giải pháp marketing với việc khắc phục tính mùa vụ của hoạt động du lịch biển cửa lò - Pdf 25



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG LÊ VĂN BIỂN

GIẢI PHÁP MARKETING VỚI VIỆC KHẮC PHỤC
TÍNH MÙA VỤ CỦA HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
BIỂN CỬA LÒ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH NHA TRANG, 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NHA TRANG, 2013
iLỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài “Giải pháp marketing với việc khắc phục
tính mùa vụ du lịch đến hoạt động du lịch biển Cửa Lò” là công trình nghiên
cứu của bản thân tôi và chưa được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào. Mọi
sự giúp đỡ để hoàn thành đề tài nghiên cứu này đã được cảm ơn đầy đủ, các thông tin
trích dẫn trong nghiên cứu này đều đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả đề tài

Lê Văn Biển
iiLỜI CẢM ƠN

Với tất cả sự chân thành, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến PGS.TS. Vũ Trí Dũng
người thầy hướng dẫn khoa học đã dành thời gian và tâm huyết hướng dẫn tôi một
cách nhiệt tình giúp tôi hoàn thành luận văn này một cách tốt nhất.
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tôi đã tham khảo, học tập kinh nghiệm từ
các kết quả nghiên cứu liên quan, các báo cáo, tạp chí chuyên ngành của nhiều tác giả
trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu…
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Kinh tế, Khoa đào tạo sau đại

1.2. Bản chất và đặc điểm của tính mùa vụ du lịch 4
1.2.1. Bản chất 4
1.2.2. Các đặc điểm của tính mùa vụ du lịch 5
1.3. Các nhân tố gây nên tính mùa vụ du lịch 6
1.3.1. Điều kiện khí hậu 7
1.3.2. Thời gian rỗi 7
1.3.3. Phong tục tập quán 8
1.3.4. Các nhân tố khác 9
1.4. Những ảnh hưởng bất lợi của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch 11
1.4.1 Ảnh hưởng đến việc khai thác tài nguyên và môi trường du lịch 12
1.4.2. Ảnh hưởng đến công tác tổ chức quản lý và hiệu quả kinh doanh 13
1.4.3. Ảnh hưởng đến việc sử dụng nguồn nhân lực 14
1.4.4. Ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của du khách 15
1.4.5. Những ảnh hưởng khác 16
1.5. Một số kinh nghiệm hạn chế ảnh hưởng bất lợi của tính mùa vụ lên hoạt động du
lịch. 16
1.6. Một số chính sách marketing du lịch. 19
1.6.1. Chính sách sản phẩm. 19
1.6.2. Chính sách giá trong kinh doanh du lịch 22
1.6.3. Chính sách phân phối trong kinh doanh du lịch 24
1.6.4. Chính sách xúc tiến hỗn hợp 28
Tiểu kết chương 1 29
iv

Chương 2: DU LỊCH BIỂN CỬA LÒ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TÍNH MÙA VỤ
ĐẾN HOẠT ĐỘNG DU LỊCH BIỂN CỬA LÒ 30
2.1. Giới thiệu khái quát về Cửa Lò 30
2.2. Khái quát tài nguyên du lịch biển của Cửa Lò 31
2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên 31
2.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn 34
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1. Sự biến động số lượng du khách theo các tháng trong các năm từ 2007 -
2011 37
Bảng 2.2. Lượng khách đến Cửa Lò theo các thời điểm trong năm 2010 và năm 2011 38
Bảng 2.3. Doanh thu hàng tháng từ kinh doanh du lịch năm 2010 và 2011 39
Bảng 2.4. Tình trạng kinh doanh của các cơ sở lưu trú ở Cửa Lò năm 2011 41
Bảng 2.5. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến mùa vụ du lịch biển 52
Bảng 3.1. Dự trù kinh phí dành cho hoạt động MKT đến năm 2015 73
viDANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ, HÌNH

Biểu đồ 2.1. Tỷ lệ tương quan giữa cung – cầu về dịch vụ lưu trú hàng tháng năm 2011 40
Biểu đồ 2.2. Nhân lực du lịch - dịch vụ trong cơ cấu lao động năm 2009 45
Biểu đồ 2.3. Cơ cấu trình độ lao động theo từng lĩnh vực trong ngành du lịch 45
Biểu đồ 2.4. Biến đổi cơ cấu lao động trong và ngoài mùa du lịch 46
Biểu đồ 2.5. Tỷ lệ số lượng khách đến Cửa Lò hàng tháng từ 2009- 2011 51
Biểu đồ 2.6. Tỷ lệ số lượng khách đến Vũng Tàu hàng tháng từ 2010- 2011 51

Sơ đồ 3.1. Quy trình thực hiện các nội dung tuyên truyền quảng bá du lịch 72
Sơ đồ 3.2. Quy trình nội dung cơ bản nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 80

Hình 2.1. Một góc phía Đông Bắc trung tâm du lịch Cửa Lò 32
Hình 2.2. Hình ảnh khách du lịch tại bãi biển Cửa Lò vào mùa vụ 43


thường xuyên. Nhìn chung, tính mùa vụ trong du lịch tại bãi biển Cửa Lò có tác động
đến tiến trình hoạt động của ngành du lịch thị xã trong thời gian một năm.
Hoạt động kinh doanh du lịch biển Cửa Lò bị ảnh hưởng sâu sắc bởi tính mùa
vụ du lịch. Điều này đang làm đau đầu các nhà quản lý, hoạch định chính sách và các
doanh nghiệp trên địa bàn. Tuy nhiên, cho tới thời điểm này, các nghiên cứu về tính
mùa vụ của hoạt động du lịch biển Cửa Lò chỉ dừng lại ở một số bài viết trên các tạp
chí hoặc những cố gắng riêng lẻ của các doanh nghiệp mà chưa có một nghiên cứu
chuyên sâu nào để đưa ra những luận cứ khoa học về bản chất, nguyên nhân hình
thành, hướng tác động cũng như các giải pháp nhằm giảm thiểu tác động bất lợi của
tính mùa vụ du lịch. Việc xác định được những yếu tố chính của hiện tượng này sẽ làm
2

cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp hạn chế những tác động tiêu cực của tính mùa vụ
đến hoạt động kinh doanh du lịch tại bãi biển Cửa Lò. Chính vì vậy, việc nghiên cứu
tính mùa vụ du lịch không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn đối với
hoạt động phát triển du lịch tại bãi biển Cửa Lò. Với lý do như vậy, tác giả đã quyết
định lựa chọn đề tài: “Giải pháp marketing với việc khắc phục tính mùa vụ của hoạt
động du lịch biển Cửa Lò”. Và trong phạm vi luận văn này tác giả chỉ tập trung
nghiên cứu sự ảnh hưởng bất lợi của tính mùa vụ lên hoạt động du lịch để tìm ra các
giải pháp nhằm giảm thiểu tác động bất lợi đó.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng bất lợi của tính mùa vụ du lịch đến hoạt động du lịch
biển tại bãi biển Cửa Lò.
- Đề xuất những giải pháp marketing nhằm giảm thiểu sự tác động bất lợi của
tính mùa vụ du lịch đến hoạt động kinh doanh du lịch tại bãi biển Cửa Lò.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Căn cứ vào mục tiêu đề ra, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Tổng quan lý luận về tính mùa vụ du lịch.
- Thu thập phân tích các số liệu về hoạt động kinh doanh du lịch tại bãi biển

tra bổ sung hoặc kiểm tra chỉnh lại những thông tin quan trọng cần thiết cho quá trình
phân tích xử lý thực hiện đề tài.
- Phương pháp chuyên gia: Ngoài các phương pháp trên, phương pháp chuyên
gia có vai trò quan trọng trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài.
5. Bố cục của luận văn
Với mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn ngoài phần mở đầu và phần kết
luận, nội dung luận văn được cấu trúc thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tính mùa vụ du lịch
Chương 2: Du lịch biển Cửa Lò và tác động của tính mùa vụ đến hoạt động du
lịch biển Cửa Lò
Chương 3: Một số giải pháp marketing nhằm giảm thiểu tác động bất lợi của
tính mùa vụ du lịch đến hoạt động du lịch biển Cửa Lò
4

Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH MÙA VỤ DU LỊCH

1.1. Khái niệm
Hiện tượng có hoạt động du lịch lặp đi lặp lại khá đều đặn vào một số thời điểm
trong năm được gọi là mùa hay thời vụ du lịch. Theo nghĩa này thì mùa vụ du lịch
đồng nhất với thời vụ du lịch. Trong phạm vi luận văn, tác giả xin sử dụng chữ mùa vụ
du lịch theo nghĩa là thời vụ du lịch.
Tính mùa vụ du lịch cản trở tiến trình bình thường của hoạt động du lịch trong
năm và gây ra hàng loạt những ảnh hưởng tiêu cực về kinh tế, xã hội, tổ chức và kỹ
thuật. Vấn đề tính mùa vụ du lịch thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà
khoa học, các cơ quan và tổ chức kinh tế, các tổ chức quốc gia và quốc tế.
Tính mùa vụ du lịch tại một đơn vị lãnh thổ nào đó là tập hợp các biến động có
tính chu kỳ theo thời gian trong năm của cung và cầu du lịch.
Tính mùa vụ trong hoạt động du lịch được xác định bởi số thời gian thích hợp
nhất trong năm của các điều kiện khí hậu và thời tiết đối với sức khỏe của du khách và

Sự phát triển bùng nổ của du lịch sau đại chiến thế giới lần thứ 2, sự gia tăng
bột phát số lượng khách du lịch của tầng lớp trung lưu và dân chúng đã thúc đẩy sự ra
đời hàng loạt khu nghỉ biển ở Nam Âu. Các loại hình du lịch mới được hình thành và
được thực hiện chủ yếu trong mùa thu và mùa xuân, đó là các loại hình du lịch như du
lịch hội nghị, hội thảo, du lịch tham quan, khảo sát,…
1.2.2. Các đặc điểm của tính mùa vụ du lịch
Tính mùa vụ du lịch là một tồn tại khách quan, nó xuất hiện khắp mọi nơi trên
thế giới và có những đặc điểm chính:
- Tính mùa vụ du lịch xuất hiện ở tất cả các quốc gia và các vùng.
- Đặc trưng của tính mùa vụ du lịch (cường độ, độ dài, tần số) chịu ảnh hưởng
của các yếu tố tự nhiên (địa hình, khí hậu, sinh vật…) và kinh tế - xã hội (thói quen,
thời gian rỗi, phong tục tập quán, tín ngưỡng, thu nhập,…).
- Cường độ của mùa du lịch được hiểu là độ tập trung khách trong một khoảng
thời gian ở mùa du lịch. Độ tập trung khách trong mùa du lịch càng lớn thì cường độ
mùa du lịch càng mạnh và ngược lại, độ tập trung khách càng nhỏ thì thì cường độ
mùa du lịch càng yếu.
- Độ dài của mùa du lịch là khoảng thời gian mà ở đó số lượng khách đến còn
đủ để duy trì công suất sử dụng buồng phòng trên mức tối thiểu đối với khu du lịch.
- Tần số của mùa du lịch là số lần xuất hiện của mùa du lịch ở một lãnh thổ nào
đó trong một năm. Số lần xuất hiện mùa du lịch ở một lãnh thổ trong một năm càng
6

nhiều thì tần số của mùa du lịch càng lớn. Thông thường thì trong một năm, ở một
lãnh thổ chỉ có một đến hai mùa du lịch.
- Cường độ và độ dài của các mùa du lịch trong một năm của một lãnh thổ
thường không trùng nhau. Mùa du lịch có cường độ và độ dài lớn nhất được coi là mùa
chính, mùa du lịch có cường độ và độ dài nhỏ hơn được coi là mùa phụ. Do có sự tập
trung cao về khách và hoạt động kinh doanh nên thời gian mùa du lịch còn gọi là mùa
cao điểm và ngược lại, thời gian ngoài mùa du lịch được gọi là mùa thấp điểm.
- Ở các nước du lịch phát triển thông thường mùa du lịch dài hơn và cường độ

của nhân tố khí hậu thể hiện rõ nét ở các loại hình du lịch nghỉ biển, nghỉ núi và mức
độ nhất định trong du lịch chữa bệnh. Thường vùng biển thu hút khách du lịch đến
mùa hè nhiều hơn mùa đông. Ngược lại, vùng núi cao có điều kiện phát triển du lịch
mùa đông tốt hơn.
Đối với loại hình du lịch biển, các yếu tố của tài nguyên du lịch như khí hậu
(cường độ ánh sáng, số ngày mưa, lực và hướng gió), địa hình (độ sâu nước biển, độ
lớn của bãi tắm,…) quyết định điều kiện thuận lợi cho việc tắm biển và phơi nắng.
Mặc dù, tiêu chuẩn đánh giá mức độ thuận lợi đối với khách của loại hình du lịch biển
của các nước khác nhau (ví dụ, đối với khách du lịch các nước Bắc Âu thì nhiệt độ
nước biển lý tưởng chỉ khoảng từ 15 - 20
0
C, trong khi đối với khách du lịch thuộc các
nước có khí hậu nhiệt đới thì nhiệt độ phù hợp phải trên 20
0
C). Điều này cho thấy, giới
hạn của mùa du lịch được xác định bởi yếu tố khí hậu có thể mở rộng hay hạn chế phụ
thuộc vào sở thích, nhu cầu của khách du lịch với những tiêu chuẩn và mục đích sử
dụng tài nguyên du lịch khác nhau.
1.3.2. Thời gian rỗi
Thời gian nhàn rỗi là nhân tố ảnh hưởng đến sự phân bố không đồng đều của
nhu cầu du lịch, con người chỉ có thể đi du lịch vào thời gian nhàn rỗi. Tác động của
thời gian nhàn rỗi lên tính thời vụ trong du lịch phải nói đến 2 đối tượng chính trong
xã hội
- Thời gian nghỉ phép năm được trả tiền sẽ tác động đến độ dài và thời gian sử
dụng.
- Các kỳ nghỉ của học sinh bao gồm cả nghỉ hè và nghỉ đông sẽ tác động đến
thời gian rỗi của học sinh và quyết định việc đi du lịch của bản thân và gia đình. Các
kỳ nghỉ hè giữ vai trò quyết định đối với sự lựa chọn thời gian đi nghỉ của những bậc
phụ huynh có con ở lứa tuổi từ 6 - 15. Tuy nhiên, sự tác động ở đây cũng cần nhìn
nhận theo 2 khía cạnh: độ dài của kỳ nghỉ và mối quan hệ với sự phân bố trong năm.

điều kiện thuận lợi trong những năm gần đây đã giảm tác động của yếu tố này lên cầu
du lịch.
1.3.3. Phong tục tập quán
Ở Việt Nam, tác động của nhân tố phong tục truyền thống lên tính mùa vụ du
lịch rất mạnh mẽ và rõ nét. Du lịch lễ hội thường tập trung từ tháng 12 đến tháng 4 âm
9

lịch. Một số vùng có lễ hội tổ chức vào thời gian khác của năm nhưng tựu chung các lễ
hội truyền thống từ Bắc chí Nam được tổ chức vào mùa xuân là nhiều nhất.
Một trong số các lễ hội đó là: lễ hội đền Hùng diễn ra vào ngày 10-03 âm lịch,
những năm gần đây cũng là ngày cả nước được nghỉ, từ tháng một đến tháng ba có lễ
hội chùa Hương ở Hà Tây nay thuộc Hà Nội, ngày mười ba tháng một có hội Lim ở
Bắc Ninh, tháng ba hội đam trâu ở Buôn Ma Thuật – Đăklăk, ngày mông chín tháng tư
có hội Gióng – Hà Nội
1.3.4. Các nhân tố khác
* Sự quần chúng hoá trong du lịch : Làm tăng tính thời vụ vốn có trong du
lịch, nó được hình thành bởi sự xã hội hoá của dòng khách du lịch mà kết quả là có sự
gia tăng đột biến của các tầng lớp có mức thu nhập trung bình và ít khi đi du lịch.
Những khách du lịch thuộc nhóm này thường tập trung vào các khu du lịch biển vào
mùa chính. Họ làm như vậy do 3 lý do chính:
- Mặc dù giá vận chuyển và lưu trú cao ở mùa du lịch nhưng lợi thế được giảm
giá do đi tập thể, chi phí tổ chức chuyến đi là thấp nhất do đi theo đoàn nên đa số
khách có khả năng thanh toán hạn chế thường đi nghỉ biển tập thể.
- Họ không nắm được đầy đủ thông tin về các điều kiện thực hiện du lịch theo
các tháng trong năm nên thường chọn các tháng thuộc mùa vụ du lịch chính truyền
thống của năm (tháng 6, 7, 8), vì như vậy sự mạo hiểm do gặp các bất lợi từ phía các
điều kiện khí hậu là rất ít.
- Ảnh hưởng của yếu tố tâm lý trong việc lựa chọn thời điểm đi du lịch của du
khách do những người mới đi du lịch thường có ít kinh nghiệm và hiểu biết về các
điều kiện của điểm du lịch nơi họ dự định đến. Do vậy họ lựa chọn thực hiện chuyến

du lịch.
Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung. Tài nguyên
du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn,
công trình sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn cầu du lịch; là
yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du
lịch.
Tài nguyên du lịch tác động đến tính mùa vụ du lịch dưới 2 khía cạnh: tài
nguyên du lịch vừa là yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch vừa là điều kiện thực hiện các
hoạt động du lịch.
Tài nguyên du lịch là yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch:
Tài nguyên du lịch là yếu tố quyết định sự phát triển của các loại hình du lịch ở
mỗi một điểm hay khu du lịch cụ thể. Các loại hình du lịch này lại có khả năng đáp
11

ứng được những loại cầu du lịch nhất định, nhưng do chính tác động của các yếu tố
cấu thành của tài nguyên du lịch (ví dụ, yếu tố khí hậu hay phong tục tập quán) nên
các loại hình du lịch này đều bị ảnh hưởng của tính mùa vụ du lịch. Đối với mỗi loại
hình du lịch khác nhau, ảnh hưởng của tài nguyên du lịch thể hiện không đồng đều. Ví
dụ, các hang động có thể phục vụ cho nhu cầu tham quan, thám hiểm quanh năm nên
tính mùa vụ thể hiện ít hơn so với các loại hình du lịch khác, còn du lịch lễ hội lại chỉ
diễn ra trong quãng thời gian có tổ chức các lễ hội.
Tài nguyên du lịch là điều kiện thực hiện các hoạt động du lịch:
Yếu tố quan trọng của tài nguyên du lịch có ảnh hưởng đến tính mùa vụ du lịch
là yếu tố khí hậu. Đối với du lịch nghỉ dưỡng biển núi, thể thao mùa đông thì khí hậu
xác định thông số tối ưu của mùa du lịch. Đối với các loại hình du lịch khác, khí hậu
giữ vai trò điều chỉnh sự cân bằng lượng khách đến và mức độ sử dụng tài nguyên du
lịch.
Bên cạnh đó, vị trí địa lý, khoảng cách đến các trung tâm phân phối khách, điều
kiện địa hình cũng là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện thực hiện các
hành động du lịch.

tượng du lịch. Sự quá tải còn gây những tác hại tới đối tượng du lịch như làm giảm giá
trị thẩm mỹ, phá hoại cảnh quan, xuống cấp di tích và nhất là những tác động tiêu cực
tới môi trường làm giảm uy tín với du khách và về lâu dài làm giảm giá trị du lịch của
đối tượng. Hoạt động du lịch luôn gắn liền với việc khai thác các tiềm năng tài nguyên
môi trường tự nhiên như cảnh đẹp hùng vĩ của núi, rừng, sông, biển… và các giá trị
văn hoá nhân văn. Trong quá trình phát triển, mối quan hệ nhân quả giữa môi trường
và hoạt động du lịch rất chặt chẽ. Sự suy giảm chất lượng của môi trường sẽ dẫn đến
sự giảm sức hút của hoạt động du lịch.
Thời gian vắng khách là thời gian để tu bổ, tôn tạo lại hay nói một cách chung
hơn là thời gian “hồi” lại sau một thời gian tập trung khai thác của các đối tượng du
lịch. Có những đối tượng có thể tự phục hồi được nguyên trạng hoặc gần như nguyên
trạng sau thời gian khai thác, ví dụ như các bãi biển, các hang động và thác nước,…
Nhưng cũng có các đối tượng khả năng tự phục hồi rất kém thậm chí có đối tượng
không thể tự phục hồi như các khu bảo tồn thiên nhiên, các di tích lịch sử,… đặc biệt
là các đối tượng bị khai thác quá mức. Như vậy, tính mùa vụ du lịch gây ra các ảnh
hưởng bất lợi ở hai khía cạnh : thứ nhất gây ra sự quá tải vào mùa du lịch chính, thứ
hai gây ra sự lãng phí vào ngoài vụ hay còn gọi là mùa chết. Chính vì vậy, việc xác
định sức chứa của các đối tượng du lịch cũng như việc kiên quyết thực hiện ngừng
phục vụ khi đối tượng du lịch đã quá tải là việc làm hết sức cấp thiết để phát triển du
lịch bền vững mà trong thực tế, hầu như chưa khu du lịch nào làm được.
13

Vào những ngày cao điểm, du khách đông, lượng rác thải gia tăng khiến cho
công tác vệ sinh môi trường nhiều khi trở thành vấn đề nan giải vì vừa phải đảm bảo
thu gom rác thải kịp thời, tránh ô nhiễm môi trường và mất mỹ quan, vừa phải đảm
bảo việc tôn trọng du khách.
1.4.2. Ảnh hưởng đến công tác tổ chức quản lý và hiệu quả kinh doanh
Tính mùa vụ gây khó khăn cho việc tổ chức hoạt động kinh doanh của ngành du
lịch. Lượng khách tăng lên đột ngột với số lượng lớn trong mùa du lịch đồng nghĩa với
việc các nhu cầu cần được đáp ứng của du khách tăng lên với số lượng lớn hơn và đa

giữa cung và cầu. Nếu để đáp ứng đủ cầu vào mùa du lịch mà đầu tư xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật thì lại gây sự lãng phí vào mùa chết nên hiệu quả đầu tư không cao,
còn không đầu tư hoặc đầu tư ít thì lại gây ra tình trạng thiếu trầm trọng vào mùa vụ.
Nhưng không chỉ có thế, việc sử dụng quá mức các cơ sở vật chất kỹ thuật trong mùa
du lịch cũng dẫn đến việc xuống cấp nhanh chóng, nghiêm trọng, gây khó khăn và tốn
kém trong việc tôn tạo, tu bổ các công trình. Tình trạng này càng khiến cho chi phí
khấu hao tăng lên, giá cả dịch vụ tăng theo và làm giảm đi khả năng cạnh tranh trong
kinh doanh. Để giảm thiểu chi phí, các đơn vị kinh doanh phải sử dụng nhiều biện
pháp khác nhau. Một trong các biện pháp thường được sử dụng để giảm chi phí ở khối
các khách sạn là cho một số lao động nghỉ việc không hưởng lương và giảm lương của
số lao động còn lại, mặc dù số lao động cố định trong các công ty này đã được tính
toán hạn chế ở mức thấp nhất. Biện pháp này gây tác động xấu đối với đời sống vật
chất và tinh thần của người lao động trong doanh nghiệp. Tác động này cũng tương tự
đối với khối nhà hàng. Ở các nhà hàng tư nhân quy mô nhỏ và các dịch vụ khác, mùa
vắng khách thu nhập sẽ giảm hẳn nếu không muốn nói là không có việc làm. Hiện
tượng này đồng nghĩa với việc “làm một tháng, ăn cả năm” và dễ dẫn đến tâm lý làm
ăn kiểu “chộp giật” trong mùa du lịch. Tâm lý kinh doanh này thường dẫn đến việc
tăng giá hàng hoá và dịch vụ bừa bãi, ép giá đối với du khách và tranh giành khách lẫn
nhau gây mất trật tự, mỹ quan khu du lịch và mất thiện cảm với du khách.
1.4.3. Ảnh hưởng đến việc sử dụng nguồn nhân lực
Mùa du lịch ngắn là nguyên nhân sử dụng không hiệu quả của cơ sở vật chất kỹ
thuật và lực lượng lao động được đào tạo cơ bản có tay nghề cao, gây nên sự lãng phí
lao động, làm giảm mối quan tâm của nhiều người lao động trong việc rèn luyện nâng
cao tay nghề của mình
Công việc theo tính chất mùa vụ, không ổn định trong năm thường tác động lớn
đến tâm lý của người lao động vì vậy hiệu quả lao động không cao. Mùa hè khối lượng
công việc quá nhiều gây sự mệt mỏi và quá tải cho người lao động, mùa đông lại
không có việc hoặc có việc để làm nhưng mức lương rất thấp do các cơ sở kinh doanh
15


các nhu cầu của mình nhất là nhu cầu đối với các dịch vụ bổ sung.

16

1.4.5. Những ảnh hưởng khác
Vào mùa du lịch, khi lượng khách tăng lên với số lượng lớn thì nhu cầu về
lương thực, thực phẩm, sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ, dịch vụ,… cũng tăng theo.
Điều này sẽ dẫn đến hiện tượng tăng vọt của giá cả các loại hàng hoá và dịch vụ đó.
Hậu quả của việc tăng giá đó không chỉ tác động trực tiếp vào du khách mà còn ảnh
hưởng tới cả dân cư trong vùng, khiến họ phải chịu một giá cả sinh hoạt đắt đỏ nhiều
khi đến bất hợp lý. Một bộ phận dân cư trong vùng tham gia vào hoạt động du lịch với
tư cách dịch vụ hoặc thương mại thì kiếm lợi trong thời gian này. Còn đại đa số người
dân phải chịu hậu quả dẫn đến tâm lý không tốt đối với khách du lịch nói riêng và
hoạt động du lịch nói chung. Tâm lý này, trong nhiều trường hợp đã dẫn đến những
hành động thiếu ý thức đối với việc bảo vệ tài nguyên du lịch của người dân địa
Tuy nhiên, không chỉ có các tác động một cách tiêu cực mà tính mùa vụ còn có
các tác động tích cực đến đời sống kinh tế xã hội của địa phương. Vào mùa du lịch, khi
lượng khách tăng lên một cách đáng kể ở các khu du lịch thì các nhu cầu về hàng hoá
và dịch vụ cũng tăng lên rất cao. Điều đó có nghĩa là các cơ sở kinh doanh cả nhà nước
và tư nhân ở khu du lịch đó có rất nhiều cơ hội để mở rộng sản xuất kinh doanh, điều
này buộc họ phải tuyển thêm lao động, mở nhiều loại hình dịch vụ đa dạng mà kết quả
là làm đa dạng các loại hình dịch vụ, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập. Như
vậy, trong mùa du lịch các cơ sở kinh doanh ở các khu du lịch đã đóng góp nghĩa vụ
cho ngân sách nhà nước một khoản đáng kể. Mùa du lịch ở các khu du lịch tạo ra
"Cầu" tương đối về lương thực, thực phẩm và hàng hoá đã thúc đẩy các ngành kinh tế
khác phát triển và giải quyết thêm nhiều công ăn việc làm cho các lực lượng lao động
gián tiếp khác.
1.5. Một số kinh nghiệm hạn chế ảnh hưởng bất lợi của tính mùa vụ lên hoạt
động du lịch.
* Khả năng kéo dài mùa du lịch

thác quanh năm của một phần cơ sở vật chất kỹ thuật ngành.
Bằng phương pháp tương tự có thể tìm ra các khả năng kéo dài mùa du lịch đối
với các loại hình du lịch khác ở các trung tâm du lịch .
* Khả năng tạo mùa du lịch thứ 2
Điều kiện quan trọng khác để giảm thiểu tác động tiêu cực của tính mùa vụ đối
với các trung tâm du lịch là tạo ra mùa du lịch thứ 2. Điều này đòi hỏi phải tạo ra các
loại hình du lịch mới và phát triển nó trong các khu du lịch. Đánh giá trong trường hợp
này cần phải được thực hiện trên cơ sở các tiêu chuẩn sau:
- Tính hấp dẫn của các tài nguyên du lịch ngoài mùa du lịch chính,
- Khả năng khai thác các nguồn tài nguyên du lịch chưa được khai thác,

Trích đoạn Tài nguyờn du lịch nhõn văn Ảnh hưởng đến hiệu quả khai thỏc cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Ảnh hưởng đến việc khai thỏc tài nguyờn và mụi trường du lịch biển Cửa Ảnh hưởng đến nguồn nhõn lực du lịch Cửa Lũ Nguyờn nhõn của tớnh mựa vụ du lịch biển Cửa Lũ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status