BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
--------------
NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GAS
PETROLIMEX TRÊN THỊ TRƯỜNG YÊN BÁI
Chuyênngành: Quản trị kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN DANH NGUYÊN
HÀ NỘI – 2013
Trường đại học bách khoa Hà Nội
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu và áp dụng những kiến thức đã học vào thực
tiễn, đến nay, tôi đã hoàn thành xong cuốn luận văn của mình. Để có được kết
quả này là nhờ tới sự giảng dạy tâm huyết của các thầy cô giáo trường Đại học
Bách khoa Hà Nội, sự chỉ bảo nhiệt tình của TS Nguyễn Danh Nguyên và sự hỗ
trợ chân tình của Lãnh đạo Công ty cổ phần Gas Petrolimex tại Yên Bái.
Với tình cảm chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn đến:
Học viên
Nguyễn Thị Thanh Hương
Học viên: Nguyễn Thị Thanh hương
QTKD-2010B
Trường đại học bách khoa Hà Nội
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Nội dung
LPG
Khí dầu mỏ hóa lỏng
LĐ
Lao động
TNDN
Thu nhập doanh nghiệp
TNCN
Thu nhập cá nhân
Bảng 2.2: Năng suất lao động theo thành phần kinh tế 2000 - 2009
Bảng 2.3: Năng suất lao động Việt Nam so với một số nước ASEAN
Bảng 2.1: Tình hình biến động năng suất lao động tại công ty cổ phần Gas
Petrolimex
Bảng 2.4: Tình hình nhập khẩu một số mặt hàng chính năm 2012 so với năm
2011
Bảng 2.5: Biến động giá hàng hóa và dịch vụ giai đoạn 2010 - 2012
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp ảnh hưởng các yếu tố môi trường vĩ mô đến kinh
doanh của công ty cổ phần Gas Petrolimex Yên Bái
Bảng 2.3: Một số đối thủ cạnh tranh chủ yếu của Công ty cổ phần Gas
Petrolimex Yên Bái
Bảng 2.7: Giá trị nhập khẩu của ngành Gas giai đoạn 2007 - 2012
Bảng 2.9: Bảng tổng hợp ảnh hưởng của các yếu tố môi trường ngành đến việc
cung cấp sản phẩm và kinh doanh của Gas Petrolimex.
Học viên: Nguyễn Thị Thanh hương
QTKD-2010B
VIÖN KINH TẾ & QUẢN LÝ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Gas hay còn gọi là khí hóa lỏng LPG là một trong những loại khí hữu ích nhất
được con người đưa vào sử dụng phục vụ cho mọi mục đích như đun nấu, hàn xì và
phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Trong đó Gas Petrolimex được đánh giá là một trong
những thương hiệu uy tín nhất trên trhị trường Việt Nam. Cùng với sự phát triển không
Nghiên cứu kỹ và hệ thống hóa lý luận về cạnh tranh để áp dụng lý thuyết phân
tích thực trạng kinh doanh Gas hay còn gọi khí hóa lỏng (LPG) của Công ty cổ phần
Gas Petrolimex tại Yên Bái, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh
tranh của Công ty.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
-
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực trạng kinh doanh Gas hay còn gọi là
khí hóa lỏng (LPG) và sức cạnh tranh của Công ty cổ phần Gas Petrolimex tại Yên Bái.
-
Phạm vi nghiên cứu:
Môi trường sản xuất, kinh doanh khí hóa lỏng (LPG) .
Đặc điểm của Gas Petrolimex và xu hướng tiêu dùng của khách hàng
Tổng quan về hoạt động sản xuất kinh doanh Gas Petrolimex: thị phần, chất
lượng sản phẩm và năng lực hoạt động, các chế độ, chính sách (chính sách marketing,
chế độ đối với cán bộ công nhân viên, đối với khách hàng,...).
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của Công ty cổ phần Gas
Petrolimex.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
-
Phương pháp phân tích tổng hợp.
-
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của Công ty cổ phần
Gas Petrolimex tại Yên Bái.
6. NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN
Tên luận văn: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
Công ty cổ phần Gas Petrolimex trên thị trường Yên Bái.
Luận văn gồm có ba phần như sau:
- Chương I: Cơ sở lý luận chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh.
Phần này giới thiệu cơ sở lý thuyết về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh đồng
thời nêu lên sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Gas
Petrolimex tại Yên Bái.
- Chương II: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Gas
Petrolimex tại Yên Bái.
Phần này giới thiệu khái quát thực trạng sản xuất kinh doanh của Công ty; phân
tích các đối thủ cạnh tranh nhằm: phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty.
- Chương III: Định hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công
ty cổ phần Gas Petrolimex tại Yên Bái đến năm 2015.
Phần này nêu lên một số kiến nghị đối với Công ty và đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty.
Nguyễn Thị Thanh Hương
3
Quản Trị Kinh Doanh – 2010B
VIÖN KINH TẾ & QUẢN LÝ
4
Quản Trị Kinh Doanh – 2010B
VIÖN KINH TẾ & QUẢN LÝ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. Từ điển “Bách khoa
tri thức phổ thông” Tiếng Việt cũng giải thích rằng “cạnh tranh là sự ganh đua giữa
những nhà sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền
kinh tế nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”.
Theo chuyên gia kinh tế hàng đầu Micheal Porter (1996), cha đẻ của Học thuyết
Chiến lựợc kinh doanh: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là
tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh
nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong
ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quá giá cả có thể giảm đi.
1.1.1Vai trò của cạnh tranh trong kinh tế.
Cạnh tranh là một hiện tượng tự nhiên, là quy luật phổ biến của nền kinh tế thị
trường, nên quốc gia nào, doanh nghiệp nào khi tham gia thị trường đều phải cạnh
tranh và tuân thủ các quy luật của cạnh tranh. Trong hoạt động kinh tế nói chung, vai
trò cơ bản và to lớn nhất của cạnh tranh là làm cho giá cả hàng hóa giảm xuống, chất
lượng hàng hóa, sản phẩm ngày một nâng cao.
Qua thực tế, cạnh tranh nếu bị hạn chế sẽ gây lãng phí nhiều nguồn lực, làm giảm
tính năng động, sáng tạo và hiệu quả của mỗi con người cũng như của toàn xã hội.
Cạnh tranh không phải là sự hủy diệt mà là sự thay thế: thay thế người thiếu năng
lực bằng người có năng lực; thay thế bằng sản phẩm mới có chất lượng, giá cả và dịch
vụ tốt, hoàn thiện hơn; thay thế doanh nghiệp lãng phí nguồn lực sản xuất bằng doanh
khác nhau tùy theo nhiều tiêu chí khác nhau:
- Căn cứ vào phạm vi hoạt động ngành kinh tế:
+ Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh của một loại sản phẩm, dịch vụ.
+ Cạnh tranh giữa các ngành: là cạnh tranh giữa các doanh ng hiệp sản xuất kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau.
- Căn cứ vào tính pháp lý của cạnh tranh: gồm có hai loại cạnh tranh hợp pháp và cạnh
tranh bất hợp pháp.
- Căn cứ vào tính chất, mức độ can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế:
+ Cạnh tranh tự do: cạnh tranh trong một thị trường hoàn toàn tự do, không có sự điều
tiết của Nhà nước và pháp luật;
- Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước: cạnh tranh được định hướng, được bảo vệ
và giới hạn bởi các thể chế, chính sách và pháp luật.
+ Căn cứ vào mục đích, phương thức cạnh tranh: cạnh tranh được phân loại thành hai
loại: cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.
Nguyễn Thị Thanh Hương
6
Quản Trị Kinh Doanh – 2010B
VIÖN KINH TẾ & QUẢN LÝ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
+ Căn cứ theo chiến lược cạnh tranh: cạnh tranh trực diện và cạnh tranh không trực
diện.
+ Căn cứ vào hình thái cạnh tranh:
Nguyễn Thị Thanh Hương
7
Quản Trị Kinh Doanh – 2010B
VIÖN KINH TẾ & QUẢN LÝ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
bành trướng của các tập đoàn, công ty đa quốc gia thì cạnh tranh bằng chất lượng sản
phẩm càng trở nên khốc liệt.
Hình thức cạnh tranh qua sản phẩm có thể tận dụng tối đa lợi thế cạnh bên ngoài
như: chất lượng, tính độc đáo, mẫu mã, mức độ hoàn thiện của sản phẩm,…
Cạnh tranh thông qua mạng lưới kênh phân phối: Để có được uy tín, lòng tin
của khách hàng cũng như đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nhanh nhất thì việc thiết lập màng
lưới kênh phân phối hợp lý, hiệu quả sẽ là một “chất xúc tác” cạnh tranh cho doanh
nghiệp.
Cạnh tranh thông qua hoạt động xúc tiến quảng cáo: Quảng cáo là nghệ thuật
thu hút khách hàng, là công cụ để giới thiệu, quảng bá rộng rãi sản phẩm giúp doanh
nghiệp nâng cao năng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng . Nhưng thực tế cho thấy,
không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cả những yêu cầu của
khách hàng. Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này nhưng lại hạn chế về mặt
khác. Vấn đề cơ bản, là doanh nghiệp phải nhận biết được điều này và cố gắng phát
huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của
khách hàng. Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong một doanh nghiệp được biểu
hiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp như : Marketting, tài
chính, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thống thông tin ... Tuy nhiên để đánh giá năng
lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cần phải xác định được các yếu tố phản ánh năng
lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá
bằng cả định tính và định lượng.
Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những nghành, lĩnh vực khác
nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau. Mặc dù vậy, vẫn có thể
tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp bao
gồm : Giá cả sản phẩm và dịch vụ, chất lượng sản phẩm và bao gói, kênh phân phôi
sản phẩm và dịch vụ bán hàng, thông tin và xúc tiến thương mại, năng lực nghiên cứu
và phát triển, thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp, trình độ lao động, thị phần sản
phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần, vị thế tài chính, năng lực tổ chức và
quản trị doanh nghiệp.
1.2.1 Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Để có được năng lực cạnh tranh mạnh, doanh nghiệp phải trải qua một quá trình
xây dựng và củng cố bộ máy tổ chức, xây dựng và thực hiện tốt các chiến lược sản xuất
kinh doanh, bao gồm : Chiến lược kinh doanh, chiến lực nhân sự, chiến lược công
nghệ, chiến lược thị trường và đặc biệt là chiến lực cạnh tranh, tạo dựng môi trường
bên trong và bên ngoài tốt để làm cơ sở vững chắc cho việc thực hiện các chiến lược
trên, cũng như các hoạt động khác của doanh nghiệp. Tất cả các yếu tố trên đều có ảnh
Nguyễn Thị Thanh Hương
9
chức, quản lý của doanh nghiệp.
c. Năng lực marketing của doanh nghiệp.
Năng lực marketing của doanh nghiệp là khả năng nắm bắt nhu cầu thị trường.
Khả năng marketing tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu
Nguyễn Thị Thanh Hương
10
Quản Trị Kinh Doanh – 2010B
VIÖN KINH TẾ & QUẢN LÝ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
cầu của khách hàng. Ngoài ra còn phải kể tới các yếu tố khác như: tiêu thụ, khuyến
mãi, nghiên cứu thị trường… vì thế mà các dịch vụ bán hàng và sau bán hàng có vai trò
rất lớn đến tiêu thụ-vấn đề sống còn của doanh nghiệp.
d. Năng lực tài chính của doanh nghiệp.
Năng lực tài chính là yếu tố quan trọng trong sức mạnh cạnh tranh của doanh
nghiệp được thể hiện qua các tiêu chí cơ bản sau: quy mô vốn; khả năng huy động và
sử dụng hiệu quả nguồn vốn; năng lực tài chính.
Vốn là một yếu tố sản xuất cơ bản và là một yếu tố đầu vào của doanh nghiệp. Do
đó, sử dụng động vốn có hiệu quả, quay vòng vốn nhanh có ý nghĩa lớn trong việc
giảm chi phí vốn, giảm giá thành sản phẩm. Huy động vốn kịp thời để đáp ứng nhu cầu
về vật tư, nguyên liệu, thuê nhân công, mua sắm thiết bị, công nghệ, tổ chức hệ thống
bán lẻ… sẽ giúp doanh nghiệp duy trì ổn định và phát triển bền vững. Năng lực quản lý
tài chính cũng thể hiện cho uy tín của doanh nghiệp, nên việc duy trì năng lực tài chính
tốt là yêu cầu đầu tiên, bắt buộc cần phải có của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp muốn
nghiệp… cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Qua các phân tích về một vài yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp, có thể thấy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện qua rất nhiều
các yếu tố. Các yếu tố này có quan hệ, tác động và liên quan chặt chẽ đến nhau. Để
nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cần có các biện pháp nâng cao nhiều
yếu tố chứ không chỉ chú trọng tới một yếu tố riêng biệt (có thể tùy từng thời điểm để
có các biện pháp ưu tiên một số yếu tố nào hơn). Năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp, là sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố bên trong doanh nghiệp, song song với
việc tận dụng tốt các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp, nhằm nâng cao sức mạnh cạnh
tranh tổng hợp của doanh nghiệp. Có như vậy, doanh nghiệp mới có khả năng duy trì
sự phát triển lâu dài và liên tục.
1.2.1.2 Nhóm các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp.
Có rất nhiều các nhân tố bên ngoài tác động tới doanh nghiệp và sức cạnh tranh
của doanh nghiệp sau:
* Môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô là môi trường rộng lớn bao gồm nhiều nhân tố ảnh hưởng va tác
động đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Các nhân tố này thường thì doanh
nghiệp không thể kiểm soát được nhưng có thể dự báo để biến những khó khăn, thuận
lợi do nó gây ra để biến thành các cơ hội kinh doanh của mình. Các nhân tố quan trọng
trong môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành Gas bao gồm:
Nguyễn Thị Thanh Hương
12
Quản Trị Kinh Doanh – 2010B
VIÖN KINH TẾ & QUẢN LÝ
13
Quản Trị Kinh Doanh – 2010B
VIÖN KINH TẾ & QUẢN LÝ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- Ảnh hưởng của đối thủ cạnh tranh: Đối với ngành Gas sự có mặt của các đối thủ
tham gia trong cùng một thị trường có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của doanh
nghiệp. Vì vậy doanh nghiệp phải đánh giá và phân tích được các điểm mạnh, điểm
yếu cũng như thách thức hay cơ hội của mình và của đối thủ để góp phần quan trọng
trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mình.
- Ảnh hưởng của nhà cung cấp: Nguồn nguyên liệu đầu vào của nhà cung cấp ảnh
hưởng rất lớn đến doanh nghiệp như: nguồn có luôn ổn định không, chất lượng có tốt
không, cung ứng có kịp thời không ... tất cả các yếu tố đó đều ảnh hưởng rất lớn đến
năng lực cạnh tranh của ngành.
- Ảnh hưởng của khách hàng: Thói quen, sở thích của khách hàng truyền thống cũng
như khách hàng tiềm năng ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển và chiếm lĩnh thị phần
, thị trường của doanh nghiệp.
- Ảnh hưởng của đối thủ tiềm ẩn: Sự gia nhập của đối thủ tiềm ẩn sẽ là mối đe dọa mất
đi thị phần của sản phẩm cũng như mất đi thị trường của doanh nghiệp.
- Ảnh hưởng của sản phẩm thay thế: Các sản phẩm thay thế của ngành Gas như: Điện,
than, dầu, củi tất cả những sản phẩm trên có thể là sự thách thức và là mối đe dọa đối
với nghành.
1.2.2 Các công cụ phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Có rất nhiều tiêu chí hay mô hình phân tích để có thể phân tích và đánh giá năng
lực cạnh tranh của một doanh nghiệp. Tuy nhiên tùy thuộc vào đặc điểm của từng
Cường độ cạnh tranh
Quyền lực của khách
NHÀ
CUNG CẤP
Quyền lực của các nhà cung
Đe dọa của người nhập mới
KHÁCH
HÀNG
Đe dọa của sản phẩm thay thế
SẢN PHẨM THAY THẾ
Hình 1.1. Mô hình năm áp lực của Micheal E. Porter
[Nguồn: Micheal E. Porter, Chiến lược cạnh tranh, 1996]
Tất cả năm yếu tố cạnh tranh nói trên cùng nhau quyết định mức độ cạnh tranh và
khả năng kiếm lợi nhuận của một ngành nghề, và yếu tố nào có mức độ tác động lớn
nhất sẽ nắm quyền kiểm soát và đóng vai trò then chốt từ quan điểm của việc xây
Nguyễn Thị Thanh Hương
15
Quản Trị Kinh Doanh – 2010B
phẩm thay thế càng lớn.
Yếu tố 3. Quyền lực thương thuyết của khách hàng
Nguyễn Thị Thanh Hương
16
Quản Trị Kinh Doanh – 2010B
VIÖN KINH TẾ & QUẢN LÝ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Khách hàng luôn cố gắng để mua với giá rẻ, đòi hỏi một dịch vụ tốt hơn hoặc
mức chất lượng cao hơn. Hành động này làm giảm lợi nhuận của ngành và kết quả đó
phụ thuộc vào quyền lực thương thuyết của khách hàng. Một nhóm người mua sẽ có
một sức mạnh đối với một ngành nghề nếu có những điều kiện sau:
Mua với khối lượng hàng hóa lớn so với doanh số của người bán.
Số lượng mua chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng phí tổn người mua bỏ ra.
Sản phẩm thuộc loại hàng chuẩn hoặc không có tính dị biệt.
phí đầu vào, sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp cần khôn khéo chuyển quyền
lực thương lượng của nhà cung cấp thành quyền lực của mình.
Yếu tố 5. Cạnh tranh giữa các đối thủ cùng ngành.
Trong một ngành sản xuất, các doanh nghiệp thường cạnh tranh với nhau về chất
lượng sản phẩm, giá cả, tiến độ… Sự đối đầu giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành
hay mật độ cạnh tranh là kết quả của một số yếu tố có tương tác qua lại với:
-
Số lượng đối thủ cạnh tranh nhau quá nhiều hoặc đã cân bằng nhau.
-
Tăng trưởng của ngành thấp.
Nguyễn Thị Thanh Hương
17
Quản Trị Kinh Doanh – 2010B
VIÖN KINH TẾ & QUẢN LÝ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
Chi phí cố định hoặc lưu trữ, bảo quản cao.
-
đưa ra những chính sách, hoạt động kinh doanh phù hợp.
a) Yếu tố Thể chế- Luật pháp.
Đây là yếu tố có tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh doanh trên một lãnh thổ,
các yếu tố thể chế, luật pháp có thể uy hiếp đến khả năng tồn tại và phát triển của bất
cứ ngành nào. Khi kinh doanh trên một đơn vị hành chính, các doanh nghiệp sẽ phải
bắt buộc tuân theo các yếu tố thể chế luật pháp tại khu vực đó.
Nguyễn Thị Thanh Hương
18
Quản Trị Kinh Doanh – 2010B
VIÖN KINH TẾ & QUẢN LÝ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- Sự bình ổn: Chúng ta sẽ xem xét sự bình ổn trong các yếu tố xung đột chính trị, ngoại
giao của thể chế luật pháp. Thể chế nào có sự bình ổn cao sẽ có thể tạo điều kiện tốt
cho việc hoạt động kinh doanh và ngược lại các thể chế không ổn định, xảy ra xung đột
sẽ tác động xấu tới hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ của nó.
- Chính sách thuế: Chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu, các thuế tiêu thụ, thuế thu
nhập... sẽ ảnh hưởng tới doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Các đạo luật liên quan: Luật đầu tư, luật doanh nghiệp,luật lao động, luật chống độc
quyền, chống bán phá giá ...
- Chính sách: Các chính sách của nhà nước sẽ có ảnh hưởng tới doanh nghiệp, nó có
thể tạo ra lợi nhuận hoặc thách thức với doanh nghiệp. Như các chính sách thương mại,
chính sách phát triển ngành, phát triển kinh tế, thuế, các chính sách điều tiết cạnh tranh,
bảo vệ người tiêu dùng...
văn hóa khác vào các quốc gia. Sự giao thoa này sẽ thay đổi tâm lý tiêu dùng, lối sống,
và tạo ra triển vọng phát triển với các ngành.
Bên cạnh văn hóa, các đặc điểm về xã hội cũng khiến các doanh nghiệp quan tâm
khi nghiên cứu thị trường, những yếu tố xã hội sẽ chia cộng đồng thành các nhóm
khách hàng, mỗi nhóm có những đặc điểm, tâm lý, thu nhập,... khác nhau.
d) Yếu tố công nghệ.
Cả thế giới vẫn đang trong cuộc cách mạng của công nghệ, hàng loạt các công
nghệ mới được ra đời và được tích hợp vào các sản phẩm, dịch vụ. Đặc biệt trong lĩnh
vực công nghệ thông tin, công nghệ truyền thông hiện đại đã giúp các khoảng cách về
địa lý, phương tiện truyền tải. Tuy nhiên khi nghiên cứu và phân tích về vấn đề này,
các chuyên gia thường có xu hướng lựa chọn hai nội dung cơ bản sau:
- Đầu tư của chính phủ, doanh nghiệp vào công tác R&D: việc kết hợp giữa các doanh
nghiệp và chính phủ nhằm nghiên cứu đưa ra các công nghệ mới, vật liệu mới... sẽ có
tác dụng tích cực đến nền kinh tế.
- Tốc độ, chu kỳ của công nghệ, tỷ lệ công nghệ lạc hậu.
Ngoài các yếu tố cơ bản trên, hiện nay khi nghiên cứu thị trường, các doanh nghiệp
phải đưa yếu tố toàn cầu hóa trở thành một yếu tố vĩ mô tác động đến ngành.
Mô hình PEST hiện nay đã được mở rộng thành P.E.S.L.T (bao gồm yếu tố:
Legal - pháp luật ) và S.T.E.E.P.L.E (Socical/Demographic, Techonogical, Economics,
Envirnomental, Policy, Legal, Ethical) và ngày càng hoàn thiện trở thành một chuẩn
mực không thể thiếu khi nghiên cứu môi trường bên ngoài của doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Thanh Hương
20
Quản Trị Kinh Doanh – 2010B