Bộ giáo dục v đo tạo Bộ y tế
Trờng đại học y H Nội
[\
Ngô thị tính Chuyên đề tiến sĩ:
Đặc điểm hình thái học
của ung th cổ tử cung
Đề ti:
Nghiên cứu đánh giá mức Độ xâm lấn của ung th cổ
tử cung qua lâm sng, cộng hởng từ
v kết quả điều trị tại bệnh viện k
từ
2007 - 2009
Chuyên ngành : Ung th
Mã số : 62. 72. 23. 01
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS. Ngô Thu Thoa
H nội 2009
Mục lục
đã đợc áp dụng nhng tỷ lệ UTCTC giai đoạn muộn IIB, III, IV vẫn chiếm tỷ
lệ trên 50% số trờng hợp UTCTC mới mắc.
Cùng với sự phát triển của những nghiên cứu về tế bào học, bệnh sử tự
nhiên của ung th cổ tử cung cũng đợc biết rõ hơn. Ung th cổ tử cung
thờng xuất phát từ vùng chuyển tiếp giữa biểu mô trụ và biểu mô vảy. Bắt
đầu bằng những tổn thơng tiền ung th tiến triển thành ung th tại chỗ tiếp
theo là ung th vi xâm nhập và cuối cùng là ung th xâm nhập[trích dẫn từ 6].
Những tổn thơng tiền ung th còn đợc gọi là dị sản không điển hình tế bào
vảy hay tế bào tuyến không điển hình, loạn sản hay tân sản nội biểu mô, tổn
thơng nội biểu mô vảy độ thấp(LSIL) hoặc độ cao(HSIL), ung th biểu mô
tại chỗ (CIS). Những tổn thơng này có thể tiến triển trong thời gian dài tuỳ
từng giai đoạn, và tăng dần lên nếu không đợc điều trị kịp thời và cuối cùng
là ung th xâm nhập. Bệnh có thể đợc phát hiện ở giai đoạn tiền lâm sàng
nhờ phơng pháp xét nghiệm phiến đồ cổ tử cung - âm đạo. trong giai đoạn
này bệnh đợc điều trị có kết quả cao. Bệnh ở giai đoạn muộn điều trị tốn kém
và hiệu quả thấp. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào kết quả tế bào mà điều tri ch
a
đủ, cần phải đợc làm mô bệnh học. Trong khuôn khổ chuyên đề này chúng
tôi đề cập đến vấn đề:
Nghiên cứu về hình thái học của ung th cổ tử cung
- -
2
1.1. Hình tháI học cổ tử cung bình thờng
Cổ tử cung và phần trên âm đạo có nguồn gốc từ ống Muller, cấu trúc
lớp niêm mạc cổ tử cung gồm 2 loại, che phủ mặt ngoài CTC là biểu mô vảy,
che phủ ống CTC là biểu mô trụ. Ranh giới giữa biểu mô trụ và biểu mô vảy
định vị trí về mô học của cổ trong và cổ ngoài. Tuyệt đại đa số các tổn thơng
CTC đều sinh ra từ mép ranh giới này. Vị trí ranh giới giữa biểu mô trụ và
biểu mô vảy thay đổi theo từng thời kỳ trong suốt cuộc đời ngời phụ nữ do
tác động của nội tiết sinh dục.
Loại V: tế bào đồ đặc trng cho ung th, tế bào phẳng với sự có mặt của
lợng lớn tế bào biểu mô không điển hình, sắp xếp riêng biệt hay tạo thành
nhóm với dấu hiệu rõ ràng của tế bào ung th.
1.1.1.1. Chẩn đoán tế bào ác tính của cổ tử cung
Các dạng ung th xâm nhập của cổ tử cung : trong phiến đồ âm đạo, cổ
tử cung xuất hiện những dạng tế bào biểu mô phẳng, còn trong ống cổ tử cung
thì những tế bào dạng tuyến. Trong những ung th biểu mô tế bào phẳng của
cổ tử cung ngời ta chú ý đến các tế bào trởng thành với hiện tợng hoá sừng
và không trởng thành những tế bào đó cha đợc biệt hoá [6]; [8]
1. Ung th biểu mô vảy sừng hoá: tế bào đa dạng có hình dáng, kích
thớc khác nhau với các nhân a sắc nhỏ, teo đặc. Hình dáng các
tế bào có thể tròn, bầu dục, nhiều cạnh, giống nh cái lá hoặc
bánh xe, có tế bào lớn khổng lồ, nhân đa dạng kéo dài, tròn,
đờng viền không đều, đôi khi ngoằn nghèo nằm ở giữa hay ở
một đầu, trong trờng hợp hoá sừng rõ thì bào tơng nhuộm màu
- -
4
bị nhạt, trong suốt giống nh thuỷ tinh. Trong bào tơng của
cáctế bào ung th cũng gặp những hốc khác nhau. Các dạng tế
bào ung th trong phiến đồ có thể gặp dạng rời hoặc tập hợp, ranh
giới tế bào nhiều khi khó phân biệt, các tế bào nằm chồng xếp lên
nhau. Trong ung th tế bào biểu mô dạng sừng hoá có xuất hiện dạng
củ hành tế bào cuộn tròn giống củ hành bị cắt ngang.
2. Ung th biểu mô không sừng hoá: tế bào nằm rời hay từng đám,
nhân đa dạng to, nhỏ không đều, chất nhiễm sắc hạt nhỏ đôi khi
thô, nhân có thể cha 1-3 hạt nhân, bào tơng bắt màu kiềm, ít
khi gặp nhân chia, có khi có nhân trần.
3. Ung th biểu mô tuyến: thờng gặp tính không điển hình nên
những tế bào biểu mô trụ bị ung th rất giống tế bạo nội mạc nên
phải chú ý tính không điển hình của nhân và sự tập hợp các thành
mô vảy ít biệt hoá và sự biệt hoá chỉ xảy ra ở hầu hết lớp tế bào cận đáy và lớp
tế bào đáy.
Biểu mô trụ cổ trong CTC bao gồm biểu mô phủ bề mặt cổ trong và các
tuyến đợc tạo bởi các khe sâu của biểu mô bề mặt gấp lại vào dới mô đệm .
1.1.2.2. Biểu mô trụ cổ trong cổ tử cung
Biểu mô tuyến cổ trong CTC bao gồm một hàng tế bào trụ đơn với tế
bào nhân tròn, bầu dục và bào tơng chứa Mucin. Bên cạnh các tế bào chế
nhầy là các tế bào trụ có lông ở cực nhọn. Xen kẽ và ở dới hai loại tế bào trên
là tế bào dự trữ, kích thớc nhỏ, bào tơng khó xác định ít biệt hoá , chúng có
thể tái tạo biểu mô CTC và thể dị sản trong một số điều kiện nhất định là
nguồn gốc phát sinh loạn sản. Soi cổ tử cung sau khi bôi axít acetic 3-5% thấy
rằng biểu mô tuyến đợc phủ bởi cấu trúc giống lông tơ, chúng chứa trục nhú
trung tâm, những lông tơ đợc tập trung từng đám giống nh chùm nho. Trong
- -
6
70% phụ nữ hoạt động tình dục trong lứa tuổi sinh sản biểu mô tuyến có xu
hớng phát triển ra phía cổ ngoài. Nhìn bằng mắt thờng biểu mô tuyến có
màu hồng vì dới biểu mô nhú giàu mạch máu nuôi dỡng và đợc xem nh
sự sói mòn cổ tử cung. Từ lộn cổ tử cung đợc hầu hết các nớc trên thế giới
sử dụng gọi cho hiện tợng này.
1.1.3.Vùng chuyển tiếp :
Vùng chuyển tiếp đợc giới hạn bởi chỗ gặp nhau của tế bào nguồn gốc
vảy trụ, ranh giới ngoại vi giữa biểu mô vảy dị sản và biểu mô tuyến cổ
trong CTC có thay đổi : lúc bắt đầu tuổi dạy thì hoặc lúc mang thai CTC tăng
lên về thể tích và biểu mô tuyến đợc lộn ra ngoài, sau khi mãn kinh với sự
thu nhỏ kích thớc của CTC biểu mô tuyến tụt vào trong ống cổ tử cung.
Vùng nối vảy trụ có thể nhận ra bằng soi cổ tử cung : sự tìm thấy phần còn
lại của tuyến mở ra bởi biểu mô vảy ở ngay phía ngoài vùng chuyển tiếp. Vị
trí mô học này tơng ứng với hầu hết các tuyến ở ngoại biên đợc bao phủ bởi
biểu mô vảy. Ranh giới ngoại vi của vùng chuyển tiếp còn lại không thay đổi
CIN III và CIS). Mới đây một đề nghị đa ra phân loại CIN I và những dấu
hiệu hình thái học của nhiễm virus HPV đợc xếp vào tổn thơng nội biểu mô
vảy độ thấp (LSIL), CIN II ; CIN III và ung th biểu mô tại chỗ thuộc tổn
thơng nội biểu mô vảy độ cao (HSIL) (phân loại Bethesda, 1988) []. Kết quả
của việc sử dụng các hệ thống phân loại khác nhau đang đợc đánh giá. Các
tác giả đã xác định những phụ nữ với tổn thơng CIN III có khả năng dẫn đến
ung th xâm nhập cao hơn CIN I và CIN II, nhng những tổn thơng này đều
có thể thoái triển tự phát và tỷ lệ thoái triển giảm dần theo độ CIN tăng lên.
Khái niệm về ung th biểu mô vi xâm nhập đợc đ
a ra nh sau : ung th biểu
mô vi xâm nhập sâu tối đa là 5mm và đợc chia thành một nhóm trong ung
th xâm nhập giai đoạn I. Độ sâu của sự xâm nhập đó là một thông số quan
trọng trong việc lựa chọn phơng pháp điều trị bảo tồn hay triệt căn.
- -
8
Trong một nghiên cứu để xác định lịch sử tự nhiên của ung th biểu mô
tuyến xâm nhập cổ tử cung giai đoạn sớm. Ostor và cộng sự (2000)[99] đã
định nghĩa độ sâu của tổn thơng bằng hoặc nhỏ hơn 5mm, bề rộng của tổn
thơng các tác giả cha công bố. Các nhà nghiên cứu bệnh học đã khẳng định
sự khác nhau giữa ung th tại chỗ và ung th xâm nhập giai đoạn sớm. Tiêu
chuẩn cho ung th vi xâm nhập bao gồm một số đặc điểm sau :
1. Xâm nhập rõ rệt tới 5 mm hoặc nhỏ hơn
2. Không lấp kín hoàn toàn các lỗ tuyến của cổ trong
3. Lan tràn ra ngoài các tuyến bình thờng
4. Có đặc điểm phản ứng mô đệm của ung th biểu mô xâm nhập
Không phải tất cả các tiêu chuẩn trên đều có ở đầy đủ tất cả các trờng
hợp. Trong tất cả 436 ca tập hợp, cho phép ớc chừng của các công bố : 126
bệnh nhân đợc điều trị bằng xạ trị phối hợp với phẫu thuật, và không có xâm
lấn dây chằng rộng. Không có trờng hợp nào có khối u đợc tìm thấy trong
155 bệnh nhân ở một hoặc hai buồng trứng đã đợc cắt. Trong số 219 bệnh
chữa sau một khoảng thời gian có thể dài, ngắn tuỳ trờng hợp nếu không
đợc điều trị sẽ tiến triển dần đến tổn thơng nội biểu mô vảy độ thấp (LSIL),
tổn thơng nội biểu mô vảy độ cao (HSIL), và dần đến ung th tại chỗ (CIS),
rồi đến ung th biểu mô vi xâm nhập và cuối cùng là ung th xâm nhập. Ung
th biểu mô vi xâm nhập là giai đoạn sớm nhất trong sự hình thành ung th
biểu mô xâm nhập[trích dẫn từ 6]
áp dụng trơng trình sàng lọc phát hiện sớm ung th cổ tử cung trên
phạm vi rộng lớn và những phát hiện trên lâm sàng ở những phụ nữ từ 30 tuổi
trở lên, ngời ta thấy rằng ung th vi xâm nhập tăng từ 1,25 (1947) tới 25,5%
(1972) tại Cleveland (Ng, Reagan 1988)[40]. ở
những phụ nữ đợc chẩn đoán
ung th vi xâm nhập 62,1% không có triệu chứng và 56,1% có cổ tử cung hình
nh bình thờng qua nhìn cổ tử cung bằng mắt thờng ở thời điểm chẩn đoán.
- -
10
Nếu ung th cổ tử cung đợc phát hiện ở giai đoạn này, tiên lợng tốt vì ung
th xuất hiện một vài năm trớc khi bớc sang giai đoạn xâm nhập. Ung th
biểu mô xâm nhập ở giai đoạn sớm thờng đợc tìm thấy ở lớp biểu mô phủ
bất thờng (HSIL), nhng cá biệt thấy tổn thơng rộng hơn hoặc sự xâm nhập
xuất phát từ những tổn thơng rất nhỏ.
Theo nghiên cứu của Barreth và cs(2002)[11] trong suốt thời gian nghiên
cứu gồm 727 bệnh nhân trong số 241.841ca đợc sàng lọc chiếm 0,3% đã
đợc công bố là tế bào vảy không điển hình không bao gồm tổn thơng nội
biểu mô mức độ cao (ASC-H) trong 655 bệnh nhân. Có 91 bệnh nhân đợc
chẩn đoán là ung th cổ tử cung, ung th tại chỗ hoặc tổn thơng nội biểu mô
mức độ cao HSIL từ kết quả phân tích này và 12 bệnh nhân đối chiếu lại
không có (ASC-H) .
Năm 1985, Hiệp hội quốc tế Sản phụ khoa (FIGO) đề nghị thay đổi
định nghĩa về giới hạn giai đoạn của ung th cổ tử cung và hiện nay định
nghĩa đó đợc thừa nhận rộng rãi. Ung th vi xâm nhập đợc chẩn đoán khi
th biểu mô tuyến khoảng 10% và còn lại là các u không phải tuyến, vảy hoặc
hỗn hợp [trích dẫn từ 6]. Tỷ lệ ung th cổ tử cung ngày càng tiếp tục giảm,
chẳng hạn ở châu Mỹ, tỷ lệ mắc ung th cổ tử cung giảm từ 9,8 xuống 7,6 ở
phụ nữ da trắng và từ 23,4 xuống 14,3 ở phụ nữ da đen và giảm chủ yếu là
ung th biểu mô vảy ( Dunne và cs, 1989) [15].
Ung th biểu mô tế bào vảy bao gồm :
Ung th biểu mô có keratin với cầu sừng hay không
Ung th biểu mô không có keratin tế bào lớn
Ung th
biểu mô không có keratin tế bào nhỏ.
Cơ sở của sự phân loại này dựa trên nhận xét ung th biểu mô sừng hoá
đề kháng với tia xạ hơn so với ung th biểu mô không sừng hoá và ung th
biểu mô tế bào nhỏ có tiên lợng xấu hơn cả. Sự phân biệt giữa ung th biểu
mô không sừng hoá và sừng hoá dựa trên sự có mặt của cầu nối và cầu sừng.
- -
12
Loại tế bào nhỏ mới đợc xác định chính xác hơn và hiện nay gồm các khối u
giống nhau về hình thái và chức năng với ung th biểu mô không biệt hoá tế
bào nhỏ ( ung th biểu mô hạt lúa mạch, ung th biểu mô tế bào a bạc, ung
th biểu mô thần kinh nội tiết). Loại này giống ung th biểu mô tế bào lúa
mạch của phổi và có tiên lợng xấu, thờng lan tràn sớm bằng đờng bạch
mạch hoặc lan tràn hệ thống [13].
Ngoài ra, trong ung th tế bào vảy còn có những biến thể khác ít gặp
hơn đó là :
Ung th biểu mô dạng tế bào đáy
Ung th biểu mô dạng mụn cơm
Ung th biểu mô dạng nhú
Theo nghiên cứu của Hagen B và cộng sự (2000) [22], trong giai đoạn
1987-1996, ung th biểu mô tế bào vảy : 84% ; ung th biểu mô tuyến : 11% ;
ung th biểu mô tuyến vảy : 4% và ung th biểu mô không biệt hoá / tế bào
của bệnh và khi kích thớc khối u còn nhỏ, bệnh tái phát sớm tại chỗ.
Theo nghiên cứu của Sevin, (1995) tiến hành nghiên cứu 370 bệnh nhân
giai đoạn I và II đợc điều trị bằng phẫu thuật triệt căn, đã thấy rằng ung th
biểu mô tế bào nhỏ có tiên lợng xấu và thời gian sống thêm 5 năm là 36%.
Theo nghiên cứu của Austin và cs (1994)các típ mô bệnh học ở những
bệnh nhân dới 35 tuổi gồm 74 trờng hợp ung th biểu mô tế bào vảy, 3
trờng hợp ung th biểu mô tuyến vảy, 2 ung th biểu mô tuyến và 1 ung
th biểu mô không biệt hóa (n= 80).
Theo nghiên cứu của Ingeholm và Glenthj (1996)trên 108 bệnh nhân
ung th cổ t
cung ở Đan Mạch, 81% (87 trờng hợp) là ung th biểu mô tế
bào vảy, 5% (5 trờng hợp ) là thể tuyến - vảy, 14% (15 trờng hợp) là ung
th biểu mô tuyến và 1% là ung th biểu mô tế bào nhỏ.
Theo phân loại này, các tác giả cho rằng ung th biểu mô tế bào vảy
sừng hóa và không sừng hóa bắt nguồn từ biểu mô vảy lát tầng không sừng
hóa của cổ ngoài và từ biểu mô dị sản ống cổ trong cổ tử cung. Còn ung th
- -
14
biểu mô tế bào nhỏ lại bắt nguồn từ những tế bào không biệt hóa của biểu mô
trụ của cổ trong. Trong ung th biểu mô tế bào nhỏ, các tế bào có thể không
cùng nhóm đồng nhất. Jones và cs (1976) dựa trên hình ảnh siêu cấu trúc của
các hạt chế tiết có trong bào tơng của tế bào u loại nhỏ và thấy rằng tế bào u
có nguồn gốc thần kinh nội tiết.
Theo nghiên cứu của Mc Lellan và cs (1994) các t íp mô bệnh học của
ung th biểu mô tuyến cổ tử cung giai đoạn I bao gồm: ung th biểu mô
tuyến cổ trong (44 trờng hợp), ung th biểu mô nhú (5 trờng hợp), ung th biểu
mô tế bào sáng (3 trờng hợp) và ung th biểu mô tuyến vảy (3 trờng hợp).
Ung th biểu mô tuyến trong những thập kỷ gần đây có xu hơng tăng
(chiếm khoảng 25% ung th biểu mô cổ tử cung) đặc biệt ở các nớc có
chơng trình sàng lọc tế bào hoc, có lẽ sự tăng này có liên quan đến sự giảm
áp(Brinton, 1987 [35]; Kessler, 1987. Trong một nghiên cứu khoảng 60% ung
th biểu mô tuyến có kết hợp với CIN hoặc ung th biểu mô vảy xâm nhập,
(Saigo, 1986)và khoảng 89% ung th biểu mô tuyến có HPV trong nhân tế
bào (Wilezynski, 1988.
Ung th biểu mô tế bào kính mờ
Trong nghiên cứu của Reis Filho và cs ung th biểu mô tế bào kính mờ
là loại ung th biểu mô kém biệt hoá bao gồm các tế bào với nhân lớn hình
tròn hoặc hình trái xoan có chứa một hay nhiều hạt nhân nổi rõ, có bào tơng
a toan và có hốc mịn hoặc a cả hai màu và giới hạn tế bào rõ rệt. Các tế bào
u sắp xếp thành dải với vách xơ huyết quản và đặc biệt có xâm nhập nhiều loại
tế bào viêm. Loại ung th
này đáp ứng kém với xạ trị và tiên lợng xấu hơn
các típ ung th biểu mô tuyến và ung th biểu mô tế bào vảy thông thờng.
Các tế bào u dơng tính với cytokeratin (MNF 116), vimentin và kháng
nguyên biểu mô phôi và âm tính với HBM 4.
- -
16
Ngày nay, tỷ lệ ung th biểu mô tuyến và ung th biểu mô tuyến vảy
trong toàn bộ phân loại ung th biểu mô xâm nhập của cổ tử cung theo Bibbo,
1991 [12] đợc ghi nhận nh sau:
Tỷ lệ ung th biểu mô tuyến và tuyến vảy
Tên tác giả Tỷ lệ %
Gallup và Abel 9,5
Weiss và Luccas 12,8
Tamirai và Figge 15,8
Reagan và Ng 16,0
Hoowitz và cộng sự 16,0
Berek và cộng sự 18,2
Shingleton và cộng sự 18,5
+ Ung th biểu mô tế bào vẩy không xác định rõ khác đợc 8070/3
+ Ung th biểu mô sừng hoá 8071/3
+ Ung th biểu mô không sừng hóa 8072/3
+ Dạng đáy 8083/3
+ Dạng mụn cơm 8501/3
+ Mụn cóc 8051/3
+ Nhú 8052/3
+ Giống lympho biểu mô 8082/3
+ Vẩy chuyển tiếp 8120/3
+ Ung th biểu mô tế bào vẩy mới xâm nhập (vi xâm nhập) 8076/3
- Tân sản nội biểu mô vẩy
+Tân sản nội biểu mô CTC (CIN 3) 8077/2
+ Ung th biểu mô tế bào vẩy tại chỗ 8070/2
- Các tổn thơng tế bào vẩy lành tính
Conđilôm nhọn đỉnh
U nhú vẩy 8025/0
- -
18
Polyp xơ biểu mô
- Các u tuyến và tiền u
+ Ung th biểu mô tuyến 8140/3
+ Ung th biểu mô tuyến nhầy 8480/3
+ Cổ trong 8482/3
+ Ruột 8144/3
+ Tế bào nhẫn 8490/3
+ Sai lệch tối thiểu 8480/3
+ Tuyến nhung mao 8262/3
+ Ung th biểu mô tuyến dạng nội mạc tử cung 8380/3
+ Ung th biểu mô tuyến tế bào sáng 8310/3
+ Ung th biểu mô tuyến thanh dịch 8441/3
Các u hỗn hợp biểu mô và trung mô
Sacôma biểu mô (u hỗn hợp Muller)
+ Ung th biểu mô và dị sản 8980/3
+ Sacôma tuyến 8933/3
+ U Wilms 8960/3
+ U xơ tuyến 9013/0
+ U cơ tuyến 8932/0
- Các u tế bào ác tính
+ U hắc tố ác tính 8720/3
Các u khác - Các u típ tế bào mầm
+ U túi noãn 9071/3
+ U nang dạng bì 9084/0
+ U quái nang thành thục 9080/0
- Các u tạo huyết và dạng lympho
U lympho ác tính
Bệnh bạch cầu
Các khối u thứ phát
- -
20
4.1. Hoá mô miễn dịch
Theo tác giả Tanaka và cs (1998) đã nghiên cứu 63 trờng hợp ung th
cổ tử cung và đã xác định đợc là các tế bào có nguồn gốc từ các tế bào dự trữ
bị thay đổi qua quá trình xâm nhập. Ung th biểu mô tế bào vảy có kháng thể
keratin dơng tính nh CK 10/13 (DE K 13), CK 14(NCC LL 002) và
CK7 (OV TL 12/30). Trong ung th biểu mô tế bào vảy xâm nhập, các tế
bào CK 14 dơng tính chồng chất và có xu hớng nhuộm dơng tính với
PCNA và laminin. Có hai kiểu dơng tính: kiểu dơng tính mạnh với CK 14
và kiểu dơng tính yếu với CK14. Kiểu dơng tính mạnh khác với kiểu dơng
tính yếu về chiều sâu và vị trí. Những tế bào ở vùng rìa của các đám tế bào
ung th dơng tính với CK14 nh các tế bào đáy bình thờng. Kết quả thu
-/neu bằng phơng pháp hóa mô miễn dịch trên bệnh phẩm lu trữ của 150
bệnh nhân ung th biểu mô cổ tử cung. Kết quả sự bộc lộ Her -2/neu đợc
phát hiện 34/150 bệnh nhân (22%). Các u Her - /neu dơng tính có sự không
đồng nhất lớn trong phân bố các tế bào u dơng tính. Độ mô học và týp mô
học của u không ảnh hởng đến hình thái và cờng độ của sự bộc lộ Her-
2/neu. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong thời gian sống thêm
của bệnh nhân với u dơng tính hoặc âm tính với Her -2/neu(p=0,05). Các tác
giả thấy rằng sự bộc lộ Her -2/neu không phải là yếu tố dự báo thời gian sống
thêm của bệnh nhân ung th cổ tử cung và cũng không xác định nhóm bệnh
nhân có nguy cơ cao với tái phát.
Theo nhiên cứu của Bremer và cs (1995) cho thấy sự bộc lộ quá mức
protein gen ức chế p53 đợc phát hiện ở 30,2% trờng hợp ung th cổ tử cung,
trong đó phản ứng dơng tính thấy ở 30 ,7% và 39,1% âm tính. Theo giai
đoạn lâm sàng, sự bộc lộ quá mức p53 tăng từ 20,1% trong giai đọan IB lên tới
60% trong giai đoạn IV. Có sự tơng quan có ý nghĩa giữa bộc lộ quá mức
p53 và thời gian sống thêm không bệnh tật của bệnh nhân. tuy nhiên sau khi
xếp lớp theo giai đoạn ý nghĩa này mất đi.
- -
22
Nghiên cứu của Nakano và cs (1997) về sự bộc lộ quá mức của
oncoprotein ở 64 bệnh nhân ung th cổ tử cung đợc xạ trị cho thấy bộc lộ
qua mức của oncoprotein c- erbB 2 là 42,4% bệnh nhân nghiên cứu và tăng có
ý nghĩa với sự tiến triển của giai đoạn bệnh nhng không có sự khác biệt có ý
nghĩa giữa cac típ mô học. Tỷ lệ sống thêm 5 năm của những bệnh nhân c-
erbB 2 dơng tính và c-erbB 2 âm tính là 45,1% và 71,56% (p<0,01). Sự khác
biệt về thời gian sống thêm gây nên chủ yếu do tái phát hơn là di căn xa. Theo
Uehara và cs (1995) đã nghiên cứu sự bộc lộ bel 2 ở những bệnh nhân ung
th biểu mô tế bào vảy cổ tử cung (n=259) đợc điều trị phẫu thuật. Kết quả
cho thấy 67% u âm tính với bel- 2 và 33% dơng tính. Không có sự khác biệt
về thời gian sống thêm 5 năm giữa những bậnh nhân có u âm tính (78%) và
hạt lõi đặc 120 đến 250 nm hình tròn hay hình trái xoan. Các màng giới hạn
đợc phân tách với lõi bởi một khe sáng ở chu vi. Hiển vi điện tử ít hiệu quả
hơn trong việc phân biệt các hạt nội tiết so với nhuộm a bạc và hóa mô miễn
dịch. Các thể liên kết phát triển rõ với các bó tơ giống nh tơ lực có thể nhiều
ở một số u phản ánh biệt hóa vảy nhng lại nghèo nàn ở một số u khác. Các
vùng nhỏ, u có thể có các hốc (lòng) bào tơng có cha vi nhung mao phản
ánh biệt hóa tối thiểu theo hớng ung th biểu mô tuyến.
Siêu cấu trúccủa ung th biểu mô tế bào sáng giống nhau ở mọi vị trí (
cổ tử cung, âm đạo, buồng trứng, nội mạc tử cung) bất kể có tiền sử tiếp xúc
với DES hay không. Trong ung th biểu mô tế bào sáng, sự có mặt của nhiều
glycogen, ngay cả trong các tế bào hình ảnh không rõ trên hiển vi quang học
là nổi bật nhất. Sự có mặt của nhiều vi nhung mao cùn, ngắn cũng là hình ảnh
đặc trng. Trong bào tơng của tế bào, hiếm thấy bộ máy Golgi và ti lạp thể (
Dickerson và cs, 1980) .
Trong ung th biểu mô tế bào kính, các tế bào tơng đối đồng đều về
kích thớc và giới hạn. Nhân tế bào thờng có chất nhiễm sắc phân tán và hạt
nhân nổi rõ. Bào tơng thờng rõ nét và có nhiều lới nội nguyên sinh bị giãn
do có chứa các sản phẩm chế tiết đặc điện tử. Hình ảnh này cùng với nhiều tơ