Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm
BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
MÔN CÔNG NGHỆ BAO BÌ VÀ ĐÓNG GÓI THỰC PHẨM
ĐỀ TÀI:
GVHD: Th.S Đỗ Vĩnh Long
NHÓM 8
SVTH:
Nguyễn Thị Ngọc Lựa 2005100326
Dương Thị Phương Vi 2005100149
Nguyễn Thị Vân 2005100448
Trần Thị Hồng Xine 2005100023
Nguyễn Thị Hà 2005100181
Đào Thị Hồng Hà 2005100006
Ngày 15 tháng 11 năm 2013
GVHD: Th.S Đỗ Vĩnh Long 1
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BAO BÌ THỦY TINH 4
1. Định nghĩa 4
2. Lịch sử phát triển 4
3. Đặc tính chung của bao bì thủy tinh 5
4. Bao bì thủy tinh silicat 6
II. NGUYÊN LIỆU VÀ PHỐI LIỆU TRONG SẢN XUẤT BAO BÌ THỦY
TINH 8
và hóa học
Tích cực
4
Trần Thị Hồng Xine
2005100023
Quy trình +
Power Point
Tích cực
5
Nguyễn Thị Vân
2005100448
Quy trình Tích cực
6
Nguyễn Thị Ngọc Lựa
2005100326
Nắp + Tổng hợp
Word
Tích cực
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm
1. Tính chất vật lý 12
2. Tính chất hóa học 17
IV. QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO THỦY TINH 19
1. Quy trình công nghệ 19
2. Thuyết minh quy trình 20
3. Các loại khuyết tật 22
V. NẮP 23
KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
CÂU HỎI CỦNG CỐ BÀI 29
Lời mở đầu
năm 2000 trước công nguyên, khi đó thủy tinh được sử dụng như là men màu cho nghề
gốm và các mặt hàng khác. Trong thế kỷ 1 trước công nguyên kỹ thuật thổi thủy tinh đã
phát triển và những thứ trước kia là hiếm và có giá trị đã trở thành bình thường. Trong
thời kỳ đế chế La Mã rất nhiều loại hình thủy tinh đã được tạo ra, chủ yếu là các loại bình
và chai lọ.Thủy tinh khi đó có màu xanh lá cây vì tạp chất sắt có trong cát được sử dụng
để sản xuất nó. Thủy tinh ngày nay nói chung có màu hơi ánh xanh lá cây, sinh ra cũng
bởi các tạp chất như vậy.
GVHD: Th.S Đỗ Vĩnh Long 4
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm
Các đồ vật làm từ thủy tinh từ thế kỷ 7 và thế kỷ 8 đã được tìm thấy trên đảo Torcello gần
Venice.Các loại hình này là liên kết quan trọng giữa thời La Mã và sự quan trọng sau này
của thành phố đó trong việc sản xuất thủy tinh. Khoảng năm 1000 sau Công nguyên, một
đột phá quan trọng trong kỹ thuật đã được tạo ra ở Bắc Âu khi thủy tinh sô đa được thay
thế bằng thủy tinh làm từ các nguyên liệu có sẵn hơn: bồ tạt thu được từ tro gỗ. Từ thời
điểm này trở đi, thủy tinh ở khu vực phía bắc châu Âu có sự sai khác rõ nét với thủy tinh
ở khu vực Địa Trung Hải, là khu vực mà sô đa vẫn được sử dụng chủ yếu.
Thế kỷ 11 được cho là nổi bật, tại Đức, phương pháp mới chế tạo thủy tinh tấm đã ra
đời bằng các quả cầu để thổi, sau đó chuyển nó sang thành các hình trụ tạo hình, cắt
chúng khi đang còn nóng và sau đó dát phẳng thành tấm. Kỹ thuật này đã được hoàn
thiện vào thế kỷ 13 ở Vênidơ.
Cho đến thế kỷ 12 thủy tinh đốm (có nghĩa là thủy tinh với các vết màu (thông thường
là kim loại) đã không được sử dụng rộng rãi nữa. Đến thế kỷ 19, ngành sản xuất thủy tinh
đã phát triển rất mạnh nhờ các thí nghiệm được tổ chức có hệ thống để xác định các
thành phần của các phối liệu.
Đến thế kỷ 20, trong công nghiệp thủy tinh có tiến bộ nổi bật là sự ra đời các loại thủy
tinh nổi tiếng: thủy tinh Jena, thủy tinh Pirec, cả hai có đặc tính quí giá là bền với acid và
nước, dãn nở rất ít do đó chịu được sự biến đổi nhiệt độ đột ngột, không vỡ. Chúng được
dùng để chế tạo nhiều dụng cụ thí nghiệm.
3. Đặc tính chung của bao bì thủy tinh
Phân loại thủy tinh vô cơ:
+ Ưu điểm:
GVHD: Th.S Đỗ Vĩnh Long 6
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm
- Nguồn nguyên liệu tự nhiên phong phú.
- Có khả năng chịu áp suất bên trong.
- Bảo vệ thực phẩm bên trong.
- Tái sinh dễ dàng không gây ô nhiễm môi trường.
- Có thể tái sử dụng nhiều lần, nhưng phải có chế độ rửa chai lọ đạt an toàn vệ sinh.
- Trong suốt, có thể thấy được sản phẩm bên trong.
- Ít bị ăn mòn hóa học bởi môi trường kiềm và axit.
+ Nhược điểm:
- Dẫn nhiệt rất kém.
- Có thể bị vỡ do va chạm cơ học, hay nhiệt đọ thay đổi.
- Nặng, khối lượng bao bì có thể lớn hơn thực phẩm chứa bên trong, gây bất tiện cho
chuyên chở.
- Không thể in, ghi nhãn theo quy định nhà nước lên bao bì mà chỉ có thể vẽ, sơn logo hay
thương hiệu của công ty nhà máy hoặc khi sản xuất chai có thể được tạo dấu hiệu nổi trên
thành chai và nếu cần chi tiết hơn thì phải dán nhãn giấy lên chai như các sản phẩm rượu,
bia, nước ngọt chứa đựng trong chai.
4.2. Thủy tinh silicat trong công nghiệp:
Các loại thủy tinh silicat sử dụng trong công nghiệp được phân loại dựa trên thành
phần tham gia các oxyt như sau:
Loại 1: thủy tinh chứa kali và canxi: có độ bền hóa học cao, độ bóng sáng bề mặt,
dùng làm dụng cụ đo, thủy tinh cao cấp.
Loại 2: thủy tinh chứa natri và canxi: có độ bền hóa học cao do sự có mặt của nguyên
tố canxi, với hàm lượng natri thấp, và nếu hàm lượng natri càng cao thì thủy tinh càng
kém bền nhiệt cũng như ké bền hóa. Với hàm lượng natri thấp, thủy tinh có thể dùng làm
bao bì đựng rượu, bia, nước giải khát… hoặc dùng trong các phòng thí nghiệm.
Loại 3: thủy tinh chứa kali và chì: là thủy tinh đắt tiền, thuỷ trọng cao, có độ bóng
sáng bề mặt và độ chiết quang cao, dùng để làm các dụng cụ cao cấp, đồ trang sức.
,
CaO, MgO, K
2
O, Na
2
O, là thành phần cần được điều chỉnh trong thủy tinh công nghiệp.
Bên cạnh đó có thể có những oxyt nhuộm màu; các oxyt ảnh hưởng đô chiết quang thủy
tinh như: Fe
2
O
3
, MnO
2
, TiO
2
, Cr
2
O
3
, V
2
O
5
.
Yêu cầu cát nấu thủy tinh có hàm lượng SiO
2
cao và hàm lượng tạp chất Fe
2
O
3
trong những thành phần cơ bản của thủy tinh CaO giúp cho quá trình nấu, khử bọt dễ và
thủy tinh có độ bền hóa học cao.
1.4 . Oxyt bari(BaO)
BaO tạo cho thủy tinh vẻ sáng bóng, trọng lượng riêng tăng cao, do đó BaO là phụ gia
để sản xuất thủy tinhquang học và rút ngắn quá trình nấu.
1.5 . Oxyt chì(Pb
3
O
4
)
Trong thực tế thương dùng Pb
3
O
4
, thủy tinh chì thì dễ nấu, dễ khử bọt. Khi nấu oxyt
chì sẽ cho thủy tinh có chiết suất cao, trọng lượng riêng lớn, dùng để sản xuất thủy tinh
quang học, pha lê, thủy tinh bát dĩa cao cấp, ngọc thạch nhân tạo.
1.6 . Oxyt kẽm (ZnO)
GVHD: Th.S Đỗ Vĩnh Long 9
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm
ZnO làm giảm hệ số dãn nở nhiệt của thủy tinh, tạo tính bền nhiệt, bền hóa học cao và
gây đục cho thủy tinh.
1.7 . Oxyt boric B
2
O
3
Oxyt boric được cung cấp từ nguồn:
- Acid boric H
2
BO
1.8 . Nhôm oxyt Al
2
O
3
Al
2
O
3
được cho vào khi sản xuất thủy tinh alumino silicat cao cấp.loại thủy tinh
alumino silicat và các thủy tinh cao cấp khác có hàm lượng Al
2
O
3
5% từ nguồn các oxyt
nhôm kỹ thuật hoặc hydroxyt nhôm. Nhóm oxyt canxi này tạo ảnh hưởng đến thủy tinh
tương tự khi dùng B
2
O
3
, nhưng kéo dài thời gian nấu thủy tinh, khử bọt chậm, độ nhớt
tăng, thủy tinh đóng rắn nhanh, nhưng tăng bền cơ, bền hóa học và bền nhiệt, do Al
2
O
3
tác động làm giảm hệ số giãn nở của thủy tinh.
1.9 . Oxyt natri (Na
2
O)
Na
2
tạo thủy tinh cao cấp.
2. Nguyên liệu phụ
Chất nhuộm màu thủy tinh gồm chất nhuộm màu phân tử hoặc nhuộm màu khuếch
tán.Chất nhuộm màu phân tử sẽ không gây thay đổi tính chất của thủy tinh, cho màu ổn
định và trong suốt, đối với tất cả các quá trình gia nhiệt sử dụng thủy tinh. Chất nhuộm
màu dạng keo khuếch tán sẽ cho thủy tinh có màu thay đổi theo sự gia nhiệt ( sau quá
trình chế tạo), thủy tinh có màu đục cũng thay đổi tùy vào độ phân tán, kich thước hạt
keo, màu, chế độ gia công thủy tinh.
Thủy tinh có thể được nhuộm màu bởi các phụ gia FeS, oxyt sắt ba Fe
2
O
3
làm cho thủy
tinh có màu từ vàng chuyển sang màu vàng hung. Theo số liệu của Viện hàn lâm khoa
học CHLB Nga, lượng oxyt sắt cho phép sử dụng trong các loại thủy tinh như ở bảng
Hàm lượng sắt cho phép sử dụng trong các loại thủy tinh theo công dụng
Thủy tinh Hàm lượng oxyt sắt (%)
Thủy tinh quang học(pha lê) 0,012
Thủy tinh y tế 0,2
Kính cửa 0,1
Bát đĩa cao cấp 0,025
Chai lọ thủy tinh đục 0,3
Các chất nhuộm màu
Chất nhuộm màu phân tử Màu sắc thủy tinh
Mn(Mn
2
O
3
) Tím
Co Xanh
2
O) tạo ra màu đỏ cho thủy tinh, nhưng trong môi trường có tính oxy
hóa thì tạo màu xanh.
Các chất oxy hóa, có tác dụng khử bọt:
- Chất oxy hóa: muối nitrat, các hợp chất asenic, MnO
2
, sẽ phóng thích O
2
trong quá
trình nấu thủy tinh ở nhiệt độ cao 400925
0
C. Hỗn hợp chất oxy hoáthường dùng
như asenic As
2
O
3
(0,3%) và KNO
3
(1,0 1,5%) cũng là chất khử bọt cho quá trình
nấu thủy tinh. Các chất khử bọt khác có thể dùng là : muối flourur và muối
ammonium, bên cạnh đó CeO
2
phân hủy thành CeO và O
2
là chất chống sự biến
màu, hay sự phai màu của thủy tinh, rất hiệu quả.
- Chất khử : carbon(C) từ nguồn mạt cưa, than đá, muối natri, kali hoặc SnO, SnCl
2
thường được dùng để loại nguyên tố oxy từ các oxyt kim loại.
Các chất rút ngắn quá trình nấu giúp rút ngắn 1015% thời gian nấu thủy tinh khi them
• Đáy là một mặt cầu lồi
• Cổ hai phía bên trong có dạng mặt cầu lồi tròn xoay, và độ cong cổ chai không
thay đổi một cách đột ngột.
- Bên trong và bên ngoài than trụ các lực tác động có thể cân bằng như nhau: có xuất
hiện lực kéo, nén dạng vòng.
Với đặc điểm cấu tạo như trên, áp lực tác động lên thân trụ luôn luôn được cân bằng
bởi áp lực theo cùng phương có chiều ngược lại luôn luôn sinh ra các cặp ứng lực vòng
ngược nhau nằm trên các mặt phẳng tiết diện chạy suốt chiều cao của thân chai, các ứng
lực vòng có cường độ như nhau do độ dày thân trụ đều sẽ triệt tiêu nhau trên cả thân trụ.
GVHD: Th.S Đỗ Vĩnh Long 13
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm
Nếu độ dày thành chai không đồng đều thì dưới tác dạng của lực, sẽ xuất hiện ứng lực
không đồng đều trong thành chai gây vỡ chai.
Chất lỏng chiết rót vào chai tạo tạo nên lực tác động theo phương trục thẳng góc với
bề mặt tiếp tuyến của đáy mặt cầu lồi, tạo ứng lực đối với mặt cầu như sau:
- Ứng lực vòng kéo trên mặt đáy cầu tại điểm tác động lực thì thành phần chiếu cảu
chúng lên mặt phẳng vuông góc trục thân trục bị triệt tiêu, còn lại thành phần phương
trục có cường độ thấp hơn rất nhiều so với trường hợp mặt phẳng chịu lực. Do đó xuất
hiệ ứng lực nén ở mặt ngoài đáy chai cũng nhỏ không đáng kể, không gây vỡ chai.
Một điểm thuận lợi của đáy chai mặt cầu là sự tiếp xúc đáy chai với mặt phẳng nằm
ngang là đường tròn. Sự tiếp xúc này dễ dàng hơn trường hợp đáy chai tiếp xúc với mặt
phẳng nằm ngang theo cả mặt tròn, dễ gây nên sự không vững chãi cho chai (khi đứng)
khi chỉ xuất hiện một điểm lồi trên mặt đáy chai.
Trường hợp chai chịu tác động của lực từ bên ngoài thẳng góc với trục thân trục thì
trên mặt phẳng thiết diện chai tại điểm chịu tác dụng sẽ xuất hiện các ứng lực vòng kéo
thành chai bên ngoài và đồng thời xuất hiện các ứng lực vòng nén ở thành chai bên trong;
nếu ứng lực kéo và nén ngang bằng nhau thì chai không bị vỡ. Nếu lực tác động quá
nhanh và mạnh thì tạo nên ứng lực vòng ở thành ngoài lớn hơn thành phần trong của chai
gây vỡ chai.
Do đó, hình dạng chai và độ dày đồng đều giữa thành và đáy và thành phần vật liệu
nhiệt với thành trong, thì sẽ xuất hiện ứng lực kéo. Nếu nhiệt độ dung dịch và bao bì
không chêch quá 70
0
C thì ứng lực kéo ở thành ngoài và ứng lực nén ở thành trong xem
như không xuất hiện ứng lực không đáng kể, chỉ thành ngoài xuất hiện ứng lực nén.
GVHD: Th.S Đỗ Vĩnh Long 15
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm
Như vậy, chai đựng thực phẩm có áp lực khí hoặc được đun nóng, làm lạnh, cần thiết
được cấu tạo thân trụ thẳng đáy tròn, cổ và thân chai không bị giảm nhanh sự chêch lệch
đường kính thì tăng độ bền cơ hơn cho các loại chai có cấu tạo khác nhau.
1.3 Tính chất quang học của thủy tinh
Đặc tính quang học của thủy tinh được thể hiện ở khả năng hấp thụ ánh sang và phản
xạ ánh sang: Tính chất hấp thụ còn phụ thuộc vào bước song của ánh sang. Thủy tinh
silicate có khả năng hấp thụ tia có bước sóng bằng 600 nm.
Kim loại Fe lẫn vào các sản phẩm thủy tinh sẽ ngăn cản sự truyền xuyên qua của tia tử
ngoại (UV) và tia hồng ngoại (IR). Do đó có thể điều chỉnh sự truyền ánh sang qua thủy
tinh bằng cách thêm vào các chất tạo màu như: oxyt kim loại, hợp chất của lưu huỳnh,
hợp chất của selen, các oxyt kim loại khác.
Bảng 1: Các oxýt kim loại tạo màu cho thủy tinh có ảnh hưởng đến sự truyền của các tia
Trạng thái màu Oxýt kim loại tạo màu
Không màu hấp thụ tia UV (không cho tia
truyền qua thủy tinh.
Xanh da trời
(Purple) màu đỏ tía, xanh lam + đỏ.
Xanh lá cây nâu
Nâu
(Amber) màu vàng nâu.
Vàng
Cam
Đỏ
2
O
3
+ CuO, V
2
O
3
MnO, MnO + Fe
2
O
3
, TiO
2
+ Fe
2
O
3
, MnO +
CeO
2
Na
2
S
CdS, CeO
2
+ TiO
2
CdS + Se
CdS + Se, Au, Cu, UO
3
2
O
3
, Fe
2
O
3
+ Cr
2
O
3
+ CuO,
V
2
O
3
) có khả năng ngăn cản tia tử ngoại do đó được dùng chai lọ đựng thuốc, hóa chất
đắt tiền, rượu vang, bia để tránh hư hỏng các thành phần bên trong.
2. Tính chất hóa học
Độ bền hóa học là khả năng chống ăn mòn hóa học của môi trường tiếp xúc với thủy
tinh. Độ bền hóa học thủy tinh tùy thuộc thành phần nguyên liệu ban đầu và điều kiện
môi trường tiếp xúc với thủy tinh.
Môi trường nước và acid
Môi trường này có tính ăn mòn thủy tinh do thành phần H
+
phân li từ acid sẽ đến nhận
điện tử của kim loại kiềm, kiềm thổ tạo thành khí H
2
, và các ion kim loại kiềm thổ
GVHD: Th.S Đỗ Vĩnh Long 17
O
3
thì bền trong môi trường acid
cũng như môi trường kiềm. Nhiệt độ môi trường ăn mòn càng cao thì thủy tinh bị ăn mòn
càng nhanh hơn, nếu bề mặt thủy tinh có vết trầy sước thì cũng tạo điều kiện ăn mòn dễ
dàng.
GVHD: Th.S Đỗ Vĩnh Long 18
Cát có kích thước to
(105÷1100C)
Cát
Rửa, chà xát
Sấy khô
Phân loại kích thước hạt
Phân ly điện từ
Sấy cát
Nấu
Tạo hình
Phủ nóng ( bề mặt)
Ủ hoặc tôi
Sản phẩm
Phụ gia
Xử lý chất phụ gia
SnO2
(700÷8000C)
(700÷8000C)
Sắt kim loại và oxyt sắt
(1100÷14000C)
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm
IV. QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO THỦY TINH
1. Quy trình
bằng phương pháp điện từ.
2.5 .Sấy cát
Sấy ở nhiệt độ rất cao (700÷800
0
C) nhằm mục đích loại bỏ tạp chất hữu cơ, nâng nhiệt
độ khối cát lên cao, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình nấu thủy tinh.
2.6 Nấu thủy tinh
Giai đoạn nấu thủy tinh ảnh hưởng đến chất lượng của thủy tinh. Khối nguyên liệu
được gia nhiệt đến 1100÷1400
0
C để nấu chảy tạo thủy tinh, tùy theo thành phần nguyên
liệu. Nếu thành phần nguyên liệu có Na cao thì sẽ làm giảm nhiệt độ nóng chảy của khối
nguyên liệu xuống khoảng 1000
0
C.
Đây chính là quá trình nóng chảy của SiO
2
, tạo cấu trúc đồng nhất giữa oxyt silic và
các kim loại kiềm, kiềm thổ hoặc kim loại lưỡng tính, có mặt trong khối nguyên liệu. Có
giả thuyết cho rằng, trong quá trình nấu thủy tinh xảy ra sự tạo liên kết mới sắp xếp lại
cấu trúc, SiO
2
chuyển thành SiO
4
, có dạng khối tứ diện đều, nguyên tử Si nằm tại tâm, và
chuyển nguyên tử oxy phân bố ở bốn đỉnh của khối tứ diện.
Trong quá trình nấu thủy tinh, có sự tham gia của cacbon (C) để khử oxy từ các oxyt
kim loại (khác SiO
2
), tạo thành khí CO, CO
ứng suất ở thành trong và thành ngoài của trai lọ thủy tinh,tạo cho thủy tinh có độ bền cơ
cao.
Tôi thủy tinh: thủy tinh sau khi được tạo hình,phủ nóng và làm nguội đến 300
o
C thì
được gia nhiệt đến nhiệt độ 700
o
C và được làm nguội nhanh để tăng ứng suất bên trong
thành trai lọ và tạo ứng suất đồng đềutrong cả sản phẩm.sản phẩm thủy tinh tôi chịu được
sự chênh lệch nhiệt độ cao đến 270
o
C (thủy tinh không tôi chịu được sự chênh lệch nhiệt
độ là 270
o
C).sản phẩm thủy tinh tôi bị vỡ sẽ tạo thành những mảnh vỡ vụn không sắc
cạnh .Thủy tinh tôi được dùng chế tạo các loại kính đảm bảo an toàn cho người sử dụng
GVHD: Th.S Đỗ Vĩnh Long 22
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm
trong trường hợp nó bị vỡ như:dùng làm kính xe ô tô,một số loại chai lọ,chén đĩa cao cấp
và thủy tinh chịu nhiệt độ cao.
3. Các loại khuyết tật
Chất lượng thủy tinh được đánh giá bởi độ đồng nhất hóa học (từ đó sẽ dẫn đến sự
đồng nhất về vật lý).sự có mặt các thành phần lạ không đồng nhất gọi là khuyết tật của
thủy tinh.Tùy theo các nguyên nhân khác nhau về hình dạng,đặc tính hóa lý ,và làm giàm
chất lượng thủy tinh.khi sản phẩm đã bị khuyết tật thì không thể khắc phục mà phải loại
bỏ.
3.1. Khuyết tật dạng bọt khí
Bọt khí có nhiều kích thước khác nhau ,không màu,trong suốt.khuyết tật dạng này là
do thành phần phế liệu không thích hợp hoặc kích thước hạt cát không đồng đều hoặc do
chế độ nấu thủy tinh không hợp lý như nhiệt độ thấp hoặc thời gian khử bọt ngắn khiến
Loại nắp này được làm bằng nhôm hoặc thiếc có phủ lớp sơn bên trong và bên ngoài, có
đệm plastic để đảm bảo độ kín cho chai, ngoài ra cần có nút đệm, đậy miệng chai trước
khi đậy nắp, nút đệm thường bằng vật liệu HDPE. Sau khi đậy nút đệm,vặn nắp thiếc vào
theo đường ren thì miệng nắp đệm sẽ áp sát vào lớp đệm của nắp thiếc, tạo độ kín khít
hoàn toàn.
GVHD: Th.S Đỗ Vĩnh Long 24
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm
Miệng chai loại B: có cấu tạo thành miệng khá dày, để chứa các loại rượu vang,
rượu champagne…có áp lực CO
2
cao, có thời hạn tồn trữ và sử dụng rất dài nên cần phải
đậy kín và có khả năng chịu áp lực cao của CO
2
được nén trong chai. Chai được đậy kín
bằng nút bấc, nút có cấu tạo hình trụ tròn có mũ nấm, thân trụ dài khoảng 4 cm. nút bằng
gỗ bấc có tính đàn hồi cao, sẽ đậy chặt khít miệng chai và nhô lên khỏi miệng chai 1,5cm,
và dậy thép được buộc bên ngoài miệng chai giúp cho nút bấc chịu được áp lực nén cao
của CO
2
bên trong chai. Kế đến lớp bọc ngoài là lớp giấy nhôm áp sát vào miệng chai,
các mép giấy che phủ giây thép bên trong.
Hiện nay một số chai rượu vang có cấu tạo nắp chai thay đổi về vật liệu:
- Nút bậc được chế tạo bằng plastic có độ đàn hồi cao.
- Dây thép được thay thế bằng nắp ren tương ứng với chai miệng ren. Nút
cao su được đóng kín vào miệng chai không cần có phần nhô lên, đóng vào hẳn
trong miệng chai và sẽ được khui bằng dụng cụ khui chuyên dùng dạng vít xoắn.
- Giấy nhôm được bọc tha thế bằng màng co plastic có in thương hiệu.
Phương pháp đậy kín sản phẩm rượu vang có áp lực CO
2
trong chai đã đạt kết quả hữu