PHẦN MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, kinh tế Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to lớn,
tốc độ tăng trưởng GDP cao và ổn định vào tốp những nước đầu của thế giới. Đời
sống của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Nước ta đã thoát khỏi
tình trạng nước nghèo, có được những thành tựu to lớn này là có sự đóng góp công
sức của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và của tất cả các ngành các cấp, trong đó có sự
đóng góp to lớn của ngành nông nghiệp.
Nước ta vẫn được coi là nước nông nghiệp với khoảng trên 80% dân số sống ở
nông thôn và khoảng 74,6% lực lượng lao động làm nông nghiệp, có thể nói nông
nghiệp, nông thôn là bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của Việt Nam,
nông nghiệp đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, cung cấp nguyên liệu
cho công nghiệp, xuất khẩu nông sản đem lại nguồn ngoại tệ quan trọng cho nền kinh
tế, tạo việc làm và thu nhập cho đa số người dân, bên cạnh nông thôn là môi trường
sống của đa số nhân dân là nơi bảo tồn và phát triển các truyền thống văn hóa dân tộc.
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề phát triển nông nghiệp, nông
thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đồng thời xem đó là
nhiệm vụ chiến lược, là cơ sở để đảm bảo ổn định thực hiện chính trị - xã hội, sự phát
triển hài hòa và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước.
Chính nhờ được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước mà trong những
năm qua ngành nông nghiệp và nông thôn đã gặt hái được nhiều thành tựu hết sức
đáng kể, nông nghiệp Việt Nam không những đảm bảo tự cung, tự cấp mà còn trở
thành một cường quốc trên thế giới trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế Huyện nhà, xã An Cư những năm gần
đây nền kinh tế có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, tích cực. Tuy là một xã miền núi,
nguồn thu chủ yếu là nông nghiệp, nhưng với lợi thế là xã không bị ngập lũ, gần biên
giới Campuchia, gần chợ cửa khẩu Tịnh Biên, các khu du lịch,… tạo thuận lợi cho các
thành phần kinh tế phát triển, từ đó việc sản xuất, trao đồi hàng hóa trở nên sôi động
góp phần cho tăng trưởng kinh tế của địa phương.
1
Tuy nhiên với đặc thù là một xã nông nghiệp, tập quán sản xuất của người dân
còn lạc hậu chưa tương xứng với tiềm lực sẵn có của địa phương, từ đó đã làm ảnh
Nông nghiệp là ngành giữ vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
của quốc gia, cho dù quốc gia đó có nền kinh tế phát triển. Bởi vì đây là ngành sản
xuất và cung cấp cho con người những sản phẩm tối cần thiết cho cuộc sống, lương
thực thực phẩm, những sản phẩm mà với trình độ khoa học kỹ thuật hiện nay chưa
một ngành nào có thể thay thế được. Lương thực thực phẩm là yếu tố đầu tiên của sự
tồn tại và phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước.
* Vai trò của nông nghiệp.
Nông nghiệp nông thôn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế -
xã hội của mỗi nước và là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới bởi vì đó là
lĩnh vực rộng lớn sản xuất ra lương thực, thực phẩm và nguyên liệu nông nghiệp gắn
liền với sự tồn tại và phát triển của nhân loại.
Ở nước ta hiện nay, nông nghiệp có vai trò ngày càng to lớn trong việc đảm bảo
an ninh lương thực, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên của đất nước và
xóa đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cụ thể:
3
Nông nghiệp, nông thôn và nông dân là vấn đề có vò trí chiến lược trong
sự nghiệp đổi mới đất nước theo đònh hướng xã hội chủ nghóa: Nhận thức được vò
trí, tầm quan trọng của NN,NT, Đảng ta đã khởi xướng đường lối đổi mới, bắt đầu
từ NN, NT. Đường lối đúng đắn đó đã làm thay đổi diện mạo của đất nước, tạo ra
thế và lực mới để tiếp tục thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới. Từ một nước
thiếu lương thực nước ta trở thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai thế
giới…Hiện nay, khu vực nông thôn vẫn còn khoảng 80% dân số và 70% lao động cả
nước dang dựa chủ yếu vào Sản xuất nơng nghiệp.
+ Nông nghiệp, nông thôn và nông dân có vai trò và tác dụng to lớn trong việc
đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước: Nước ta có khoảng 70% dân số và khoảng 60%
lao động sống ở nông thôn và làm nông nghiệp; NN, NT đóng vai trò quan trọng
trong quá trình túy lũy vốn cho CNH, HĐH; Cung cấp nguyên liệu cho cơng nghiệp
chế biến; Cung cấp những mặt hàng xuất khẩu thu ngoại tệ; là thò trường tiêu thụ
rộng lớn; cung cấp nguồn nhân lực quan trọng để thực hiện CNH, HĐH.
+ Kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta cho thấy : Đẩy mạnh phát triển
trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an
ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường
sinh thái của đất nước.
- Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ,
gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong mối quan hệ mật thiết giữa
nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển,
xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát
triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp
là then chốt.
5
- Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù
hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả
các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các
điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất
trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của
Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho
nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân.
- Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống
chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự
cường vươn lên của nông dân. Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoà thuận, dân
chủ, có đời sống văn hoá phong phú, đàm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát
triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục đưa ra những quan điểm
chỉ đạo đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đại hội XI đã khẳng định
những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung, những kết quả đạt được
của nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói riêng và nhấn mạnh: “Sự phát triển ổn định
trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực đã đảm bảo an ninh lương thực
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Ở XÃ AN CƯ,
HUYỆN TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG HIỆN NAY
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội xã An Cư.
An Cư là một trong 14 xã, thị trấn của huyện Tịnh Biên, Tỉnh An Giang, là xã
miền núi, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số Khmer sinh sống, đại bộ phận theo
đạo phật giáo Nam tông; là xã khó khăn, đời sống nhân dân chủ yếu dựa vào sản xuất
nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi bò). Toàn xã có tổng diện tích tự nhiên là 4.230
ha, bằng 11,9% so với tổng diện tích tự nhiên của Huyện; trong đó diện tích đất nông
7
nghiệp là 3.787ha chiếm 89,52%% diện tích tự nhiên của xã, đất lâm nghiệp là 1.212
ha, đất nuôi trồng thủy sản là 4,32 ha.
Địa giới hành chính của xã được xác định như sau:
+ Phía Đông giáp xã Văn Giáo, Vĩnh Trung và Thị trấn Chi Lăng;
+ Phía Tây giáp xã An Nông và xã Lê Trì ( huyện Tri Tôn );
+ Phía Nam giáp xã An Hảo;
+ Phía Bắc giáp Trị trấn Tịnh Biên, xã An Phú.
Toàn xã có 06 ấp với 59 tổ an ninh nhân dân. Dân số của xã là 10.175 người
tương đương 2.463 hộ, trong đó người dân tộc thiểu số Khmer chiếm 75,65% dân số
toàn xã. Hộ nghèo toàn xã là 648 hộ, với 2751 khẩu, chiếm 26,31%, hộ ngưỡng nghèo
238 hộ với 1067 khẩu chiếm 9,66% so với tổng số hộ toàn xã.
Cơ sở vật chất trường lớp khang trang có đầy đủ bậc học từ mầm non đến trung
học cơ sở, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo
nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Huyện nhà.
Đa số nhân dân sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp (trồng lúa và chăn
nuôi). Tổng diện tích gieo trồng cả năm 4.663,5ha so cùng kỳ 2012 tăng 70 ha. Bao
gồm: 3.408 ha diện tích trồng lúa và hoa màu các loại 1.034,5 ha. Năng suất lúa bình
quân cả năm đạt 6 - 6,5 tấn/ha với tổng sản lượng lương thực cả năm đạt 20.719 tấn.
2.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp xã An Cư hiện nay
2.2.1. Những thành tựu đạt được về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
quy hoạch được vùng sản xuất đến năm 2015. Thành lập 03 tổ hợp tác sản xuất với
diện tích 21 ha: 01 tổ trồng thanh long ruột đỏ, 01 tổ trồng đậu phọng và 01 tổ nhân
giống lúa.
Thời gian gần đây do thời tiết thuận lợi, đồng thời người dân đã biết áp dụng tốt
các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng như: chương trình 3 giảm 3 tăng (trong
năm 2012 áp dụng được 840/782ha, đạt 107,4%), chương trình 01 phải 05 giảm (áp
dụng được 21ha), sạ thưa, sạ hàng, áp dụng cơ giới hóa trước, trong và sau thu
hoạch… nên diện tích xuống giống ngày càng tăng và thu hoạch trọn vẹn với năng
9
suất năm sau cao hơn năm trước. Đinh hướng cải tạo, nâng cấp 02 nhánh cấp I và cấp
II của vùng Trạm bơm 3/2 đạt tỷ lệ diện tích sản xuất nông nghiệp được tưới tiêu bằng
hệ thống trạm bơm điện.
Do điều kiện đặc thù về tình hình sản xuất nên diện tích đất nông nghiệp được
chia theo hai vùng như sau:
Vùng cao (không chủ động nước tưới tiêu): có diện tích đất sản xuất 1.408 ha
gồm hai khu vực;
Khu vực 1: là khu vực cặp theo triền núi cấm có diện tích đất sản xuất 800 ha
liên quan đến 03 ấp: Pô Thi, Chơn Cô, Soài Chếk.
Khu vực 2: là khu vực vùng cao Sóc Rè - Cây Khoa có diện tích đất sản xuất là
604 ha liên quan đến 03 ấp: Chơn Cô, Vĩnh Thượng, Bà Đen.
Đối với 02 khu vực này chủ yếu là đất gò nên chỉ sản xuất được 01 vụ lúa mùa
trên vì điều kiện sản xuất phụ thuộc vào thiên nhiên nên năng suất rất thấp so với vùng
khác, năng suất bình quân 3 - 3,5 tấn/ha, giống lúa mà bà con thường sử dụng là
Neàng Conl; IR 64; IR 50404; OM 1490 … trong khu vực vùng cao này còn có những
khu đất thấp diện tích khoảng 100 ha khi mùa mưa đến thì bà con nông dân tận dụng
nước mưa để xuống giống thêm vụ màu mà chủ yếu là trồng dưa hấu, đậu xanh, bí rợ.
Vùng đất thấp có đầu tư hệ thống tưới tiêu: vùng này có diện tích khoảng 1.000
ha chia ra hai khu vực:
Khu vực kênh tưới tiêu cấp I: (có hệ thống kênh nội đồng) có diện tích sản xuất
khoảng 500 ha liên quan đến 04 ấp: Pô Thi, Soài Chếk, Chơn Cô, Vĩnh Thượng. Khu
lợi thế sẵn có của địa phương, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, tiểu thủ công
nghiệp còn gặp nhiều khó khăn về vốn và thị trường tiêu thụ sản phẩm.
-Một bộ phận người dân chưa đổi mới tư duy sản xuất nông nghiệp, còn mang
nặng sản xuất theo tập quán cổ truyền, kinh nghiệm dân gian còn mang tính tự phát,
sản xuất chủ yếu nặng về số lượng mà chưa quan tâm đến chất lượng và giá thành sản
11
phẩm làm ra, từ đó chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường trong nước và thị trường
xuất khẩu.
-Thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi còn chậm, việc ứng
dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất chưa cao nhất là ứng dụng công nghệ
trong thu hoạch và sau thu hoạch, điện khí hóa tưới tiêu chưa ứng dụng rộng trên địa
bàn.
-Chưa xây dựng mô hình sản xuất dưới hình thức hợp tác xã, trang trại mà chỉ
có tổ hợp tác.
-Sản xuất nông nghiệp mới thực hiện việc thâm canh, chưa có quy hoạch tổng
thể để sản xuất nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao, đầu ra sản phẩm chưa ổn định.
-Về xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; một số diện tích ở vùng cao (nhánh
kênh cấp II) chưa có nước phục vụ tưới tiêu, do đó sản xuất nông nghiệp còn nhiều
khó khăn, nguyên nhân là do kinh phí đầu tư chưa có và đa số nhân dân còn nghèo
nên sức đóng góp còn hạn chế.
-Hàng năm số hộ dân còn nợ tiền điện khá lớn nên công ty điện lực An Giang
ngưng cung cấp điện làm ảnh hưởng đến hoạt động bơm tưới và quá trình sản xuất của
người dân.
-Một số hộ dân có đất canh tác tại xã An Cư nhưng thường trú tại xã Vĩnh
Trung và Văn Giáo nên gây trở ngại rất lớn trong công tác tuyên truyền vận động
người dân tuân thủ theo lịch bơm tưới và lịch thời vụ. Nông dân chưa mạnh dạn
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi nên chưa thể hiện hết trách nhiệm của người
nông dân.
-Việc sind hóa đàn bò hiện nay còn gặp nhiều khó khăn do chưa có con giống
chuẩn để gieo tinh.
lớn lại là khu vực đất cao, hệ thống trạm bơm không cung cấp đủ nước phục vụ cho bà
con sản xuất, điện khí hóa tưới tiêu chưa ứng dụng rộng trên địa bàn.
-Một bộ phận nông dân còn sử dụng giống lúa chất lượng thấp, khả năng phòng
chống bệnh kém nên hiệu quả không cao.
13
-Dân số phần lớn là người dân tộc thiểu số Khmer từ đó phương thức sản xuất
còn lạc hậu, kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất kém, mặt bằng dân trí chưa cao, trình độ
chuyên môn thấp, nguồn nhân lực thiếu chưa nắm bắt kịp thời khoa học kỹ thuật, sự
bất đồng về ngôn ngữ vẫn còn nhiều đây chính là những cản trở cho quá trình phát
triển của địa phương.
-Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi còn chậm, giá cả thiếu ổn
định, thị trường tiêu thụ còn nhiều bất cập, tình trạng mất mùa được giá và ngược lại
vẫn diễn ra thường xuyên.
-Nguồn vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp còn hạn chế, chủ yếu dựa vào
sự đóng góp của quần chúng nhân dân, nhưng đa số nhân dân trên địa bàn xã thuộc hộ
nghèo, hộ khó khăn nên mức đóng góp cũng hạn chế.
14
Chương 3:
MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP XÃ AN CƯ
HUYỆN TỊNH BIÊN ĐẾN NĂM 2015
3.1. Mục tiêu.
3.1.1. Mục tiêu chung.
Đại hội Đảng bộ huyện Tịnh Biên lần thứ X, nhiệm kỳ: 2010-2015 đã nêu rõ:
“Tiếp tục mở rộng các loại hình liên kết, hợp tác, trang trại, nghiên cứu mô hình cụm
nông nghiệp kỹ thuật cao, khép kín giữa các khâu tổ chức sản xuất - tiêu thụ. Đẩy
mạnh cơ khí hoá và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ sinh học, phấn đấu đạt nền nông
nghiệp sạch, sản xuất hàng hoá lớn, theo hướng công nghiệp hiện đại, hiệu quả cao,
bền vững”.
Thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ huyện Tịnh Biên, Đảng Uỷ, HĐND, UBND
xã An Cư đã chủ trương: Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới, nâng cao
hoạch gắn với hệ thống khuyến nông, khuyến ngư, công tác thú y và bảo vệ thực vật.
3.2. Những giải pháp cơ bản phát triển nông nghiệp xã An Cư, huyện Tịnh
Biên đến năm 2015.
3.2.1. Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đồng thời
từng bước phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ:
Đẩy nhanh tiến độ quy hoạch sản xuất nông nghiệp trên cơ sở nhu cầu thị
trường và lợi thế từng tiểu vùng, sử dụng đất nông nghiệp tiết kiệm, có hiệu quả, duy
trì diện tích đất lúa. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng khoa học -
công nghệ hiện đại, công nghệ sinh học, thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, thông tin hoá, thay
thế lao động thủ công, thay đổi tập quán canh tác lạc hậu để sử dụng có hiệu quả đất
đai, tài nguyên, lao động, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh
của nông sản.
16
Phát triển ngành trồng trọt, thực hiện đầu tư thâm canh, áp dụng các giống và
quy trình sản xuất mới có năng suất, chất lượng cao; hoàn thiện hệ thống tưới tiêu;
đẩy nhanh cơ giới hoá đồng bộ các khâu sản xuất; Bố trí lại cơ cấu cây trồng, mùa vụ
và giống để giảm thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh phù hợp với điều kiện của tiểu từng
vùng.
Phát triển chăn nuôi theo phương thức công nghiệp, bán công nghiệp, an toàn
dịch bệnh, phù hợp với lợi thế của địa phương; áp dụng quy trình chăn nuôi tiên tiến
để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả; tăng cường công tác thú y, phòng chống
dịch bệnh, nhất là chăn nuôi bò.
Phát triển mạnh công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ ở địa phương theo
quy hoạch. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các cơ sở công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Phát triển nhanh và nâng cao chất lượng các loại dịch
vụ phục vụ sản xuất, đời sống của dân cư nông thôn.
3.2.2 .Phát triển sản xuất nông nghiệp theo chiều sâu
Tập trung quy hoạch từng vùng chuyên canh, tổ chức sản xuất đúng thời vụ,
khai thác tối đa diện tích sản xuất vùng cao, phát huy hiệu quả hệ thống tưới tiêu kênh
3/2, xây dựng hệ thống tưới tiêu nội đồng kênh cấp II tăng diện tích sản xuất, phấn
nhân dân được vay từ các nguồn ưu đãi nhằm giải quyết việc làm, xoá đói giảm
nghèo, trong chăn nuôi đẩy mạnh phát triển đàn bò nhất là bò lai sind, chăn nuôi theo
hướng sản xuất bò hàng hoá. Bên cạnh khuyến khích phát triển chăn nuôi theo phương
thức công nghiệp, bán công nghiệp, bảo đảm an toàn và bảo bệ môi trường, phù hợp
với nhu cầu tiêu thụ của thị trường, tăng cường kiểm soát để phát triển chăn nuôi bền
vững.
3.2.3. Tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.
Tiếp tục đầu tư các công trình thủy lợi theo hướng đa mục tiêu, nâng cao năng
lực tưới tiêu chủ động cho các loại cây trồng, trước hết cho lúa, cấp nước sinh hoạt
cho dân cư. Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý thuỷ lợi có hiệu quả, nâng hiệu suất
sử dụng các công trình thuỷ lợi.
18
Thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” từ đó vận động
nhân dân nâng cấp lộ nội bộ của các ấp, đồng thời tranh thủ sự đầu tư cấp trên xây
dựng nâng cấp láng nhựa lộ Sóc Rè - Cây Khoa và hương lộ 13 Ô Tứk Sa - Ba Xoài,
để việc vận chuyển hàng hóa nông sản của bà con nhà vườn được thuận tiện, dễ dàng
và nhanh chóng hơn.
3.2.4. Thực hiện chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất
nông nghiệp.
Tăng cường năng lực của hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, thú
y, bảo vệ thực vật và các dịch vụ khác ở địa phương.
Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức khoa học kỹ thuật sản xuất nông
nghiệp tiên tiến, hiện đại cho nông dân; đào tạo nghề cho bộ phận con em nông dân
để chuyển nghề, xuất khẩu lao động; đồng thời tập trung đào tạo nâng cao kiến thức
cho cán bộ quản lý, cán bộ cơ sở.
Kết hợp cùng trạm Khuyến nông, trạm Bảo vệ thực vật huyện thường xuyên
tổ chức các lớp khuyến nông, các mô hình điểm trình diễn về giống, cây trồng phù
hợp với vùng đất của địa phương, bên cạnh cũng truyền đạt kinh nghiệm, kỹ thuật
nhằm áp dụng khoa học công nghệ vào đồng ruộng hạn chế dịch bệnh, tăng năng suất
cây trồng.
Củng cố lại Ban điều hành sản xuất, thành lập thêm các câu lạc bộ nông dân
sản xuất kinh doanh giỏi để khuyến khích người dân làm giàu trên địa bàn xã, củng cố
các tổ liên kết sản xuất về lúa, màu, vườn. Kết hợp cùng phòng Nông nghiệp huyện
khảo sát quy hoạch phân lại vùng sản xuất, ưu tiên phát triển những loại cây trồng có
lợi thế.
Mặt trận các ban ngành đoàn thể mà nồng cốt là Hội Nông dân có kế hoạch tổ
chức họp dân để tuyên truyền vận động và phân công từng thành viên phụ trách kiểm
tra đôn đốc trong quá trình thực hiện của từng tổ liên kết, từng khu vực.
20
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận.
Nông nghiệp là một ngành kinh tế không chỉ đóng vai trò quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế trên bình diện cả nước mà cả ở mỗi địa phương như xã An Cư.
Nếu trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của xã nếu phân tích đúng thực trạng và
đề ra những giải pháp phù hợp sẽ là điều kiện quan trọng góp phần vào sự phát triển
kinh tế-xã hội của địa phương.
Trong thời gian qua, kinh tế của xã tăng trưởng khá nhanh và toàn diện, năm
sau luôn cao hơn năm trước, có cơ cấu kinh tế hợp lý, cụ thể, từng bước chuyển biến
21
tích cực nền nông nghiệp của xã, có năng suất cao, chất lượng sản phẩm khá, kết cấu
hạ tầng tương đối đáp ứng được nhu cầu của người dân, tiềm năng lợi thế của xã được
phát huy, nhiều nhân tố mới được hình thành, có sự đột phá trong khâu sản xuất mang
tính quyết định đem lại sự thành công trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông
thôn. Nhiều lĩnh vực xã hội cũng cải thiện rõ nét như: giải quyết việc làm, xoá đói
giảm nghèo, nâng cao thu nhập, đời sống nhân dân trong xã cũng được nâng lên tầm
cao mới, tạo lòng tin của nhân dân đối với công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước
ta. Tuy nhiên bên cạnh những thành quả đạt được vần còn tồn tại một số hạn chế yếu
kém như: tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa đồng bộ, chưa thật sự vững chắc, sự đầu tư
của các doanh nghiệp cho việc phát triển công nghiệp trên địa bàn xã chưa nhiều mà
đặc biệt là công nghệ chế biến và bảo quản các nông sản sau thu hoạch, vấn đề xã hội