoạch để nghề nuôi tôm he chân trắng
có hiệu quả và bền vững.
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho người nuôi tôm he chân trắng có những định
hướng và giải pháp đúng đắn nhằm phát triển nghề nuôi một cách hiệu quả, bền vững.
Luận văn còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho những nghiên cứu tiếp theo về
hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi tôm he chân trắng.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận – kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
đề tài gồm:
Chương 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương 2. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu và phương
pháp nghiên cứu
Chương 3. Kết quả nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Khái niệm hiệu quả kinh tế
1.1.1. Các quan điểm truyền thống về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả hiểu theo nghĩa phổ thông, phổ biến trong cách nói của mọi người:
‘’Kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại hiệu quả” [15].

ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng vẫn chưa có sự thống
nhất trong quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh. Các nhà kinh tế và thống kê có
nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh do điều kiện lịch sử và
giác độ nghiên cứu là không giống nhau.
"Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu trong tiêu
thụ hàng hóa” [14]. Theo quan điểm này thì hiệu quả là tốc độ tăng của kết quả đạt
được như: Tốc độ tăng của doanh thu, của lợi nhuận. Như vậy hiệu quả được đồng
nhất với các chỉ tiêu kết quả hay với nhịp độ tăng của các chỉ tiêu ấy. Quan điểm này
thực sự không còn phù hợp với điều kiện ngày nay. Kết quả sản xuất có thể tăng lên do
tăng chi phí, mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất (đầu vào của quá trình sản xuất).
Nếu hai doanh nghiệp có cùng một kết quả sản xuất tuy có hai mức chi phí khác nhau,
theo quan điểm này thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của chúng là như nhau.
"Hiệu quả được xác định bằng nhịp độ tăng tổng sản phẩm mà xã hội hoặc thu
nhập quốc dân” [14]. Xét trên phạm vi của doanh nghiệp, theo quan điểm này thì hiệu
quả sản xuất kinh doanh và nhịp độ tăng giá trị tổng sản lượng là một. Nhìn trên một
góc độ nào đó thì quan điểm này cũng gần giống như quan điểm trên. Nó cũng không
đề cập tới chi phí bỏ ra để đạt được giá trị tổng sản lượng đó. Nếu tốc độ tăng của chi
phí sản xuất được các nguồn lực được huy động tăng nhanh hơn nhịp độ tăng giá trị
tổng sản lượng thì sao. Hơn nữa, việc chọn năm gốc có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả
so sánh. Với mỗi năm gốc khác nhau chúng ta lại
có mức hiệu quả khác nhau của cùng một năm nghiên cứu.
"Hiệu quả sản xuất diễn ra khi sản xuất không thể tăng sản lượng một loại hàng
hóa mà không cắt giảm sản xuất của một loại hàng hóa khác. Một nền kinh tế có hiệu
quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó” [11]. Nhìn nhận quan điểm
này dưới giác độ doanh nghiệp thì tình hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả khi nằm
trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó. Giới hạn khả năng sản xuất của doanh
nghiệp được xác định bằng giá trị tổng sản lượng tiềm năng, là giá trị tổng sản lượng
cao nhất có thể đạt được ứng với tình hình công nghệ và nhân công nhất định. Theo
quan điểm này thì hiệu quả thể hiện ở sự so sánh mức thực tế và mức "tối đa" về sản
lượng. Tỷ lệ so sánh càng gần 1 càng có hiệu quả. Mặt khác ta thấy quan điểm này

thành sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn. Nó chỉ được tính toán khi kết thúc một
quá trình sản xuất kinh doanh.
"Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc một quá trình kinh tế) phản ánh
trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân tài, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác
định” [13].
Như vậy ta nhận thấy rằng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phản
ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Còn kết quả của quá 7

trình sản xuất kinh doanh (doanh thu, lợi nhuận) thì phản ánh số lượng của hoạt động
sản xuất kinh doanh. Vậy khi xem xét, đánh giá hoạt động của một doanh nghiệp thì
phải quan tâm cả kết quả cũng như hiệu quả của doanh nghiệp đó. Quan điểm này đã
đánh giá được tốt nhất trình độ lợi dụng các nguồn lực ở mọi điều kiện "động" của
hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc tính toán hiệu quả hoàn toàn có thể thực hiện
được trong sự vận động và biến đổi không ngừng của hoạt động sản xuất kinh doanh,
không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động khác nhau của chúng.
Theo Hoàng Hùng (2001): Các quan điểm truyền thống chưa thật toàn diện khi
xem xét hiệu quả kinh tế: Thứ nhất, nó coi quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái
tĩnh, chỉ xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư. Trong khi đó hiệu quả là chỉ tiêu rất quan
trọng không những cho phép chúng ta biết được kết quả đầu tư mà còn giúp chúng ta
xem xét trước khi ra quyết định đầu tư tiếp và nên đầu tư bao nhiêu, đến mức độ nào. Trên
phương diện này, quan điểm truyền thống chưa đáp ứng đầy đủ được. Thứ hai, nó
không tính yếu tố thời gian khi tính toán thu và chi cho một hoạt động sản xuất
kinh doanh. Do đó, thu và chi trong tính toán hiệu quả kinh tế theo quan điểm này thường
chưa tính đủ và chính xác. Thứ ba, hiệu quả kinh tế theo quan điểm truyền thống chỉ bao
gồm hai phạm trù cơ bản là thu và chi. Hai phạm trù này chủ yếu liên quan đến yếu tố tài
chính đơn thuần như chi phí về vốn, lao động, thu về sản phẩm và giá cả. Trong khi đó,
các hoạt động đầu tư và phát triển lại có những tác động không chỉ đơn thuần về mặt kinh

thêm. Tỷ số D O/ D I được gọi là sản phẩm biên. Hiệu quả phân bổ nguồn lực là giá trị
sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư thêm. Thực chất nó là hiệu quả kỹ
thuật có tính đến các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào. Nó đạt tối đa khi doanh thu
biên bằng chi phí biên. Hiệu quả kinh tế là phần thu thêm trên một đơn vị đầu tư thêm.
Nó chỉ đạt được khi hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả sử dụng nguồn lực là tối đa.
Yếu tố thời gian, các nhà kinh tế hiện nay đã coi thời gian là yếu tố trong tính
toán hiệu quả. Cùng đầu tư một lượng vốn như nhau và cùng có tổng doanh thu bằng
nhau nhưng hai dự án có thể có hiệu quả khác nhau
Hiệu quả tài chính, xã hội và môi trường: Theo quan điểm toàn diện, hiệu
quả kinh tế nên được đánh giá trên ba phương diện: Hiệu quả tài chính, xã hội
và hiệu quả môi trường. Hiệu quả tài chính mà trước đây ta quen gọi là hiệu quả
kinh tế thường được thể hiện bằng những chỉ tiêu như lợi nhuận, giá thành, tỷ lệ nội
hoàn vốn, thời gian hoàn vốn
Hiệu quả xã hội của một dự án phát triển bao gồm lợi ích xã hội mà dự án đem
lại như: Việc làm, mức tăng về GDP do tác động của dự án, sự công bằng xã hội, sự tự
lập của cộng đồng và sự được bảo vệ hoặc sự hoàn thiện hơn của môi trường sinh
thái Một số tác giả khác khi đánh giá hiệu quả kinh tế cho rằng cần phân biệt hai
khái niệm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối 9

tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra. Còn hiệu
quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa các lợi ích xã hội thu được và tổng chi phí
bỏ ra. Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là
tiền đề của nhau và là phạm trù thống nhất. Việc phân biệt hiệu quả tài chính hay hiệu
quả xã hội là tuỳ theo phạm vi và mức độ của sự phân tích là của cá nhân hay cả xã hội
khi xem xét. Hiệu quả tài chính được phân tích trên quan điểm lợi ích cá nhân của
từng người đầu tư; chỉ tính toán những lời lãi thông thường trong phạm vi tài chính để
cho người đầu tư ra quyết định đầu tư. Hiệu quả xã hội thì được phân tích trên lợi ích

động bất lợi của dự án đầu tư đến môi trường (ô nhiễm môi trường, thay đổi bất lợi
cho hệ sinh thái,vv ) và đến xã hội như khoảng cách giàu và nghèo, công bằng
trong phân phối
Về lợi ích, quan điểm mới tính đến ba phạm trù: Lợi ích tài chính, xã hội và lợi
ích về môi trường. Lợi ích tài chính bao gồm việc đạt được kết quả, năng suất cao cho
các hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Ở các dự án đầu tư nông nghiệp và
nông thôn thì lợi ích kinh tế chính là sự tăng lên của năng suất vật nuôi, cây trồng, sự
đa dạng hoá nền sản xuất nông nghiệp và chủng loại sản phẩm nông nghiệp dựa trên
lợi thế so sánh của từng vùng sinh thái khác nhau. Lợi ích xã hội thể hiện ở khả năng
đảm bảo công bằng trong phân phối các nguồn lực và phúc lợi xã hội giữa các vùng,
giữa các cộng đồng dân cư trong cùng một vùng Đồng thời đảm bảo sự bền
vững của dự án thông qua các cơ chế tham gia của người hưởng lợi dự án vào các
quá trình đầu tư và sử dụng thành quả đầu tư, thực hiện được mục tiêu ổn định xã hội.
Lợi ích môi trường là khả năng bảo tồn và phát triển tài nguyên môi trường (đất, nước,
đa dạng sinh học ).
Quan niệm mới về hiệu quả đầu tư cho phép đánh giá toàn diện hơn các tác
động do dự án đầu tư mang lại, phù hợp với xu thế thời đại và chiến lược tăng trưởng
và phát triển bền vững của các quốc gia ngày nay.
1.2. Bản chất và tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế
1.2.1. Bản chất của hiệu quả kinh tế
Hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động
kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị, máy móc,
tiền, nguyên vật liệu) để đạt được mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp. Bản chất của
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là sự thực hiện yêu cầu của quy luật
tiết kiệm thời gian.
Các Mác đã cho rằng quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng
đặc biệt. Mọi hoạt động của con người đều phải tuân theo quản lý đó. Con người tạo
ra của cải vật chất bằng sức lao động. Lao động được đo lường bằng thời gian. Với
một mục tiêu nhất định con người phải thực hiện trong một thời gian lao động ít nhất,
hay nói một cách khác thì trong một thời gian lao động nhất định kết quả đạt được

“đầu vào” và “đầu ra” không có cùng một đơn vị đo lường, còn việc sử dụng đơn vị
giá trị luôn luôn đưa các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị đo lường tiền tệ.
Vấn đề được đặt ra là hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu hay phương tiện
của kinh doanh? Trước tiên, hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh việc thực hiện
mục tiêu của doanh nghiệp đạt được ở trình độ nào. Nhưng xem xét hiệu quả kinh
tế không chỉ dừng ở đó mà thông qua đó có thể phân tích, tìm ra các nhân tố cho
phép nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Từ đó có thể có các giải pháp nhằm đạt 12

mục tiêu của doanh nghiệp ở mức độ cao hơn với chi phí về nhân tài, vật lực và tiền
vốn ít hơn. Như vậy, nhiều lúc người ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu
cần đạt và trong nhiều trường hợp khác người ta lại sử dụng chúng như công cụ để
nhận biết khả năng tiến tới mục tiêu cần đạt là kết quả.
Như đã đề cập trên, bản chất hiệu quả hoạt động kinh doanh là hiệu quả của lao
động xã hội, được so sánh giữa chất lượng kết quả lợi ích thu được với lượng hao phí
lao động xã hội và tiêu chuẩn của hiệu quả hoạt động kinh doanh là tối đa hóa kết quả
hoặc tối thiểu hóa chi phí trên nguồn vốn sẵn có. Hiệu quả kinh doanh chỉ có thể đạt
được trên cơ sở nâng cao năng suất lao động và chất lượng công tác. Để đạt hiệu quả
ngày càng cao và vững chắc, đòi hỏi các nhà kinh doanh không những nắm chắc các
tiềm năng tiềm ẩn về lao động, vốn, kỹ thuật… mà còn phải nắm vững tình hình cung
cầu hàng hóa trên thị trường, đối thủ cạnh tranh…hiểu được thế mạnh thế yếu
của doanh nghiệp để khai thác hết mọi tiềm năng hiện có, tận dụng được những
cơ hội vàng của thị trường, ngoài ra phải nghiên cứu và nhận thức một cách đầy đủ
bản chất và các quan điểm đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Từ việc đánh giá
đúng hiệu quả, cho phép doanh nghiệp phát hiện khả năng và tìm đúng biện pháp để
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh:
Thứ nhất, cần phân biệt sự khác nhau và mối quan hệ giữa kết quả kinh tế với
hiệu quả kinh tế. Về hình thức, hiệu quả kinh tế luôn là một phạm trù so sánh thể hiện

Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là cơ sở để đánh giá mức độ hiệu quả của
các phương án khác nhau và chọn phương án có hiệu quả kinh tế cao. Trong thực tế,
nếu thiếu một tiêu chuẩn thống nhất sẽ không có căn cứ xác đáng để đưa ra những
quyết định hợp lý, nhất là trong điều kiện giải quyết một nhiệm vụ đòi hỏi thực hiện
tổng hợp các biện pháp, mà ảnh hưởng của chúng đến kết quả cuối cùng không đồng
nhất hoặc không đồng hướng như nhau.
Cần phải có một tiêu chuẩn chung để đánh giá hiệu quả kinh tế. Tiêu chuẩn
hiệu quả kinh tế phải thể hiện mối tương quan giữa thu và chi theo hướng cực đại cái
thu được và cực tiểu cái phải chi ra. Tiêu chuẩn ấy nhất thiết phải thể hiện được mục
đích của sản xuất trong điều kiện nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trong từng giai đoạn cụ
thể. Mục đích của chủ nghĩa xã hội, suy đến cùng, là nâng cao mức sống vật chất, tinh
thần và sự phát triển toàn diện của mọi công dân trong xã hội. Để thực hiện mục
đích đó, phải sử dụng hợp lý tất cả chi phí và dự trữ sản xuất để tạo nên kết quả cao
nhất. Nghĩa là, phải tăng năng suất lao động xã hội.
Như vậy, theo nghĩa tổng quát có thể coi tăng năng suất lao động xã hội như
tiêu chuẩn chung của hiệu quả kinh tế dưới chủ nghĩa xã hội. Theo ý nghĩa trực tiếp,
tăng năng suất lao động xã hội là giảm hao phí lao động xã hội cần thiết để tạo ra đơn
vị sản phẩm hoặc tăng lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian. Theo ý 14

nghĩa rộng hơn, tăng năng suất lao động dưới chủ nghĩa xã hội còn là việc phát triển
sản xuất, mở mang ngành nghề, trên cơ sở đó thu hút thêm lao động vào việc tạo ra
của cải vật chất, tạo thêm việc làm cho người lao động. Tăng năng suất lao động xã
hội tạo ra điều kiện vật chất để tăng thu nhập quốc dân, tăng quỹ tích lũy và quỹ tiêu
dùng xã hội. Đó là những điều kiện không thể thiếu để cải thiện mức sống vật chất,
tinh thần và sự phát triển toàn diện của mọi công dân trong xã hội.
Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế phải đảm bảo tính toàn diện. Trước hết, đó là sự
gắn bó và ước định lẫn nhau giữa giá trị và giá trị sử dụng: một mặt, giảm chi phí lao

lực không giống nhau. Thậm chí cùng một loại nhân tố nhưng thời kỳ này tác động
mạnh, thời kỳ khác lại có thể yếu hơn. Mặt khác, có loại chỉ tiêu trị sốcàng lớn càng
tốt (được gọi là chỉ tiêu thuận), lại có chỉ tiêu trị số càng nhỏ càng tố (được gọi là
chỉ tiêu nghịch). Trong đánh giá HQKT không thể sử dụng một chỉ tiêu mà phải sử
dụng một hệ thống chỉ tiêu. Các chỉ tiêu này lại không trực tiếp cộng lại được với
nhau và mỗi chỉ tiêu biểu hiện HQKT ở một khía cạnh riêng biệt, do đó cũng không
thể sử dụng một chỉ tiêu làm đại diện để so sánh.
Xác định kết quả kinh tế của nghề nuôi tôm he chân trắng là xác định những chi
phí bỏ ra cho các yếu tố đầu vào, như: Chi phí cố định: Chi phí khấu hao của giá trị
đầu tư xây dựng trại, chi phí sửa chữa lớn, chi phí trả lãi vay và thuế. Các khoản chi
phí biến đổi, gồm: Chi phí mua con giống; chi phí thức ăn, chi phí thuốc phòng trừ
dịch bệnh, vi sinh, vi lượng; chi phí năng lượng; chi phí tiền lương công nhân; chi phí
sửa chữa nhỏ; các khoản chi phí giao dịch khác. Và đồng thời xác định doanh thu từ
nghề nuôi tôm he chân trắng. Cuối cùng là việc xác định lợi nhuận, lợi nhuận được
tính bằng Tổng doanh thu trừ (-) tổng chi phí, và sử dụng chỉ tiêu này để xác định tỷ
suất sinh lợi của nghề nuôi tôm he chân trắng mang lại cao hay thấp [14].
1.3.1. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh tế
Với mục tiêu nghiên cứu của luận văn chủ yếu tập trung vào xác định hiệu quả
kinh tế của hoạt động nuôi tôm he chân trắng tại tỉnh Khánh Hòa, nên tác giả chủ yếu
tập trung xây dựng các chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh tế. Từ cơ sở trên các chỉ tiêu
được sử dụng để đánh giá kết quả kinh tế nghề nuôi tôm he chân trắng tại tỉnh Khánh
Hòa được trình bày trong luận văn này bao gồm:
- Doanh thu
- Chi phí
- Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận 16

1.3.1.1. Doanh thu

chân trắng. Để khấu hao chính xác cần xác định giá trị (theo nguyên giá - giá lúc mua,

Trích đoạn Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài Tình hình nuôi tôm he chân trắng ở Việt Nam Một số công trình nghiên cứu về tôm he chân trắng tại Việt Nam Phương pháp nghiên cứu Thông tin chung về nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status