LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao năng
lực cạnh tranh của công ty cổ phần VIWASEEN 6” là công trình nghiên cứu khoa
học độc lập của tôi. Các số liệu được đưa ra trong luận văn là trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng. Hà Nội, ngày 19 tháng 11 năm 2013
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Cồ Thị Mai
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và làm luận văn thạc sĩ em đã nhận được sự giúp
Bảng 2.2. Bảng báo cáo tài chính trong 5 năm 2009-2013 32
Bảng 2.3. Tổng số vốn đầu tư từ năm 2009-20013 35
Bảng 2.4. Cơ cấu vốn đầu tư 37
Bảng 2.5. Cán bộ quản lý và chuyên môn kỹ thuật 39
Bảng 2.6. Cơ cấu công nhân kỹ thuật phân theo cấp bậc thợ 40
Bảng 2.7. Bảng số liệu năng lực nguồn nhân lực 40
Bảng 2.8. Thống kê thiết bị thi công 42
Bảng 2.9. Tình hình thực hiện đầu tư phát triển năm 2009-2013 49
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1. Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý 27
Hình 2.1. Cơ cấu nguồn nhân lực của công ty 41
9. TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
10. CN: Công nghiệp
11. HĐQT: Hội đồng quản trị
12. GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
13. CPI: Chỉ số giá tiêu dùng
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP 1
1.1. CẠNH TRANH VÀ SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1
1.1.1. Khái niệm và phân loại cạnh tranh 1
1.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh 1
1.1.1.2. Phân loại cạnh tranh 3
1.1.2. Vai trò của cạnh tranh 6
1.1.3. Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp 8
CỔ PHẦN VIWASEEN 6 24
2.1. CÔNG TY CỔ PHẦN VIWASEEN 6 VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY 24
2.1.1. Khái quát về công ty Cổ phần VIWASEEN 6 24
2.1.1.1. Vài nét về sự hình thành và phát triển của Công ty 24
2.1.1.2. Đặc điểm về lao động của Công ty 30
2.1.1.3. Đặc điểm về tài chính của Công ty Cổ phần VIWASEEN 6 32
2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần
VIWASEEN 6 33
2.1.2.1. Vốn và nguồn vốn 33
2.1.2.2. Nguồn nhân lực 38
2.1.2.3. Trình độ công nghệ 41
2.1.3. Các nhân tố bên ngoài 43
2.1.3.1. Tỷ suất kỳ vọng 43
2.1.3.2. Lãi suất 44
2.1.3.3. Các đối thủ cạnh tranh 44
2.2. PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
VIWASEEN 6 45
2.2.1. Các công cụ cạnh tranh chủ yếu của công ty 45
2.2.1.1. Chất lượng sản phẩm 45
2.2.1.2. Giá cả 47
2.2.1.3. Hệ thống phân phối 48
2.2.2. Những kết quả đã đạt được trong cạnh tranh của công ty cổ phần
VIWASEEN 6 49
2.2.3. Đánh giá tổng quát về năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần VIWASEEN
6 51
2.2.3.1. Những điểm mạnh trong năng lực cạnh tranh của công ty 51
2.2.3.2. Những hạn chế, nguyên nhân và vấn đề đặt ra 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 55
mang lại. Với việc thực hiện các cam kết song phương và đa phương, hướng tới gia
nhập WTO, một nhân tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
cũng như sự phát triển của nền kinh tế, đó là nâng cao năng lực cạnh tranh bởi cạnh
tranh là đặc trưng vốn có của kinh tế thị trường và trong điều kiện hội nhập thì cạnh
tranh ngày càng trở nên gay gắt. Doanh nghiệp nào có sự chuẩn bị tốt về năng lực
cạnh tranh sẽ nắm được quyền chủ động trên thị trường.
Công ty Cổ phần VIWASEEN 6 là một công ty hoạt động trong lĩnh vực sản
xuất công nghiệp trong đó bao gồm sản xuất kinh doanh nước sinh hoạt, nước
khoáng, vật liệu xây dựng, xây dựng cơ sở hạ tầng , hội nhập WTO đặt ra những
yêu cầu rất lớn về xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật, điều này mở ra cho
công ty những cơ hội lớn, những thị trường lớn, song cũng chính vì điều này mà
xuất hiện ngày càng nhiều các công ty muốn gia nhập thị trường này và còn những
công ty nước ngoài với sự bình đẳng trong các chính sách của nhà nước và với năng
lực tài chính mạnh mẽ cũng tham gia, làm cho miếng bánh thị phần bị chia nhỏ, sự
canh tranh cũng vì thế mà trở nên khốc liệt hơn. Chính vì lý do đó công ty muốn tồn
tại và phát triển thì phải luôn khẳng định được vị thế của mình trên thị trường và
luôn chiến thắng trong các cuộc cạnh tranh đó.Vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh
để phát triển đã trở thành mối quan tâm hàng đầu, là vấn đề rất cấp thiết của công
ty. Trên tinh thần đó tác giả chọn vấn đề “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng
cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần VIWASEEN 6” làm đề tài nghiên
cứu của mình.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh
của công ty Cổ phần VIWASEEN 6.
- Phạm vi nghiên cứu: Lĩnh vực hoạt động của Công ty khá rộng gồm sản
xuất kinh doanh nước sinh hoạt, nước khoáng, vật liệu xây dựng, thiết bị và phụ
tùng chuyên ngành cấp thoát nước, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng Trong
phạm vi đề tài này, luận văn đi sâu nghiên cứu lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của
Công ty sản xuất kinh doanh nước sạch, nước khoáng, vật liệu xây dựng, thiết bị và
của doanh nghiệp từ đó chỉ ra những vấn đề cần quan tâm khi xây dựng chiến lược
cạnh tranh cho doanh nghiệp.
- Trên cơ sở phân tích thực trạng, luận văn cho thấy một bức tranh toàn cảnh về
năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần VIWASEEN 6, điểm mạnh, điểm yếu và
nguyên nhân của thực trạng đó. Từ đó thấy được cơ hội và thách thức của công ty
- Phân tích mô hình từ đó đề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh cho công ty.
VII. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài dự kiến thực hiện các nội dung nghiên cứu
sau đây:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương II : Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần
VIWASEEN 6
Chương III: Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
của Công ty Cổ phần VIWASEEN 6 1
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. CẠNH TRANH VÀ SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm và phân loại cạnh tranh
1.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi sự vật, hiện tượng đều chứa
đựng mối quan hệ biện chứng, chúng tác động qua lại lẫn nhau, làm nền tảng cho sự
phát triển của nhau, đồng thời cũng phủ định, đấu tranh loại trừ lẫn nhau để đảm
bảo cho sự tồn tại của bản thân. Quá trình đó đòi hỏi mỗi sự vật hiện tượng đều phải
tự bảo vệ và hoàn thiện chính mình. Vì thế khái niệm cạnh tranh tồn tại trong quá
Schumpeter – nhà kinh tế học người Áo: Cạnh tranh bằng sản phẩm mới, bằng kỹ
thuật mới, bằng nguồn cung ứng mới và bằng hình thức tổ chức mới. Còn C.Mác,
mặc dù không có lý thuyết cạnh tranh riêng, nhưng lý luận cạnh tranh của ông giữ
vai trò độc lập quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển lý luận cạnh
tranh. Ông cho rằng: Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt
giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện tốt nhất trong sản xuất và tiêu
thụ nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch.
Ngày nay, một số nhà khoa học Việt Nam đã đề cập đến cạnh tranh và cho
rằng: “Thực chất của vấn đề cạnh tranh là vấn đề giành giật lợi thế về giá cả hàng
hóa, dịch vụ và đó là con đường, là phương thức để giành lấy lợi nhuận cao cho các
chủ thể kinh tế”. Khái niệm này đã chỉ rõ giá cả là công cụ quan trọng, không thể
thiếu của cạnh tranh – dù là cạnh tranh ở dạng thức nào. Nó cũng chỉ ra mục đích
cuối cùng của bất kỳ hành vi cạnh tranh nào cũng là việc tối đa hóa lợi nhuận.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, “Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa
những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, giữa các nhà kinh doanh
trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều
kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”.
Trên góc độ đối tượng kinh tế chính trị: “Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà ở
đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn
để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là nhằm chiếm lĩnh thị trường, 3
giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, tiêu thụ hàng hóa có lợi
nhất”.
Từ các quan niệm về cạnh tranh nêu trên, có thể thấy rằng: Để xác định khái
niệm cạnh tranh trước hết phải xác định góc độ của người nghiên cứu cạnh tranh,
tránh đưa ra các khái niệm quá chung chung, ít ý nghĩa thực tiễn. Sau nữa, khái
niệm ít nhất phải chỉ ra được chủ thể cạnh tranh, tính chất, phương thức và mức độ
của quá trình cạnh tranh. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh, nhưng
tế thị trường sức cung lớn hơn sức cầu rất nhiều. Địa vị của người tiêu dùng đã thay
đổi. Họ trở thành “ Thượng đế” và là người quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp.
Bởi chỉ khi doanh nghiệp có khách hàng thì mới bán được sản phẩm → thu được lợi
nhuận → tái sản xuất mở rộng. Đặc biệt đời sống ngày một nâng cao thì nhu cầu về
hàng hóa cũng nâng lên. Sản phẩm muốn bán được phải đảm bảo vấn đề chất lượng
và an toàn cho sức khỏe. Do vậy, người bán luôn phải ganh đua để giành lợi thế về
phía mình.
b. Căn cứ vào tính chất và mức độ cạnh tranh
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Cạnh tranh hoàn hảo là tình trạng cạnh tranh trong đó giá cả của một loại
hàng hóa là không đổi trong toàn bộ các địa danh của thị trường, bởi vì có nhiều
người mua và người bán, họ có thông tin đầy đủ về các điều kiện của thị trường.
Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, các yếu tố sản xuất được tự do luân chuyển từ
ngành này sang ngành khác, chi phí vận tải không đề cập tới nên coi như bằng không.
Cạnh tranh hoàn hảo muốn tồn tại phải thỏa mãn 4 đặc điểm sau:
- Có rất nhiều chủ thể tham gia trên thị trường. Không ai có đủ sức mạnh để
chi phối thị trường.
- Thông tin trên thị trường là minh bạch và kịp thời
- Mức giá do thị trường xác định dựa trên quy luật cung - cầu
- Rào cản gia nhập cũng như rút khỏi thị trường là rất nhỏ
Đây là thị trường ít gặp trong thực tế mà chỉ tồn tại trên lý thuyết kinh tế.
Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo
Là thị trường mà phần lớn sản phẩm không đồng nhất với nhau. Mỗi một loại
sản phẩm mang một nhãn hiệu và đặc tính khác nhau dù xem xét về chất lượng thì 5
sự khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể nhưng mức giá mặc định cao hơn
rất nhiều. Hình thức thị trường này phổ biến trên thực tế ở đó doanh nghiệp nào có
đủ sức mạnh có thể chi phối được giá cả của sản phẩm thông qua hình thức quảng
hơn các ngành khác. Điều đó dẫn tới tình trạng nhiều người sản xuất kinh doanh ở
những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận thấp có xu hướng chuyển dịch sang sản xuất
kinh doanh ở những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. Đó chính là biện pháp để thực
hiện cạnh tranh giữa các ngành. Kết quả là những ngành trước kia có tỷ suất lợi
nhuận cao sẽ thu hút các nguồn lực, quy mô sản xuất tăng. Do đó cung vượt quá cầu
làm cho giá cả hàng hóa có xu hướng giảm xuống, làm tỷ suất lợi nhuận giảm.
Ngược lại những ngành trước đây có tỷ suất lợi nhuận thấp khiến cho một số nhà
đầu tư rút vốn chuyển sang lĩnh vực khác làm cho quy mô sản xuất của ngành này
giảm, dẫn tới cung nhỏ hơn cầu, làm cho giá cả hàng hóa tăng và tỷ suất lợi nhuận
tăng.
1.1.2. Vai trò của cạnh tranh
a) Vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế quốc dân:
Cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế nâng cao năng suất lao động xã hội.
Một nền kinh tế mạnh là nền kinh tế mà các tế bào của nó là các doanh nghiệp phát
triển có khả năng cạnh tranh cao. Tuy nhiên ở đây cạnh tranh phải là cạnh tranh
hoàn hảo, cạnh tranh lành mạnh, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để cùng phát
triển, cùng đi lên thì mới làm cho nền kinh tế phát triển bền vững. Còn cạnh tranh
độc quyền sẽ ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế, nó tạo ra môi trường kinh doanh
không bình đẳng dẫn đến mâu thuẫn về quyền lợi và lợi ích kinh tế trong xã hội,
làm cho nền kinh tế không ổn định. Vì vậy, Chính phủ cần ban hành lệnh chống độc
quyền trong cạnh tranh, trong kinh doanh để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Cạnh tranh hoàn hảo sẽ đào thải các doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả. Do đó
buộc các doanh nghiệp phải lựa chọn phương án kinh doanh có chi phí thấp nhất,
mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Như vậy cạnh tranh tạo ra sự đổi mới mang lại
sự tăng trưởng kinh tế.
b) Vai trò của cạnh tranh đối với người tiêu dùng:
Trên thị trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng diễn ra gay gắt thì
người được lợi nhất là khách hàng. Khi có cạnh tranh thì người tiêu dùng không 8
vận động đó thì tất yếu sẽ bị loại bỏ, không thể tồn tại. Chính vì vậy chấp nhận cạnh
tranh và tìm cách để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình chính là doanh nghiệp
đang tìm con đường sống cho mình.
1.1.3. Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.3.1. Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sản phẩm
thể hiện mức độ thỏa mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù
hợp với công dụng lợi ích của sản phẩm. Nếu như trước kia giá cả được coi là quan
trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó phải nhường chỗ cho tiêu chuẩn chất
lượng sản phẩm. khi có cùng một loại sản phẩm, Chất lượng sản phẩm nào tốt hơn,
đáp ứng và thõa mãn nhu cầu của người tiêu dùng thì họ sẵn sàng mua với mức giá
cao hơn. Nhất là trong nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triển của sản xuất,
thu nhập của người lao động ngày càng nang cao, họ có đủ điều kiện để thõa mãn
nhu cầu của mình, cái mà họ cần là chất lượng và lợi ích sản phẩm đem lại. Nếu nói
rằng giá cả là yếu tố khách hàng không cần quan tâm đến là hoàn toàn sai bởi giá cả
là một trong những yếu tố quan trọng để khách hàng tiêu dùng cho phù hợp với mức
thu nhập của mình. Điều mong muốn của khách hàng và bất cứ ai có nhu cầu mua
hay là đảm bảo được hài hòa giữa chất lượng và giá cả.
Để sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng ở hiện tại
và trong tương lai thì nâng cao chất lượng sản phẩm là điều cần thiết. Nâng cao chất
lượng sản phẩm là sự thay đổi chất liệu sản phẩm hoặc thay đổi công nghệ chế tạo
đảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá trình tiêu dùng sản phẩm là việc cải tiến
sản phẩm có nhiều chủng loại, mẫu mã, bền hơn và tốt hơn. Điều này làm cho
khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ thu được ngày càng tăng lên khi duy trì tiêu
dùng sản phẩm của doanh nghiệp, làm tăng lòng tin và sự trung thành của khách
hàng đối với doanh nghiệp.
nhuận thu được nhiều hơn. Với một mức giá thấp hơn mức giá thị trường, chính sách
này được áp dụng khi sản xuất muốn tập trung một lượng hàng hóa lớn, thu hồi vốn
và lời nhanh. Không ít doanh nghiệp đã thành công khi áp dụng chính sách định giá
thấp. Họ chấp nhận giảm sút quyền lợi trước mắt đến lúc có thể để sau này chiếm thị
trường rộng lớn hơn, với khả năng tiêu thụ tiềm tàng. Định giá thấp giúp doanh 10
nghiệp ngay từ đầu có một chỗ đứng nhất định để định vị vị trí của mình từ đó thâu
tóm khách hàng và mở rộng thị trường. Với chính sách định giá cao là ấn định giá
bán sản phẩm cao hơn giá bán sản phẩm cùng loại ở thị trường hiện tại khi mà lần
đầu tiên người tiêu dùng chưa biết chất lượng của nó nên chưa có cơ hội để so sánh,
xác định mức giá của sản phẩm này là đắt hay là rẻ. Chính sách này được áp dụng khi
nhu cầu thị trường lớn hơn cung hoặc khi doanh nghiệp hoạt động trong thị trường
độc quyền, hoặc khi bán những mặt hàng quý hiếm cao cấp ít có sự nhạy cảm về giá.
Như vậy, để quyết định sử dụng chính sách giá nào cho phù hợp và thành
công khi sử dụng nó thì doanh nghiệp cần cân nhắc và xem xét kỹ lưỡng xem mình
đang ở trong tình thế nào thuận lợi hay không thuận lợi, nhất là nghiên cứu tiêu
dùng và tâm lý khách hàng cũng như cần phải xem xét các chiến lược các chính
sách giá mà đối thủ đang sử dụng.
1.1.3.3. Cạnh tranh bằng sự khác biệt về sản phẩm, dịch vụ
Trong giai đoạn phát triển của marketing hiện đại, nhiều doanh nghiệp đã lựa
chọn phương thức cạnh tranh dựa trên sự khác biệt nhằm tạo ấn tượng đối với khách
hàng. Các doanh nghiệp theo đuổi phương thức này tiến hành mở rộng chủng loại
sản phẩm, thêm vào những đặc tính mới, thay đổi màu sắc, kiểu dáng…nhằm tạo ra
sự khác biệt hóa sản phẩm của họ so với đối thủ cạnh tranh. Trong điều kiện doanh
nghiệp chưa tạo được tính độc đáo của sản phẩm thì có thể sử dụng các phương
thức khác như: thay đổi phương thức phục vụ, thanh toán, các dịch vụ sau bán
hàng… Các phương thức trên sẽ thực sự trở thành công cụ cạnh tranh khi đảm bảo
nhanh, chính xác, linh động và đa dạng nhằm tạo ra sự tiện lợi cho khách hàng
đóng một vai trò quan trọng bởi khi doanh nghiệp bắt đầu sản xuất kinh doanh,
doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng đang có
xu hướng tiêu dùng những sản phẩm gi? Thu thập thông tin thông qua sự phân tích
và đánh giá doanh nghiệp sẽ đi đến quyết định sản xuất cái gi? Kinh doanh những gì
mà khách hàng cần, khách hàng có nhu cầu. Trong khi thực hiện hoạt động kinh
doanh thì doanh nghiệp thường sử dụng các chính sách bán hàng thông qua các hình
thức quảng cáo, truyền bá sản phẩm đến người tiêu dùng. Kết thúc quá trình bán
hàng, để tạo uy tín hơn nữa đối với khách hàng, doanh nghiệp cần thực hiện các
hoạt động dịch vụ trước khi bán, trong và sau khi bán. 12
Như vây chính sách marketing đã xuyên suốt trong quá trình hoạt động cua
doanh nghiệp, nó vừa có tác dụng chính và tác dụng phụ để hỗ trợ cho chính sách
khác. Do vậy chính sách marketing không thể thiếu được trong bất cứ hoạt động
nào của doanh nghiệp.
1.1.4. Khái niệm và sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.4.1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Có nhiều khái niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh: “Năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp là khả năng để giành thắng lợi trước các đối thủ cạnh tranh trên
các mặt: chất lượng, giá cả và dịch vụ giao hàng, sử dụng hàng hóa. Người chiến
thắng trong cạnh tranh gọi là người có năng lực cạnh tranh cao hơn”. Trong khi đó,
lại có quan niệm cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tất cả tiềm
năng, nguồn lực mà doanh nghiệp có thể sử dụng để duy trì và phát triển lâu dài vị
trí của mình trên thị trường có cạnh tranh”. Còn M.Porter lại đưa ra khái niệm cạnh
tranh mở rộng, năng lực cạnh tranh của các hãng được quyết định bởi sức mạnh của
các lực lượng cạnh tranh trong ngành. Các lực lượng cạnh tranh trong ngành bao
gồm: các đối thủ cạnh tranh tiềm năng; sản phẩm thay thế, người cung ứng, khách
hàng và đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành. Cạnh tranh giữa các nhà sản xuất
trong một ngành công nghiệp được coi là cạnh tranh trực tiếp và là vấn đề cốt lõi
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền
sản xuất hàng hóa, là một yêu cầu bắt buộc trong thị trường. Sản xuất hàng hóa
càng phát triển, hàng hóa bán ra càng nhiều, số lượng người cung cấp càng đông thì
cạnh tranh càng gay gắt. Kết quả cạnh tranh sẽ làm một số doanh nghiệp bị thua
cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường, trong khi một số doanh nghiệp vẫn tồn tại và phát
triển mạnh hơn. Cũng chính nhờ sự cạnh tranh không ngừng mà nền kinh tế thị
trường vận động theo xu hướng ngày càng cao, từ đó nâng cao năng suất lao động
xã hội – yếu tố đảm bảo cho sự thành công của mỗi quốc gia trên con đường phát
triển. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh diễn ra ở mọi lúc mọi nơi không phụ
thuộc vào ý muốn của riêng ai, cạnh tranh trở thành một quy luật quan trọng thúc
đẩy sự phát triển. Ở đâu có nền kinh tế thị trường thì ở đó có cạnh tranh. Bất kỳ một
doanh nghiệp nào khi tham gia vào kinh doanh trên thị trường muốn doanh nghiệp
mình tồn tại và đứng vững thì phải chấp nhận cạnh tranh. Trong giai đoạn hiện nay 14
do tác động của khoa học kỹ thuật và công nghệ, nền kinh tế nước ta đang ngày
càng phát triển, đời sống của người dân được cải tiến đáng kể, cùng với đó là nhu
cầu cũng được thay đổi lên một tầm cao mới. Để đáp ứng kịp thời nhu cầu đó,
doanh nghiệp phải không ngừng nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu của khách
hàng để từ đó tìm các biện pháp thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu đó thì mới có thể
cạnh tranh tốt được. Chính vì vậy, cạnh tranh là rất cần thiết đối với các doanh
nghiệp, nó giúp doanh nghiệp:
Tồn tại và đứng vững trên thị trường:
Cạnh tranh sẽ tạo môi trường kinh doanh và những điều kiện thuận lợi để
đáp ứng nhu cầu của khách hàng, làm cho khách hàng tin rằng sản phẩm của doanh
nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng nhất. Doanh
nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp đó mới có
khả năng tồn tại trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Cạnh tranh để phát triển.