giải pháp xử lý nợ xấu tại các ngân hàng trên địa bàn tỉnh khánh hoà - Pdf 25

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế: “Giải pháp xử lý nợ xấu tại các
ngân hàng trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu
đều được ghi rõ nguồn gốc.
Nha Trang, tháng 05 năm 2013
Tác giả luận văn
Lê Thị Hồng Hạnh

Lê Thị Hồng Hạnh

iii

MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 Những vấn đề cơ bản về nợ xấu của ngân hàng thương mại 5
1.1.1 Khái niệm nợ xấu 5
1.1.2 Phân loại nợ xấu 7
1.1.3 Các dấu hiệu của những khoản nợ xấu 9
1.1.4 Bản chất của nợ xấu 10
1.1.5 Nguyên nhân phát sinh nợ xấu 11
1.1.6 Tác động của nợ xấu 13
1.2 Xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại 15
1.2.1 Sự cần thiết phải xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại 15
1.2.2 Nhân tố ảnh hưởng đến công tác xử lý nợ xấu 16
1.2.3 Phương pháp ngừa và xử lý nợ xấu 21
1.3 Thực trạng nợ xấu tại các ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 26

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN
HÀNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HOÀ 69
3.1. Định hướng đối với vấn đề xử lý nợ xấu: 69
3.1.1. Định hướng phát triển chung: 69
3.1.2. Định hướng phát triển đối với hoạt động của ba ngân hàng: Agribank
Khánh Hoà, BIDV Khánh Hoà, VCB Nha Trang được định hướng cụ thể như sau: 70
3.2. Giải pháp tăng cường xử lý nợ xấu 74
3.2.1 Phòng ngừa nợ xấu phát sinh 74
3.2.1.1 Tập trung đào tạo lại cán bộ để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài 74
3.2.1.2 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ ở các ngân hàng 74
3.2.1.3 Hạn chế việc giải ngân bằng tiền mặt 75
3.2.1.4 Phân tán rủi ro, đa dạng hoá các hình thức cho vay 75
3.2.1.5 Thực hiện tốt việc khai thác và phân tích thông tin tín dụng 75
3.2.1.6 Thẩm định chặt chẽ tài sản đảm bảo 76
v

3.2.1.7 Kiểm tra giám sát sau khi cho vay 76
3.2.1.8 Tích cực theo dõi thu hồi nợ gốc, nợ lãi 76
3.2.1.9 Dự báo 77
3.2.2 Xử lý nợ xấu đã phát sinh 77
3.3. Một số kiến nghị 81
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và các Bộ ngành liên quan: 81
3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 82
3.3.3 Kiến nghị đối với Ngân hàng thương mại 84
3.3.4 Kiến nghị đối với Hiệp hội Ngân hàng 84
3.3.5 Kiến nghị đối với Khách hàng 85
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 87
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89


sản
BIDV (Joint Stock Commercial Bank for Investment and Development of
Vietnam) Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
DATC (Debt and Assets trading Company) Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn
đọng của doanh nghiệpVCB (Joint stock commercial Bank for Foreign Trade of Vietnam) Ngân hàng
thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
vii DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu huy động vốn của các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 2009 - 2012 36
Bảng 2.2: Cơ cấu dư nợ cho vay của các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà 2009 -2012 39
Bảng 2.3: Tình hình nợ xấu của ngành ngân hàng tỉnh Khánh Hoà giai đoạn 2009-2012 47
Bảng 2.4: Tỷ lệ nợ xấu của ba ngân hàng: Agribank Khánh Hoà, BIDV Khánh Hoà và
VCB Nha Trang (2010-2012) 47
Bảng 2.5: Nợ xấu phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2010-2012 49
Bảng 2.6: Nợ xấu phân theo loại hình tổ chức cá nhân giai đoạn 2010-2012 50
viii

giá khách hàng, tìm cách lách rào kiểm soát, thông tin sai lệch… mà vẫn phải thực
hiện đúng quy trình tín dụng để giảm tỷ lệ nợ xấu, tránh tổn thất cho ngân hàng. Nhất
là trong bối cảnh khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu, mà khởi nguồn là cuộc khủng
hoảng tài chính từ Mỹ, thì những tác động của nó lên nền kinh tế Việt Nam đang hội
nhập càng sâu và rộng với nền kinh tế thế giới nói chung và ngành ngân hàng Việt
Nam nói riêng là không hề nhỏ. Những khoản cho vay không thu hồi được cả gốc và
lãi đúng thời hạn càng lớn, tỷ lệ nợ xấu ngày càng gia tăng, đặc biệt là trong lĩnh vực
tín dụng bất động sản, đã có lúc đe dọa tới tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng.
Do vậy, quản lý nợ xấu, hạn chế nợ xấu phát sinh và xử lý nợ xấu đã phát sinh là một
yêu cầu cấp thiết, có vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động quản lý của ngân hàng.
Trên địa bàn tỉnh khánh Hoà, nợ xấu được tích tụ từ nhiều năm trước và bắt đầu nổi
cộm trong năm 2012, dự kiến sẽ vẫn còn khó khăn vào năm 2013- nợ xấu đã trở thành
vật cản lớn trong sự phát triển và ổn định của thị trường tiền tệ năm nay. Mặc dù
không quá căng thẳng so với mặt bằng chung của cả nước nhưng việc tập trung xử lý
nợ xấu vẫn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống ngân hàng Khánh
Hòa năm 2013, để cùng với cả nước ngăn chặn và giải quyết triệt để "điểm nghẽn" này
cho nền kinh tế.
Do đó, có thể nhận thấy trong thời điểm hiện nay cùng với sự tăng trưởng của tín
dụng thì nợ xấu đang gia tăng cần phải được quan tâm giải quyết. Góp phần đáp ứng đòi
hỏi từ thực tiễn nêu trên, tác giả đã chọn vấn đề: “Giải pháp xử lý nợ xấu tại các ngân
hàng trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà” để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan:
Liên quan đến đề tài, đã có các luận văn, công trình nghiên cứu cụ thể như sau:

2

- Luận văn thạc sĩ “Giải pháp xử lý và ngăn ngừa nợ xấu của các ngân hàng
thương mại trên địa bàn tỉnh Trà Vinh” của tác giả Trần Thị Hồng Thắm thực hiện
năm 2007 đã phân tích tình hình hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn tỉnh
Trà Vinh qua đó đưa ra những nhận xét đánh giá về hoạt động của các NHTM trên địa

Hoà
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Công tác xử lý nợ xấu tại các ngân hàng
thương mại.
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
 Về nội dung: Đi sâu vào nghiên cứu công tác xử lý nợ xấu tại các ngân hàng trên
địa bàn tỉnh Khánh Hoà
 Về không gian: Tại ba ngân hàng: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam - Chi nhánh Khánh Hòa (Agribank Khánh Hòa), Ngân hàng TMCP Đầu
tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Khánh Hòa (BIDV Khánh Hòa), Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Nha Trang (VCB Nha Trang)
 Về thời gian: Căn cứ vào các dữ liệu trong 3 năm từ năm 2010 đến năm 2012.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cùng với việc nghiên cứu các lý luận thuộc chuyên ngành kinh tế, tài chính, ngân
hàng, đề tài nghiên cứu đã được thực hiện trên cơ sở:
- Thu thập, tổng hợp các số liệu thực tế về vấn đề nợ xấu tại các ngân hàng trên địa
bàn tỉnh Khánh Hoà, dựa trên 03 phương pháp:
+ Phương pháp thống kê, mô tả: Thu thập và mô tả số liệu thực tế tại các ngân
hàng trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà
+ Phương pháp phân tích: Qua số liệu thực tế thu thập được từ các ngân hàng trên
địa bàn tỉnh Khánh Hoà
+ Phương pháp chuyên gia: Qua trao đổi, lấy ý kiến và kinh nghiệm từ các chuyên
gia trong ngành tài chính, ngân hàng và các cán bộ tín dụng hiện đang công tác trong
ngành ngân hàng trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà
- Trên cơ sở lý luận, các số liệu thực tế tổng hợp được và các ý kiến nhận định của
các chuyên viên, các cán bộ tín dụng, tác giả sử dụng các phương pháp đối chiếu, so sánh
để phân tích, đánh giá thực trạng công tác xử lý nợ xấu tại các ngân hàng. Qua đó tìm
hiểu các nguyên nhân dẫn đến nợ xấu và đưa ra các giải pháp tăng cường xử lý nợ xấu
tại các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà.


5

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Những vấn đề cơ bản về nợ xấu của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm nợ xấu
Tín dụng là một hoạt động luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, hoạt động tín dụng còn
được xem như một nghiệp vụ quản trị rủi ro để sinh lợi trong kinh doanh ngân hàng.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng nhưng tựu trung lại rủi ro tín dụng có
thể được hiểu là việc ngân hàng không thể thu hồi được toàn bộ gốc và lãi khi khoản
vay đến hạn. Và khi một khoản vay không thể thu hồi hay có nguy cơ không thể thu
hồi nợ gốc và lãi thì người ta gọi đây là một khoản nợ xấu [1].
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về nợ xấu, sau đây là một số quan điểm
về nợ xấu đang được áp dụng trên thế giới và Việt Nam:
 Theo Ngân hàng Trung ương Liên minh châu Âu
Nợ xấu trong các NHTM bao gồm:
* Nợ không thể thu hồi được: (i) Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những
khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ nợ; (ii) Người mắc nợ trốn hoặc bị mất
tích, không còn tài sản để thanh toán nợ; (iii) Những khoản nợ mà ngân hàng không
thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ; (iv)
Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản hoặc
kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ.
* Nợ có thể thu không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng:
Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không
đủ trả nợ. Người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để trả lãi hoặc gốc có thời hạn
thanh toán, hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ sẽ không thể thu hồi đầy đủ như: (i)
Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng phần còn
lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để

Thông tư này sẽ thay thế Quyết định 493 của Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày
22/4/2005 về phân lợi nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng và
Quyết định 18 ban hành ngày 25/4/2007 về sửa đổi, bổ sung Quyết định 493. Theo đó,
việc phân loại nợ để trích lập dự phòng cụ thể được quy định lại theo hướng siết chặt
hơn so với Quyết định 493 và Quyết định 18 và sẽ có hiệu lực từ ngày 01/06/2013.
Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN thì nợ xấu được định nghĩa như sau: (i) Nợ xấu
(NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5; (ii) Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng
nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5; (iii) Tỷ lệ cấp tín dụng xấu là tỷ lệ giữa tổng nợ và cam kết
7

ngoại bảng từ nhóm 3 đến nhóm 5 so với tổng nợ và các cam kết ngoại bảng từ nhóm
1 đến nhóm 5.
1.1.2 Phân loại nợ xấu
Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN: Nợ nhóm 1 và Nợ nhóm 2 hầu như vẫn giữ như
các quy định trước đây. Tuy nhiên, với các khoản nợ xấu (nợ nhóm 3, 4 và 5) đã được
Ngân hàng Nhà nước bổ sung thêm nhiều đối tượng. Tỷ lệ nợ xấu sẽ được tính bằng tỷ
lệ giữa nợ xấu so với tổng nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5, trước đó, Quyết định 493 không
quy định cụ thể cách tính này.Cụ thể:
Nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm các khoản nợ trong hạn và được đánh giá
là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn, cộng với các khoản nợ quá hạn
dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn
cùng với nợ gốc và lãi còn lại đúng hạn.
Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) bao gồm nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày, các khoản nợ
được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu.
Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày, nợ
gia hạn lần đầu và nợ được miễn giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy
đủ theo hợp đồng tín dụng.
Đặc biệt, nợ nhóm 3 được bổ sung thêm các trường hợp:
(i) Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà tổ
chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quy

nguyên so với quy định tại Quyết định 493 là 0%, 5%, 20%, 50% và 100%. Mức dự
phòng chung vẫn giữ nguyên là 0,75% tổng dư nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4. Ngoài ra,
Thông tư 02 cũng ban hành thêm khái niệm "Tỷ lệ cấp tín dụng xấu" là tỷ lệ giữa tổng
nợ và cam kết ngoại bảng từ nhóm 3 đến nhóm 5 so với các cam kết ngoại bảng từ
nhóm 1 đến nhóm 5.
Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân
hàng nước ngoài ít nhất mỗi quý một lần, trong 15 ngày đầu tiên của tháng mỗi quý
phải tự thực hiện phân loại nợ, cam kết ngoại bảng đến thời điểm cuối ngày làm việc
cuối cùng của quý trước và gửi báo cáo này lên cho Trung tâm xếp hạng tín dụng
(CIC).
Riêng với quy cuối cùng của kỳ kế toán năm, trong 15 ngày làm việc đầu tiên của
tháng cuối cùng, tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thực hiện
phân loại nợ, cam kết ngoại bảng đến thời điểm cuối ngày làm việc cuối cùng của
tháng thứ hai quý cuối cùng của kỳ kế toán.
Ngoài thời điểm phân loại nêu trên, tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng
nước ngoài thực hiện phân loại nợ, cam kết ngoại bảng theo quy định nội bộ.
9

Thông tư mới sẽ có hiệu lực thi hành từ 1/6/2013. Các tổ chức tín dụng phi
ngân hàng sẽ thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro kể từ ngày 1/1/2014.
1.1.3 Các dấu hiệu của những khoản nợ xấu
Thực tế cho thấy việc thất bại trong hoạt động kinh doanh thường được biểu hiện
qua một vài dấu hiệu báo động. Có những dấu hiệu mờ nhạt, có những dấu hiệu biểu
hiện rất rõ ràng. Ngân hàng cần có cách nhận ra những dấu hiệu ban đầu của khoản
vay có vấn đề và có những hành động cần thiết để ngăn ngừa và xử lí chúng. Các dấu
hiệu của khoản tín dụng có vấn đề có thể được chia thành các nhóm sau:
Nhóm 1: Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng:
Trong quá trình hạch toán của khách hàng, xu hướng của các tài khoản của khách
hàng qua một quá trình để cung cấp cho ngân hàng một số dấu hiệu quan trọng gồm:
(i) Phát hành séc quá bảo chứng hoặc bị từ chối; (ii) Khó khăn trong thanh toán lương,

Những kết luận về phân tích tài chính cho thấy: (i) Sự gia tăng không cân đối về tỷ
lệ nợ thường xuyên; (ii) Tăng doanh số nhưng giảm lãi hoặc không có lãi; (iii) Các tài
khoản hạch toán vốn điều lệ không khớp; (iv) Lượng hàng hóa tăng nhanh hơn doanh
số bán, …
Những dấu hiệu phi tài chính khác: là dấu hiệu mà mắt thường cán bộ tín dụng có
thể nhận biết được như: (i) Những vấn đề về đạo đức, thậm chí dáng vẻ nhà kinh
doanh cũng biểu hiện những điều đó; (ii) Sự xuống cấp trông thấy của nơi kinh doanh;
(iii) Nơi lưu trữ hàng hóa quá nhiều, hư hỏng, lạc hậu…
1.1.4 Bản chất của nợ xấu
Hoàn trả đầy đủ khoản nợ gốc và lãi cho ngân hàng đến thời điểm đáo hạn là
hành động hoàn tất mối quan hệ tín dụng hoàn hảo giữa ngân hàng và khách hàng.
Như vậy, nợ xấu trong hoạt động tín dụng NHTM là hiện tượng phát sinh từ mối quan
hệ tín dụng không hoàn hảo khi người đi vay (khách hàng) không thực hiện được
nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân hàng đúng hạn.
Nợ xấu nói chung được xem như một dấu hiệu của vấn đề rủi ro tiềm ẩn. Tuy
nhiên, thực tế một khoản nợ xấu thì cho biết rất ít vấn đề, để xác định bản chất vấn đề
phải tìm hiểu được nguyên nhân của khoản nợ đó. Nếu khoản nợ xấu là một biểu hiện
của việc khách hàng không muốn hoặc không có khả năng hoàn trả thì có thể khoản
vay đã có vấn đề nghiêm trọng và có nguy cơ không cứu vãn được. Nếu khoản nợ chỉ
hình thành do việc tiêu thụ hàng hóa hoặc thu hồi các khoản phải thu chậm hơn dự tính
hoặc do việc chậm trễ không tính trước được trong việc chuyển từ khâu sản xuất đến
khâu tiêu thụ trên thị trường, thì vấn đề chưa đến mức nghiêm trọng.
Bản chất của nợ xấu gắn liền với bản chất của mối quan hệ tín dụng - đây là
mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ có quan hệ với nhau
11

thông qua sự vận động của giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ
và hàng hóa từ người cho vay chuyển sang người đi vay và sau một thời gian nhất định
quay về với người cho vay với giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Do đó, tín dụng
được tạo nên từ 3 yếu tố chính là: lòng tin, thời hạn của quan hệ tín dụng và sự hứa


Hệ thống thông tin còn kém, chất lượng thong tin không tốt dẫn đến quá trình
phân tích bị sai lệch, đánh giá sai về khả năng trả nợ của khách hàng.
 Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn
Khách hàng vay vốn cố ý không cung cấp các thông tin không trung thực về
tình hình tài chính của mình cho ngân hàng, điều nay dẫn đến việc thẩm định khả năng
trả nợ của khách hàng không chính xác và quyết định cho vay không chính xác và rủi
ro tín dụng chắn chắn sẽ xuất hiện, gây ra các khoản nợ xấu cho ngân hàng.
Khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích hoặc quá dàn trải dẫn đến
thiếu vốn, sản xuất kinh doanh không hiệu quả;
Khách hàng hạn chế năng lực quản lý, kinh doanh, cơ cấu nguồn vốn không cân
đối, phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn vay bên ngoài với chi phí sử dụng vốn cao;
Người vay không có thiện chí trả nợ, không lo lắng, không quan tâm đến nợ
ngân hàng. Người đi vay bị thất nghiệp, bị mất việc làm, tai nạn lao động hoặc bất cứ
một sự cố nào đó cũng có thể làm mất khả năng trả nợ của khách hàng.
Các nguyên nhân này ngân hàng có thể xác định được thông tin qua quá trình
thẩm định, tìm hiểu hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng cả trước, trong và
sau khi cho vay, nhưng cũng có những khả năng mà ngân hàng không thể tiên liệu
trước được trong quá trình thẩm định dẫn tới khả năng bị mất vốn của ngân hàng.
 Nguyên nhân khách quan
Môi trường tự nhiên: khách hàng vay vốn gặp nhiều rủi ro trong hoạt động kinh
daonh như: thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn, dịch bệnh, chiến tranh,…có thể làm phá sản cả
một hệ thống kinh doanh và đặt người đi vay từng làm ăn có hiệu quả vào thế thua lỗ,
mất khả năng trả nợ.
Môi trường kinh tế: môi trường kinh tế tác động mạnh đến hoạt động kinh
doanh của các NHTM. Khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định, các doanh nghiệp làm ăn
có hiệu quả và sẽ có nhiều khả năng trả nợ cho NHTM. Ngược lại khi nền kinh tế rơi
vào tình trạng suy thoái, mất ổn định khiến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
gặp nhiều khó khăn, sản xuất bị đình trệ, sức mua bị giảm sút, hàng hóa bị ứ đọng và
tất yếu là sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng.

vay. Nếu các khoản tín dụng gặp rủi ro thì việc thu hồi nợ vay sẽ gặp rất nhiều khó
khăn, không thu hồi được hoặc thu hồi không đầy đủ nợ gốc và lãi đã cho vay. Trong
khi đó, ngân hàng vẫn phải thanh toán đúng hạn và đầy đủ đối với các khoản tiền gửi.
Sự mất cân đối trên ảnh hưởng mạnh tới tính thanh khoản của ngân hàng và ảnh hưởng
đến kế hoạch kinh doanh của ngân hàng.
Thứ tư, nợ xấu có thể cản trở quá trình hội nhập của các ngân hàng thương mại.
Nợ xấu tác động trực tiếp tới khả năng tài chính của ngân hàng thương mại khi phân
14

tích đánh giá tình hình tài chính hoạt động ngân hàng và là yếu tố bất lợi trong cạnh
tranh, trong quá trình hội nhập và phát triển.
 Tác động đến người đi vay
Nợ xấu là gánh nặng buộc người vay phải giải quyết trong tình trạng tài chính
không tốt, tạo áp lực trả nợ cho các doanh nghiệp, do đó có thể dẫn đến việc ra quyết
định kinh doanh sai lầm.
Người vay không hoàn trả nợ đúng hạn, mang lại nợ xấu cho ngân hàng sẽ mất
uy tín và mất điểm trong hệ thống xếp hạng của các NHTM. Điều này ảnh hưởng
nghiêm trọng đến việc tìm nguồn vốn tài trợ sau này của người đi vay.
Ngoài ra, việc không thanh toán được món nợ vay của NHTM, người đi vay
còn đứng trước nguy cơ bị thanh lý tài sản đem đi thế chấp, cầm cố nghiêm trọng hơn
là rơi vào tình trạng phá sản.
 Tác động đến nền kinh tế nói chung
Nợ xấu không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM mà còn tác động xấu
đến nền kinh tế, điều này thể hiện:
Một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu tăng cao sẽ gây tâm lý hoang mang cho người
gửi tiền. Hiệu ứng rút tiền ồ ạt có thể sẽ làm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán,
có thể dẫn đến phá sản. Hoạt động ngân hàng lại mang tính hệ thống, một ngân hàng
đổ vỡ, sẽ kéo theo sự đổ vỡ hàng loạt các ngân hàng khác. Các chủ thể trong nền kinh
tế tham gia vào quá trình thanh toán nội đãi hoặc thanh toán quốc tế thông qua hệ
thống ngân hàng sẽ không tin tưởng vào uy tín của ngân hàng điều này có thể dẫn đến

Nợ xấu tùy theo tính chất và mức độ, không chỉ ảnh hưởng tới Ngân hàng mà
còn cả tới các doanh nghiệp, các cá nhân liên quan và toàn bộ nền kinh tế. Trên giác
độ vĩ mô, nợ xấu làm giảm tính tích cực của tín dụng đối với nền kinh tế, cản trở
NHTM thực hiện tốt chức năng trung gian tín dụng, cung cấp vốn cho nền kinh tế.
Việc điều tiết vĩ môt kinh tế thông qua các NHTM cũng trở nên kém hiệu quả.
Ở mức độ trầm trọng, nợ xấu không chỉ gây mất vốn, mất khả năng thanh toán
dẫn tới sự sụp đổ không chỉ của một Ngân hàng mà còn kéo theo ảnh hưởng dây
truyền làm chao đảo toàn bộ hệ thống Ngân hàng. Điều đó gây rối loạn lưu thông tiền
tệ trong nước, gây đình trệ sản xuất và khủng hoảng kinh tế.
Lịch sử hoạt động của các NHTM trên thế giới đã chứng kiến không ít các
Ngân hàng lớn bị phá sản và hậu quả của nó thậm chí không giới hạn trong phạm vi
một quốc gia mà còn lan ra nhiều nước trong khu vực hay toàn châu lục.
Tóm lại, nợ xấu không những tác động đối với Ngân hàng mà còn nguy hại đối
với cả nền kinh tế, trật tự xã hội. Do đó, quan tâm quản trị nợ xấu không còn là việc
riêng của các NHTM mà là sự quan tâm chung của cả NHNN, Chính phủ và xã hội.

16

 Đối với Ngân hàng:
Thứ nhất - Làm giảm lợi nhuận: Lợi nhuận là chỉ tiêu cuối cùng của Ngân hàng,
lợi nhuận được hình thành từ những khoản thu của Ngân hàng mà những khoản thu
này chủ yếu thu từ lãi cho vay. Nợ xấu tác động đến lợi nhuận Ngân hàng trên hai khía
cạnh đó là: (i) Đã phát sinh nợ xấu thì lãi của những khoản nợ xấu khó có thể thu được
hay thu không bao giờ đủ. Do đó, sẽ làm giảm thu nhập kinh doanh của Ngân hàng;
(ii) Phát sinh nợ xấu tất yếu Ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro cho khoản vay
đó, tức là làm tăng chi phí của Ngân hàng đồng thời làm giảm lợi nhuận.
Thứ hai - Ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và kế hoạch kinh doanh: Các
khoản vay của khách hàng không được thanh toán đúng hạn, hay khi chuyển sang quá
hạn thì việc thu nợ đã không đúng theo kế hoạch của Ngân hàng gây ra thiếu hụt so
với dự tính của kế hoạch. Sự việc này chỉ trong một giới hạn nhất định, song nếu vượt

do chi phí giá thành rất cao trong khi không tiêu thụ được sản phẩm.
Mối quan hệ song phương và đa phương giữa một quốc gia với phần còn lại của
thế giới cũng tác động rất lớn tới hoạt động kinh doanh nói chung và của Ngân hàng
nói riêng. Một đất nước ổn định về chính trị, có quan hệ tốt đẹp với các tổ chức, cá
nhân trong và ngoài nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh
trong nước và xuất nhập khẩu. Ngược lại, một đất nước bất ổn, biểu tình, đình công,
khủng hoảng, bị cấm vận… thì nền kinh tế chắc chắn sẽ kiệt quệ, ảnh hưởng nghiêm
trọng tới các thành phần kinh tế và làm nợ xấu của Ngân hàng cũng gia tăng lên rất
nhiều.
- Môi trường tự nhiên
Đối với những nền kinh tế lệ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp như trồng
trọt, chăn nuôi… thì rất nhạy cảm với sự thay đổi của thời tiết, của môi trường tự
nhiên mà điển hình là Việt Nam. Nếu như thời tiết thuận lợi, cây trồng đạt năng suất,
vật nuôi không bị dịch bệnh, khỏe mạnh… thì khả năng thu hồi vốn từ người đi vay là
rất lớn. Còn ngược lại, môi trường tự nhiên, khí hậu, thời tiết, đất đai, nguồn nước
không thuận lợi, lại chịu ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt, hạn hán thì dự án sẽ thất bại,
không thu hồi được vốn, nợ xấu phát sinh.
- Môi trường pháp lý
Thứ nhất là hành lang pháp lý. Hành lang pháp lý rõ ràng, thuận lợi và đủ mạnh
thì sẽ góp phần làm minh bạch quy trình tín dụng, lành mạnh hoạt động của doanh
nghiệp và Ngân hàng, hạn chế rủi ro tín dụng phát sinh. Còn ngược lại, hành lang pháp
lý chưa phù hợp, còn nhiều bất cập sẽ tạo điều kiện cho những khuất tất trong hoạt
động tín dụng.

Trích đoạn Thực trạng nợ xấu tại các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Hạn chế và nguyên nhân trong công tác xử lý nợ xấu Định hướng phát triển chung: Định hướng phát triển đối với hoạt động của ba ngân hàng: Agribank Kiến nghị với Chính phủ và các Bộ ngành liên quan:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status