BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN THANH TÙNG
TÁI CƠ CẤU NGUỒN NHÂN LỰC TẠI THỊ XÃ CỬA LÒ,
TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN NĂM 2012- 2020
TÁI CƠ CẤU NGUỒN NHÂN LỰC TẠI THỊ XÃ CỬA LÒ,
TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN NĂM 2012- 2020
Ngành đào tạo: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60340102
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ THỊ THANH VINH Khánh Hòa - 2013
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Trường Đại
học Nha Trang, Khoa Kinh tế, Khoa Sau đại học, Hội đồng khoa học, các thầy,
cô giáo đã giảng dạy và giúp đỡ tận tình về mọi mặt để tôi hoàn thành tốt khóa
đào tạo Thạc sỹ chuyên ngành Quản trị kinh doanh của Trường Đại học Nha
Trang.
Tôi vô cùng biết ơn sự quan tâm giúp đỡ về mọi mặt của Lãnh đạo
HĐND-UBND thị xã Cửa Lò, Lãnh đạo Thị ủy, MTTQ, Chi cục Thống kê Thị
xã, các phòng, ban, ngành, đơn vị trên địa bàn Thị xã, các đồng nghiệp, học viên
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học.
Đặc biệt, tôi rất biết ơn TS. Đỗ Thị Thanh Vinh - Giảng viên khoa Quản
trị kinh doanh của trường Đại học Nha Trang, là người đã trực tiếp dìu dắt,
hướng dẫn và giúp đỡ tận tình để tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, song luận văn này
không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của
các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và độc giả để luận văn được hoàn
thiện và đề tài có giá trị thực tiễn cao hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Cửa Lò, tháng 11 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thanh Tùng
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển nguồn nhân lực 11
1.2.1. Dân số, giáo dục - đào tạo 11
1.2.2. Hệ thống các chỉ số ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực 15
1.2.3. Thị trường sức lao động 17
1.3. Cơ cấu và sự dịch chuyển cơ cấu nguồn nhân lực 18
1.3.1 Cơ cấu nguồn nhân lực 18
1.3.2.1. Vai trò của chuyển dịch cơ cấu nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế 26
1.3.2.2 Vai trò của chuyển dịch cơ cấu nhân lực đối với phát triển kinh tế xã hội.27
1.4. Kinh nghiệm và giải pháp dịch chuyển cơ cấu nguồn nhân lực của một số nước
trên thế giới. 28
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 31
iv
Chương 2 32
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
NHÂN LỰC TẠI THỊ XÃ CỬA LÒ 32
2.1. Các nhân tố kinh tế - xã hội ở Thị xã Cửa Lò ảnh hưởng đến sự phát triển nguồn
nhân lực 32
2.1.1. Những đặc điểm về tự nhiên 32
2.1.1.1. Vị trí địa lý 32
2.1.1.2. Địa hình, địa mạo 33
2.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thời tiết 34
4.1.1.4. Đặc điểm thuỷ văn 34
2.1.2. Những đặc điểm kinh tế - xã hội 35
2.1.2.1. Khái quát về thực trạng phát triển kinh tế 35
2.1.2.2. Thực trạng phát triển các khu vực kinh tế, các ngành 36
2.1.2.3. Thực trạng phát triển dân số và việc làm 38
3.2.4. Gắn đào tạo với sử dụng 73
3.2.5. Phát triển thị trường sức lao động 74
3.2.6. Thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng nhân tài 75
3.3 Các kiến nghị đối với Nhà nước, Thị xã Cửa Lò 77
Tóm tắt chương 3 79
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
PHỤ LỤC 3 vi
Bảng2.1: Dân số và tỷ lệ phát triển dân số theo thời kỳ 2007-2012 40
Bảng 2.2: Tốc độ tăng nguồn nhân lực 42
Bảng 2.3: Dân số và lao động đang làm việc trong ngành kinh tế quốc dân 44
Bảng 2.4: Lực lượng lao động đang có việc làm phân theo ngành kinh tế năm 2012 .52
Bảng2.5: Lực lượng lao động đang có việc làm phân theo thành phần kinh tế năm
2012 53
Bảng 2.6: Phân bố lao động trong ngành ở các khu vực ngành kinh tế quốc dân của
Thị xã Cửa Lò 54
Bảng 2.7: Hệ thống trường lớp, giáo viên phổ thông 55
Bảng 2.8: Hệ thống đào tạo chuyên nghiệp 55
Bảng 2.9: Tỷ lệ lao động qua đào tạo 56
Bảng 2.10: Trình độ lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân thị xã
Cửa Lò qua các năm 57
Bảng 3.1 : Đánh giá của chuyên gia về các giải pháp đề xuất 77
viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu kinh tế thị xã Cửa Lò 2010 - 2012 36
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu dân số phân theo giới tính 41
Biểu đồ 2. 3 Cơ cấu dân số phân theo khu vực 42
đặc biệt trong giai đoạn 2005 đến 2012 đạt 18 -25%. Riêng trong năm 2012 tổng
giá trị sản xuất toàn Thị xã đạt trên 3.877 tỷ đồng, tăng 10,4% so với năm 2011.
Cùng với việc phát triển kinh tế của tỉnh Nghệ An và vùng Bắc Trung Bộ, trong
những năm qua, kinh tế của thị xã Cửa Lò đã có những bước chuyển biến tích
cực, đạt được những quan trọng về nhiều mặt. Mức đầu tư hạ tầng cơ sở được
nâng cao, hệ thống giao thông, thủy lợi, các trường học, bệnh viện, công trình
văn hóa, công viên…được củng cố, hệ thống nhà hàng, khách sạn, ngân
hàng không ngừng phát triển, thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần của
nhân dân không ngừng được cải thiện.
Do vậy, việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế xã
hội của thị xã Cửa Lò trong quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp và nông
2
thôn đang là những vấn đề cấp bách. Chính sức lôi cuốn thực tiễn ấy của tiềm
năng chưa được đánh thức, đã thúc đẩy tôi chọn đề tài: “Tái cơ cấu nguồn nhân
lực tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An giai đoạn năm 2012- 2020” làm luận
văn cao học kinh tế.
Đề tài nghiên cứu được thực hiện dưới góc độ phát triển nguồn nhân lực
đáp ứng nhu cầu của quá trình phát triển kinh tế xã hội của Thị xã.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Thông qua việc nghiên cứu thực trạng phát triển và chuyển dịch cơ cấu
nguồn nhân lực thị xã Cửa Lò, luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằm tái cơ
cấu nguồn nhân lực phục vụ cho định hướng phát triển kinh tế xã hội của thị xã
Cửa Lò đến 2020.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Một là, hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực
- Các tác phẩm kinh điển của Karl Marx, F.Engels, V.I. Lênin; Kinh tế
chính trị Mác – Lênin;
- Các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam (các nội dung có liên quan
về phát triển nguồn nhân lực);
- Các tư liệu của Viện chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ
Lao động và Thương binh xã hội;
- Chiến lược phát triển Kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An đến 2020 và Chương
trình phát triển Kinh tế xã hội của Ủy Ban Nhân Dân Thị xã Cửa Lò.
- Các báo cáo tổng kết của UBND, Sở Lao động và TBXH Thị xã.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên quan điểm duy vật biện chứng và lịch sử, luận văn đã sử dụng các
phương pháp nghiên cứu cụ thể là : phương pháp logic lịch sử; phương pháp thống
kê, so sánh và mô tả; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp nghiên cứu
tình huống (case study).
Ngoài ra, để thu thập được những thông tin từ thực tiễn khách quan, tác giả
đã tiến hành điều tra khảo sát nhu cầu nhân lực các ngành kinh tế-xã hội từ các cơ
quan ban ngành, doanh nghiệp có sử dụng lao động cũng như khả năng cung ứng
nhân lực từ các cơ sở đào tạo ở trên địa bàn Tỉnh. Đồng thời cũng sử dụng phương
4
pháp chuyên gia để thu thập ý kiến xây dựng các nhóm giải pháp tái cơ cấu nguồn
nhân lực ở thị xã Cửa Lò.
5. Tình hình nghiên cứu đề tài
Bàn về phát triển nguồn nhân lực đã có nhiều công trình khoa học
nghiên cứu, hội thảo, các bài viết đăng tải trên trên nhiều tạp chí khác nhau
như: “Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam, của Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng
Ngân; “Những luận cứ khoa học của việc phát triển nguồn nhân lực công
6. Đóng góp mới của luận văn
Một là, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nguồn
nhân lực nói chung ở Việt Nam, thị xã Cửa Lò nói riêng.
Hai là, bằng các số liệu chứng minh, luận văn phân tích và làm sáng tỏ
thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở Thị xã Cửa Lò; qua đó rút ra nguyên
nhân và bài học kinh nghiệm cho việc phát triển nguồn nhân lực quan trọng của
Thị xã Cửa Lò trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Ba là, vạch ra quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu thực hiện mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội của thị xã đến năm 2020.
Bốn là, cung cấp số liệu thực tế dùng làm tài liệu để triển khai thực hiện
các nhiệm vụ kinh tế xã hội của thị xã, nhất là một số phòng ban liên quan như
phòng Lao động Thương binh và Xã hội, phòng Nội vụ, phòng Kinh tế.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu nội dung của
luận văn gồm có 3 chương :
Chương 1. Lý luận chung về phát triển nguồn nhân lực trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội.
Chương 2. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực và chuyển dịch cơ cấu
nhân lực tại thị xã Cửa Lò.
Chương 3. Quan điểm, định hướng và các giải pháp tái cơ cấu nguồn nhân
lực tại thị xã cửa lò đến năm 2020.
6
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1. Khái niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
Đại từ điển kinh tế thị trường, nguồn nhân lực là nhân khẩu có năng lực
lao động tất yếu, thích ứng được với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Nhân
lực là chỉ tổng nhân khẩu xã hội, là nguồn tài nguyên. Tài nguyên nhân lực là
tiền đề vật chất của tái sản xuất xã hội. Tài nguyên nhân lực vừa là động lực vừa
là chủ thể của sự phát triển, có tính năng động trong tái sản xuất xã hội. Chính vì
lẽ đó khi phân tích về nguồn tài nguyên nhân lực, phải xem xét nó trong mối
quan hệ với tốc độ tăng dân số, sự phát triển của giáo dục đào tạo, nâng cao
phẩm chất của người dân, và những điều kiện vật chất cần thiết đảm bảo tái sản
xuất sức lao động, tái sản xuất nguồn lực cho xã hội [22].
Có ý kiến cho rằng: nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi
lao động, có khả năng lao động. Như vậy, nguồn nhân lực rộng hơn nguồn lao
động; bởi nguồn nhân lực bao gồm cả những người ngoài tuổi lao động thực tế
có tham gia lao động. Tuy nhiên, “Ở chừng mực nào đó, có thể coi nguồn lao
động hay nguồn nhân lực, đồng nhất về số lượng, cả hai cùng bao gồm những
người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, cũng như cả người ngoài
tuổi lao động có nhu cầu và khả năng tham gia lao động” [25].
Nguồn nhân lực là tổng hợp tiềm năng lao động của con người trong một
quốc gia, một vùng, một khu vực, một địa phương trong một thời điểm cụ thể
nhất định. Tiềm năng của nguồn nhân lực bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực
(đạo đức, lối sống, nhân cách và truyền thống, lịch sử, văn hóa, dân tộc) của bộ
phận dân số có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội. “Chúng tôi hiểu
sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh
thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó
đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” [10].
Đề cao vai trò của yếu tố con người cũng là nét nổi bật trong tư tưởng
kinh tế của Karl Marx với tư tưởng chủ đạo: chỉ có lao động mới tạo ta giá trị
nguồn gốc duy nhất của mọi của cải trong xã hội. Tư tưởng này có ý nghĩa quan
trọng; nó cho thấy tiến bộ kỹ thuật không hề làm giảm ý nghĩa của yếu tố con
này tùy thuộc vào nhiều nhân tố trong đó dân số là nhân tố cơ bản.
9
Bất kỳ quá trình sản xuất nào cũng có 3 yếu tố: sức lao động, đối tượng
lao động và tư liệu lao động. Do vậy, phát triển nguồn nhân lực chính là đầu tư
vào các các yếu tố của quá trình sản xuất. Cần lưu ý rằng trong tất cả các yếu tố
đầu tư thì đầu tư vào con người, đầu tư cho nguồn nhân lực là đầu tư quan trọng
nhất. Đầu tư cho con người được thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau, chẳng
hạn: giáo dục tại nhà trường, đào tạo nghề nghiệp tại chỗ, chăm sóc y tế….
Phát triển nguồn nhân lực dưới góc độ của một đất nước là quá trình tạo
dựng một lực lượng lao động năng động, thể lực và sức lực tốt, có trình độ lao
động cao, có kỹ năng sử dụng, lao động có hiệu quả. Xét ở góc độ cá nhân thì
phát triển nguồn nhân lực là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất
lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động. Tổng thể phát triển nguồn
nhân lực là các hoạt động nhằm nâng cao thể lực, trí lực của người lao động, đáp
ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất. Trí lực có được nhờ quá trình đào tạo và tiếp thu
kinh nghiệm. Thể lực có được nhờ vào chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và
chăm sóc y tế, môi trường làm việc….
1.1.3. Sự cần thiết khách quan phát triển nguồn nhân lực
Sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước đòi hỏi phải có nguồn nhân lực
không chỉ về chất lượng và số lượng mà còn phải có một cơ cấu đồng bộ. Nguồn
nhân lực được coi là vấn đề trung tâm của sự phát triển. Đại hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định “nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để
phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [40] “con người và
nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa” [40]. Nguồn lực con người là điểm cốt yếu nhất của
nguồn nội lực, do đó phải bằng mọi cách phát huy yếu tố con người và nâng cấp
lao động có trình độ ngày càng cao mới đáp ứng được yêu cầu đó.
Sự cần thiết phải nâng cao trình độ sức lao động còn cần thiết ở chỗ từ
nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Khi kinh tế phát triển
mạnh hơn, xã hội trở nên văn minh hơn thì con người luôn luôn được hoàn thiện
ở cấp độ cao hơn. Đến lượt nó đòi hỏi việc nâng cao trình độ tri thức của người
lao động; nghĩa là không phải chỉ do yêu cầu thực tiễn của sản xuất mà do yêu
cầu đòi hỏi từ chính bản thân con người, hay nói cách khác, chất lượng của
11
nguồn nhân lực sẽ tăng lên là điều tất yếu trong tiến trình phát triển của nền sản
xuất xã hội.
Sự phát triển của nguồn nhân lực còn là một tất yếu do tiến trình phát
triển của nền sản xuất xã hội, đặc biệt là sự phát triển của cuộc cách mạng khoa
học công nghệ, yêu cầu khoa học của tính đồng bộ trong tiến trình phát triển.
Đối với Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế,
chất lượng nguồn nhân lực tăng lên không chỉ có ý nghĩa để sử dụng các thành
tựu mới của khoa học công nghệ mà còn có điều kiện để sáng tạo ra các tư liệu
lao động mới. Hơn thế quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa yêu cầu nguồn
nhân lực phải có sự chuyển biến về chất từ lao động thủ công sang lao động cơ
khí và lao động trí tuệ.
Sự phân tích trên cho thấy nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng, việc
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là một tất yếu
khách quan, là xu thế phát triển của thời đại là yêu cầu tất yếu của quá trình
công nghiệp hóa hiện đại hoá là sự cần thiết khách quan đối với Việt Nam nói
chung và thị xã Cửa Lònói riêng. Một nguồn nhân lực chất lượng cao là tiền đề,
là cơ sở quyết định sự thành bại trong công cuộc xậy dựng và phát triển đất
nước. Hơn nữa nguồn nhân lực chất lượng cao còn là nhân tố khắc phục được
của lao động trí tuệ: đến một trình độ nào đó, tri thức xã hội biến thành lực
lượng sản xuất trực tiếp. Sự tiên đoán của Karl Marx đã trở thành hiện thực
trong điều kiện ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Trí tuệ - lao động trí tuệ là nhân tố quan trọng hàng đầu đội ngũ nguồn
nhân lực trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội ngày nay. Trí tuệ của nguồn
nhân lực được thể hiện thông qua tri thức. Tuy nhiên, tri thức chỉ thực sự trở
thành nguồn lực khi nó được con người tiếp thu, làm chủ và sử dụng chúng. Hơn
nữa dù máy móc công nghệ hiện đại đến đâu mà không có phẩm chất và năng
lực cao, có tri thức khoa học thì không thể vận hành để làm “sống lại” nó chứ
chưa nói đến việc phát huy tác dụng của nó thông qua hoạt động của con người.
Việc phân tích nhân tố trên đây cho thấy vai trò của nguồn nhân lực nói
chung đặc biệt là nguồn lao động chất xám lao động trí tuệ là hết sức cần thiết,
nhân tố đóng vai trò quyết định đối với nguồn nhân lực của xã hội, đánh dấu
bước phát triển của một xã hội nhất định trong điều kiện quốc tế hóa, toàn cầu
hóa hiện nay. Để có được nguồn nhân lực có chất lượng cao không có cách nào
13
khác hơn đó là sự tác động sự quyết định của giáo dục đào tạo. Sự nghiệp giáo
dục đào tạo góp phần quan trọng nhất tạo nên sự chuyển biến căn bản về chất
lượng của nguồn nhân lực.
Phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam là luôn tu dưỡng học tập nâng
cao trình độ; trong đó hiếu học là không thể thiếu được: “Hiếu học, trọng học là
một truyền thống quan trọng của người Việt Nam 99,12% số người được hỏi bày
tỏ lòng mong muốn con cái mình được học hành, 78,13% mong muốn con cái họ
có trình độ đại học và trên đại học…” [14]. Gắn liền với truyền thống hiếu học,
trọng học là vấn đề tôn sư trọng đạo. Đây là giá trị truyền thống đang chi phối giá
trị cuộc sống của con người Việt Nam hiện nay.
nhất định. Như vậy, “có thể phân loại tất cả lực lượng lao động ra 5 loại: lao
động tri thức, lao động quản lý, lao động dữ liệu, lao động cung cấp dịch vụ và
lao động sản xuất hàng hóa Nồng độ tri thức, trí tuệ cao hay thấp trong sản
phẩm lao động phụ thuộc chủ yếu vào đóng góp của lực lượng lao động tri thức”
[25].
Trình độ trí lực và kỹ năng của nguồn nhân lực, trình độ học vấn của dân
số trong độ tuổi lao động, số năm học văn hóa phổ thông, số năm đào tạo nghề.
Trình độ văn hoá tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông, trình độ
chuyên môn nghề nghiệp, lao động kỹ thuật được đào tạo chính qui, phân bổ
giữa các vùng. Trình độ lao động được đào tạo trung cấp, cao đẳng, đại học, trên
đại học. Cơ cấu nguồn lao động được đào tạo và sử dụng… Người công nhân có
trình độ cao là người lao động theo phương pháp tiên tiến, giỏi nghề chính và
biết thêm nghề khác, thâm nhập nhanh để vận hành được máy móc.
Về chất lượng nguồn nhân lực, đặc trưng nguồn nhân lực Việt Nam có
trình độ học vấn khá, thông minh, cần cù, chịu khó, sáng tạo có khả năng nắm
bắt nhanh những thành tựu mới của khoa học công nghệ trên nhiều ngành nhiều
lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, thích ứng với kinh tế thị trường. Nguồn nhân
lực đã qua đào tạo từ nhiều địa chỉ ở nhiều nước khác nhau trên thế giới. Đây là
nguồn lực cơ bản cần thiết cho trước mắt và tương lai để tiến hành lao động sản
xuất đạt hiệu quả cao.
Ở nước ta lao động nông nghiệp chiếm phần lớn trong tổng số lực lượng
lao động. Do đó trong tiến trình phát triển, cơ cấu lao động phải được chuyển
15
dịch theo hướng tăng lao động công nghiệp, lao động dịch vụ, lao động tri thức
theo yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.
Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực không chỉ là trí